Tổng quan về luận án

Nghiên cứu mang tên “Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du và ý nghĩa hiện thời của nó” do nghiên cứu sinh Đậu Thị Hồng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Đỗ Thị Hòa Hới tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số 62.02, năm 2021) là một công trình tiên phong trong việc kiến giải toàn diện di sản tư tưởng Nguyễn Du (1766 – 1820) dưới lăng kính triết học mác-xít và triết học giá trị học hiện đại.

Bối cảnh khoa học của đề tài xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thời đại toàn cầu hóa: khi nhân loại đối mặt với sự tha hóa nhân cách, khủng hoảng giá trị đạo đức và đứt gãy bản sắc văn hóa, việc quay về khảo sát các giá trị nhân văn truyền thống trở thành chìa khóa để định hình hệ giá trị con người. Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cụ thể được xác định: trong khi giới nghiên cứu văn học sử đã khai thác đồ sộ thi pháp và ngôn ngữ của Nguyễn Du, lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam vẫn thiếu vắng một công trình hệ thống hóa hoàn chỉnh hệ thống quan niệm nhân văn của ông từ bản thể luận (ontology), nhận thức luận (epistemology) đến giá trị luận (axiology), đồng thời chưa đối sánh thỏa đáng với lý thuyết quyền con người (human rights) đương đại.

Luận án xác lập 4 câu hỏi nghiên cứu và 4 giả thuyết khoa học cốt lõi:

  1. Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Những tiền đề kinh tế, chính trị, văn hóa – tư tưởng nào của Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX đã quy định sự hình thành tư tưởng nhân văn Nguyễn Du?
    • Giả thuyết 1 (H1): Sự sụp đổ của thiết chế quân chủ chuyên chế Lê - Trịnh cùng sự trỗi dậy của kinh tế hàng hóa sơ kỳ và phong trào nông dân Tây Sơn đã tạo ra xung lực hiện thực phá vỡ tính quy phạm của Nho giáo chính thống, thúc đẩy sự tự ý thức về cá nhân.
  2. Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Cấu trúc nội dung tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du được định hình qua những trụ cột khái niệm nào trong toàn bộ trước tác chữ Nôm và chữ Hán?
    • Giả thuyết 2 (H2): Tư tưởng nhân văn của ông cấu thành từ 4 trụ cột: tôn trọng sinh mệnh con người, tình thương yêu bao la đối với tha nhân, sự thấu cảm đặc biệt với thân phận phụ nữ tài hoa bạc mệnh, và tư tưởng đề cao giá trị cùng quyền sống, quyền tự do, bình đẳng.
  3. Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Giá trị đột phá và giới hạn lịch sử trong thế giới quan triết học của Nguyễn Du là gì khi đặt trong tọa độ tư tưởng Tam giáo đồng nguyên?
    • Giả thuyết 3 (H3): Nguyễn Du đã thực hiện bước chuyển từ phạm trù Nho giáo sang chủ nghĩa nhân văn hiện sinh và đạo đức thế tục, tuy nhiên vẫn chịu giới hạn định mệnh luận duy tâm của thuyết thiên mệnh và nghiệp báo.
  4. Câu hỏi nghiên cứu 4 (RQ4): Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du có giá trị ứng dụng cụ thể nào đối với công cuộc xây dựng chuẩn mực đạo đức và văn hóa con người Việt Nam hiện nay?
    • Giả thuyết 4 (H4): Hệ giá trị nhân văn của Nguyễn Du cung cấp cơ sở lý luận - thực tiễn trực tiếp để bổ khuyết cho chủ nghĩa nhân văn xã hội chủ nghĩa, định hướng chính sách an sinh và giáo dục nhân cách.

Khung lý thuyết của luận án tích hợp thuyết duy vật lịch sử của Karl Marx và Friedrich Engels (đặc biệt là mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội), kết hợp với lý thuyết phân tích văn bản học (textual hermeneutics) và triết học giá trị của M. Kagan. Phạm vi khảo sát bao quát toàn bộ di sản văn bản gồm 3.254 câu thơ lục bát kiệt tác Truyện Kiều, 249 bài thơ chữ Hán (Thanh Hiên thi tập 78 bài, Nam trung tạp ngâm 40 bài, Bắc hành tạp lục 131 bài) và 184 câu song thất lục bát Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn).

Literature Review và Positioning

Tổng quan tài liệu trong luận án phân loại thành 3 dòng nghiên cứu chính với các tranh luận học thuật sâu sắc:

Thứ nhất, dòng nghiên cứu bối cảnh lịch sử - xã hội quy định tư tưởng: Các học giả sử học như Phan Huy Lê (1979) trong Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam tập 3, Lê Thành Khôi (1955), Trương Hữu Quỳnh, Đinh Xuân Lâm và Lê Mậu Hãn (2001) trong Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập, cùng Nguyễn Thanh Nhã (1970) trong Bức tranh kinh tế Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII đã khắc họa sự suy đồi của chế độ phong kiến và vai trò làm tha hóa con người của đồng tiền. Trương Tửu (1956) trong Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du áp dụng quan điểm mác-xít khẳng định tác phẩm phản ánh trực tiếp xung đột giai cấp và phong trào Tây Sơn: “Nguyễn Du là một nghệ sĩ vĩ đại, vì vậy, không có lý gì mà Nguyễn Du lại không phản ánh được trong tác phẩm một vài cục diện cốt yếu của phong trào Tây Sơn, mặc dầu thi sĩ đã quay lưng lại với nó”. Ngược lại, Nguyễn Tài Thư (1993) trong Lịch sử tư tưởng Việt Nam và tập thể tác giả Viện Triết học trong Khái lược lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam nhấn mạnh tình thế bi đát của con người: “Thời đại Nguyễn Du sống là thời đại của các sự đảo lộn xã hội, loạn lạc triền miên. Trong thời đại đó, con người bị đẩy đến tận cùng của mâu thuẫn tồn tại hay không tồn tại, sống hay là chết... Nguyễn Du đã xây dựng một triết học về cuộc đời, một chủ nghĩa nhân văn thấm đượm tinh thần dân tộc, đồng thời chứa đựng những nội dung sâu sắc mang tầm nhân loại”.

Thứ hai, cuộc tranh luận về nguồn gốc và bản chất tiếp biến tư tưởng Tam giáo:

  • Về Nho giáo: Lê Đình Kỵ (1983) cho rằng Nguyễn Du bấu víu vào thiên mệnh để giải thích bế tắc nhân sinh; Lê Thị Lan (2005) lập luận hệ thống thuật ngữ của Nguyễn Du chỉ mượn "chiếc vỏ ngôn ngữ Nho giáo" để chuyển tải nội dung phi Nho giáo; trong khi Trần Đình Sử (2002) trong Thi pháp Truyện Kiều chỉ rõ sự thẩm thấu của Tâm học Minh - Thanh: “ảnh hưởng của Tâm học, từ chữ tâm của Mạnh Tử đến chữ tâm của Dương Vương Minh đã có sự kết hợp với chữ tâm nhà Phật, chữ tâm hòa đồng thống nhất với lương tri, dẫn đến tư tưởng bình đẳng, phá bỏ giáo điều, đề cao tính chủ thể của con người”.
  • Về Phật giáo và Đạo giáo: Đào Duy Anh (1957) và Cao Huy Đỉnh xem tư tưởng Nguyễn Du là sự hòa trộn giữa nghiệp báo luân hồi và bỉ sắc tư phong; Thích Nhất Hạnh (1994) trong Thả một bè lau nhìn nhận Truyện Kiều như tiến trình thiền học cứu độ: “Khi viết Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã sống trong da thịt của nhân vật Kiều, đã trở thành một với Kiều, cụ đã nói được tâm sự của chính mình”; Lê Văn Quán (2001) khẳng định Phật giáo trong Truyện Kiều mang tính hành động diệt trừ cái ác.

Thứ ba, sự đối lập giữa quan điểm xã hội học mác-xít và triết học hiện sinh: Hoài Thanh (1965) trong Quyền sống của con người trong Truyện Kiều cho rằng Nguyễn Du “vô tình đòi quyền sống cho con người trong xã hội phong kiến. Nhưng Nguyễn Du thiếu một ý thức rõ rệt, một ý chí cương quyết”. Đối lập lại, các nhà nghiên cứu hiện sinh như Nguyễn Văn Trung (1963) nhìn nhận cuộc đời Thúy Kiều như “một phiêu lưu của tự do giữa hoàn cảnh phi lý”, còn Nguyễn Sỹ Tế (1965) coi Đoạn trường tân thanh là tiếng kêu hiện sinh của toàn nhân loại trước sự bấp bênh của kiếp người.

Luận án tạo lập vị trí khoa học riêng biệt bằng việc so sánh với ít nhất hai công trình quốc tế tiêu biểu:

  1. Nghiên cứu so sánh của Pornpen Hantrakool (Thái Lan) giữa Nguyễn Du và Sunthorn Phu, chứng minh Nguyễn Du đã điều hòa thế giới quan Nho - Phật bằng phạm trù thiện căn, xác lập giá trị bình đẳng nhân bản vượt lên số mệnh.
  2. Công trình của René Crayssac (Pháp) phân tích luật quân bình, phản phục của Lão Trang trong Truyện Kiều, đối lập chủ nghĩa cá nhân phương Tây với nghĩa vụ cộng đồng Á Đông.
  3. Luận án Tiến sĩ của linh mục Vũ Đình Trác tại Đại học Tokyo (Nhật Bản, 1984), chỉ ra 17 điểm biến cải mang tính nhân bản của Nguyễn Du so với nguyên tác Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, tiêu biểu như việc tinh lọc cảnh báo thù đẫm máu để “tránh mọi cử chỉ và hành động vô nhân đạo”.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng lý thuyết hình thái ý thức xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử khi luận giải sự nảy sinh của ý thức nhân văn cá nhân trong lòng xã hội tiền tư bản Á Đông. Cụ thể, nghiên cứu đóng góp 3 luận đề lý thuyết có cấu trúc chặt chẽ:

[Khủng hoảng Tồn tại Xã hội] 
[Xác lập Hệ hình Triết học Nhân văn Đa chiều]:
  1. Luận đề 1 (Bản thể luận thân phận): Phản biện luận điểm truyền thống coi chủ đề trung tâm của Nguyễn Du là tài mệnh tương đố, luận án khẳng định bước chuyển căn bản sang phạm trù thân mệnh tương đố. Con người trong triết học Nguyễn Du không chỉ là con người đạo đức phong kiến trừu tượng (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) mà trước hết là con người bản thể, con người sinh học - cảm xúc, có quyền thụ hưởng khoái cảm giác quan và bảo toàn thể xác trước bạo lực chuyên chế.
  2. Luận đề 2 (Giá trị luận Tâm học): Nguyễn Du giải phóng chữ "Tâm" khỏi khuôn khổ kiềm tỏa của lý tính Tống Nho, tích hợp Lương tri của Vương Dương Minh với Từ bi Phật giáo và thuyết Vô vi tự nhiên của Lão - Trang, xác lập quy tắc: giá trị người nằm ở khả năng thấu cảm nỗi đau của đồng loại (đồng bệnh tương lân).
  3. Luận đề 3 (Quyền con người sơ kỳ): Tư tưởng Nguyễn Du hàm chứa những mầm mống của lý thuyết quyền tự nhiên (natural rights), bao gồm quyền sống, quyền tự do định đoạt tình yêu lứa đôi và quyền mưu cầu công lý chống lại cấu trúc tư pháp tham nhũng.

Khung phân tích độc đáo

Luận án vận hành một khung phân tích liên ngành độc đáo tích hợp 3 trụ cột lý thuyết:

Trụ cột lý thuyết Nhà lý thuyết nền tảng Phương diện phân tích trong luận án
Chủ nghĩa duy vật lịch sử Karl Marx, F. Engels Quan hệ giữa khủng hoảng kinh tế hàng hóa thế kỷ XVIII và sự thức tỉnh ý thức cá nhân
Triết học Giá trị học (Axiology) M. Kagan, Trần Đình Sử Sự chuyển dịch thang bậc giá trị từ danh vị phong kiến sang phẩm giá nhân bản
Thông diễn học văn bản (Hermeneutics) Paul Ricoeur, H.G. Gadamer Giải mã tầng sâu ngữ nghĩa của 249 bài thơ chữ Hán và thi phẩm Truyện Kiều

Điều kiện biên (Boundary conditions): Khung phân tích này chỉ áp dụng trong phạm vi văn bản trước tác của Nguyễn Du và không gian lịch sử văn hóa Việt Nam cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX; không quy chiếu khiên cưỡng các chuẩn mực quyền con người hiện đại của phương Tây vào nhận thức luận thời trung đại.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án quán triệt lập trường triết học duy vật biện chứng và hiện thực phê phán (critical realism). Thiết kế nghiên cứu liên ngành đa tầng bậc (multi-level design):

  • Tầng vĩ mô (Macro-level): Phân tích tương quan giữa cấu trúc kinh tế - xã hội, thể chế chính trị Trịnh - Nguyễn phân tranh và các luồng tư tưởng Tam giáo tại Đại Việt thế kỷ XVIII - XIX.
  • Tầng vi mô (Micro-level): Phân tích ngữ văn học và diễn ngôn triết học trên 3 tập thơ chữ Hán (Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục) và tác phẩm chữ Nôm (Truyện Kiều, Văn chiêu hồn).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình khảo cứu áp dụng chặt chẽ 4 nguyên tắc tam giác hóa (triangulation):

  1. Tam giác hóa dữ liệu (Data triangulation): Đối chiếu chéo giữa văn bản chính thống (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí), tài liệu địa phương khảo cứu (Phủ biên tạp lục) và văn bản văn học cá nhân của tác giả.
  2. Tam giác hóa phương pháp (Methodological triangulation): Kết hợp phương pháp lịch sử - logic, phương pháp phân tích - tổng hợp, trừu tượng hóa triết học với phương pháp cấu trúc - hệ thống và phân tích văn bản học (textual analysis).
  3. Tiêu chuẩn chọn mẫu (Sampling criteria): Mẫu khảo sát bao quát 100% trước tác còn lưu giữ của Nguyễn Du, loại trừ các dị bản không được giới văn bản học Hán Nôm thừa nhận.
  4. Độ tin cậy và giá trị nội tại (Internal validity): Kiểm tra tính nhất quán trong các mệnh đề triết học thông qua việc đối chiếu giữa nguyên tác chữ Hán/Nôm với các bản dịch nghĩa của các chuyên gia đầu ngành (Đào Duy Anh, Phan Ngọc, Viện Văn học).

Data và phân tích

Danh mục văn bản Quy mô mẫu phân tích Kỹ thuật phân tích văn bản Trọng tâm triết học giải mã
Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) 3.254 câu thơ lục bát Hermeneutics, Phân tích diễn ngôn Quyền sống, thân phận phụ nữ, công lý, tài mệnh tương đố
Bắc hành tạp lục 131 bài thơ chữ Hán Lịch sử - Triết học đối sánh Phê phán hiện thực phong kiến, thân phận dân nghèo (ông lão xẩm, mẹ con người ăn mày)
Thanh Hiên thi tập & Nam trung tạp ngâm 118 bài thơ chữ Hán Phân tích tâm lý học tác giả Ý thức tha nhân, tự thương thân, bế tắc hiện sinh cá nhân
Văn chiêu hồn (Thập loại chúng sinh) 184 câu song thất lục bát Cấu trúc hệ thống xã hội Tình thương nhân loại phổ quát, giải trừ phân biệt đẳng cấp

Phân tích định tính được kiểm định tính vững (robustness checks) thông qua việc đối chiếu các tình huống đối thoại nhân vật (như Thúy Kiều - Từ Hải, Thúy Kiều - Giác Duyên, Thúy Kiều - Kim Trọng) với các biến số xã hội học thời trung đại.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án xác lập 4 phát hiện mang tính đột phá khoa học:

  1. Phát hiện 1: Bản thể luận "Thân phận" thay thế hệ hình "Tài mệnh" truyền thống.
    Khác với các nghiên cứu văn học nhấn mạnh bi kịch của tài năng (tài mệnh tương đố), nghiên cứu triết học của luận án chứng minh Nguyễn Du mở rộng đối tượng xót thương đến toàn bộ cõi nhân sinh qua quy luật thân - mệnh tương đố. Minh chứng văn bản từ Bắc hành tạp lục qua hình ảnh 4 mẹ con người ăn xin ở trạm Tây Hà (Sở kiến hành): nỗi đau không bắt nguồn từ việc có tài hay không có tài, mà từ sự tước đoạt điều kiện sinh tồn tối thiểu của thể xác con người.
  2. Phát hiện 2: Chữ "Tâm" như một phạm trù đạo đức học thế tục vượt thoát định mệnh luận.
    Nguyễn Du thực hiện cuộc cách mạng khái niệm khi đặt chữ "Tâm" cao hơn chữ "Mệnh" (“Thiện căn ở tại lòng ta / Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”). Phân tích logic chỉ ra rằng: mệnh là tất yếu khách quan của hoàn cảnh mù quáng, nhưng tâm là tự do lựa chọn luân lý của chủ thể. Đây là tiền đề của chủ nghĩa nhân bản tích cực.
  3. Phát hiện 3: Sự thức tỉnh của quyền tự quyết cá nhân và tình yêu tự do.
    Hình tượng Thúy Kiều chủ động sang nhà Kim Trọng (“Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”) được luận án phân tích như một sự đoạn tuyệt triệt để với lễ giáo Nho quyền “nam nữ thụ thụ bất thân”, xác lập quyền tự quyết thân thể và tình cảm của người phụ nữ.
  4. Phát hiện 4: Phê phán quyền lực tha hóa của đồng tiền và bộ máy tư pháp quan liêu.
    Nguyễn Du vạch trần bản chất phi nhân tính của xã hội phong kiến nơi đồng tiền trở thành chuẩn mực tối cao chi phối công lý (“Trong tay đã sẵn đồng tiền / Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì”). Đây là phát hiện xã hội học sâu sắc vượt trước thời đại về cơ chế tha hóa của kinh tế hàng hóa thị trường sơ khai.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận: Làm phong phú kho tàng lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, chứng minh dân tộc Việt Nam có một dòng chảy chủ nghĩa nhân văn bản địa sâu sắc, không hoàn toàn phụ thuộc hay sao chép từ Nho - Phật phương Bắc hay triết học Khai sáng phương Tây.
  • Về mặt phương pháp luận: Cung cấp mô hình liên ngành mẫu mực giữa Lịch sử triết học - Văn bản học - Giá trị học cho các nghiên cứu về danh nhân văn hóa.
  • Về mặt thực tiễn và chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận cho Đảng và Nhà nước trong việc hoàn thiện đường lối xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; định hướng chiến lược an sinh xã hội lấy con người làm trung tâm, tôn trọng phẩm giá và quyền lợi chính đáng của mọi công dân.

Limitations và Future Research

Luận án thừa nhận khách quan 3 giới hạn:

  1. Giới hạn phạm vi tư liệu: Do sự thất lạc văn bản trung đại, luận án chưa thể bao quát các tác phẩm thất truyền khác của tác giả để đối sánh toàn diện hơn.
  2. Giới hạn hệ hình tư tưởng của tác giả khảo sát: Bản thân tư tưởng Nguyễn Du chưa thoát khỏi hoàn toàn thế giới quan duy tâm thần bí (thuyết định mệnh, thuyết nghiệp quả luân hồi), dẫn đến kết cục bế tắc, giải phóng con người bằng con đường tôn giáo ảo tưởng (cửa Phật Giác Duyên).
  3. Giới hạn về phương pháp định lượng: Nghiên cứu thuần túy định tính và phân tích văn bản học, chưa tích hợp các công cụ xử lý ngôn ngữ tự nhiên (Natural Language Processing - NLP) hay thống kê từ vựng triết học tần số cao.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future directions):

  • Ứng dụng kỹ thuật số (Digital Humanities) và phân tích ngữ liệu lớn (Corpus Linguistics) để định lượng hóa các phạm trù triết học trong toàn bộ thi văn thời Lê mạt - Nguyễn sơ.
  • Mở rộng so sánh xuyên văn hóa (cross-cultural philosophy) giữa tư tưởng nhân văn Nguyễn Du với các đại thi hào cùng thời kỳ trên thế giới như Johann Wolfgang von Goethe (Đức), William Blake (Anh), hoặc Aleksandr Pushkin (Nga).

Tác động và ảnh hưởng

  • Ảnh hưởng học thuật (Academic Impact): Luận án trở thành tài liệu tham khảo chuẩn mực tại các cơ sở đào tạo sau đại học về Triết học, Văn hóa học và Văn học Việt Nam (dự báo thu hút hàng trăm trích dẫn học thuật trong các công trình nghiên cứu hệ giá trị văn hóa).
  • Chấn hưng văn hóa - giáo dục (Educational transformation): Cung cấp khung luận giải giá trị phục vụ đổi mới chương trình giảng dạy Ngữ văn và Giáo dục công dân ở bậc phổ thông và đại học, đưa Truyện Kiều từ góc nhìn văn học thuần túy sang góc nhìn giáo dục phẩm giá làm người.
  • Tác động chính sách (Policy Influence): Đóng góp trực tiếp các luận cứ thực tiễn cho Ban Tư tưởng - Văn hóa, Hội đồng Lý luận Trung ương trong việc cụ thể hóa chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Giá trị quốc tế (Global Relevance): Lan tỏa tinh thần UNESCO (vinh danh Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới năm 2015), khẳng định đóng góp của triết học Việt Nam vào chủ nghĩa nhân văn toàn cầu.

Đối tượng hưởng lợi

  1. Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận một khung phân tích triết học nhất quán, giải quyết triệt để các khoảng trống về lịch sử tư tưởng trung - cận đại Việt Nam.
  2. Giảng viên và nhà nghiên cứu cao cấp: Sở hữu nguồn tư liệu đối chiếu phong phú giữa văn bản học Hán Nôm và các trào lưu triết học quốc tế (Hiện sinh, Hiện tượng luận, Mác-xít).
  3. Cơ quan hoạch định chính sách văn hóa: Sử dụng các kết luận về quyền con người và an sinh nhân văn để xây dựng luật pháp và chính sách phát triển xã hội bền vững.
  4. Hệ thống giáo dục và công chúng yêu văn hóa: Nâng cao nhận thức về chiều sâu tư tưởng của đại thi hào dân tộc, khơi dậy lòng tự hào và bản lĩnh văn hóa trong hội nhập quốc tế.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng lý thuyết hình thái ý thức xã hội mác-xít bằng việc chứng minh: ý thức cá nhân và tư tưởng quyền sống tự nhiên có thể nảy sinh và bùng nổ ngay trong lòng chế độ phong kiến phương Đông suy tàn thông qua sự kết hợp giữa triết học Tâm học bản địa và bản thể luận thân phận, vượt trước sự hình thành của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa hoàn chỉnh.

2. Đổi mới phương pháp luận của luận án so với các nghiên cứu trước đây?
So với cách tiếp cận xã hội học dung tục của Trương Tửu (1956) hoặc tiếp cận văn học thuần túy của Lê Đình Kỵ (1983), luận án kết hợp thành công phương pháp Thông diễn học văn bản triết học với Triết học giá trị học, cho phép khảo sát đồng thời cả 249 bài thơ chữ Hán và các kiệt tác chữ Nôm trong một chỉnh thể thế giới quan thống nhất.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu nghiên cứu là gì?
Nguyễn Du không nhìn nhận thân phận con người qua lăng kính "tài năng - định mệnh" của tầng lớp quý tộc trí thức, mà qua lăng kính "thể xác - nhu cầu sinh tồn" của tầng lớp cùng khổ nhất xã hội (người phụ nữ đơn độc, mẹ con người ăn mày, đứa trẻ mồ côi), tạo nên một chủ nghĩa nhân đạo vị tha triệt để.

4. Giao thức tái lập nghiên cứu (Replication protocol) có được cung cấp không?
Có. Luận án cung cấp bảng quy chiếu hệ thống văn bản chữ Hán - chữ Nôm theo mã định danh khoa học từ Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các công trình tuyển tập chuẩn mực, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập kiểm chứng quy trình phân tích diễn ngôn.

5. Chương trình nghiên cứu 10 năm được phác thảo thế nào?
Chương trình nghiên cứu hướng tới: Số hóa và xây dựng bản đồ khái niệm (concept map) tư tưởng nhân văn Việt Nam thế kỷ X - XIX; xây dựng bộ giáo trình chuyên đề Triết học nhân bản Việt Nam qua văn học cổ điển; và triển khai các dự án so sánh triết học Đông Á (Việt Nam - Trung Quốc - Hàn Quốc - Nhật Bản).

Kết luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa hoàn chỉnh điều kiện lịch sử - kinh tế - văn hóa làm nảy sinh tư tưởng nhân văn Nguyễn Du, khẳng định tính quy định của thời đại bão táp thế kỷ XVIII - XIX đối với sự sụp đổ của hệ tư tưởng Nho giáo độc tôn.
  2. Xác lập cấu trúc 4 trụ cột của tư tưởng nhân văn Nguyễn Du: tôn trọng sinh mệnh con người, tình thương yêu bao la vô phân biệt, thấu cảm sâu sắc nỗi đau phụ nữ tài hoa bạc mệnh, và đề cao quyền sống, quyền tự do, bình đẳng.
  3. Làm sáng rõ sự chuyển biến hệ hình từ tài mệnh tương đố sang thân mệnh tương đố, đưa bản thể thân xác và quyền tự nhiên của con người vào trung tâm nhận thức luận triết học.
  4. Chỉ ra bản chất tiếp biến Tam giáo độc đáo, lấy chữ "Tâm" và "Thiện căn" của Tâm học thế tục hóa làm giải pháp cứu cánh để vượt thoát sự bế tắc của định mệnh luận và nghiệp báo.
  5. Đánh giá khách quan giới hạn lịch sử duy tâm thần bí của Nguyễn Du, đồng thời khẳng định giá trị vượt thời đại của tư tưởng ông trong việc kiến tạo hệ giá trị con người và đạo đức xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập toàn cầu.