Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Đại diện theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam" được tác giả Chu Thị Lam Giang thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hải An, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2024. Luận án thuộc chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự, mã số 938 01 03.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Chế định đại diện được ghi nhận trong hệ thống pháp luật dân sự nhằm tạo ra phương thức pháp lý linh hoạt cho phép các chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự, đặc biệt là các giao dịch dân sự. Đại diện vừa thực hiện chức năng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể gặp khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế, mất năng lực hành vi dân sự (NLHVDS), vừa đáp ứng nhu cầu phân công lao động, chuyên môn hóa trong sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội.

Tuy nhiên, theo tác giả, chế định đại diện trong pháp luật thực định Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại nhiều hạn chế, vướng mắc lý luận và thực tiễn chưa được giải quyết triệt để:

  1. Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự thông qua người đại diện tiềm ẩn nguy cơ người đại diện lợi dụng tư cách để trục lợi cá nhân, không hướng tới lợi ích của người được đại diện, đặc biệt trong các trường hợp người đại diện nắm giữ toàn bộ thông tin đối với người thứ ba.
  2. Phạm vi đại diện trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 và BLDS năm 2015 bị bó hẹp trong mục đích "xác lập, thực hiện giao dịch dân sự", chưa bao quát các quan hệ dân sự khác (như yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho con chưa thành niên, thực hiện quyền nhân thân về hộ tịch...).
  3. Tiêu chí xác định người đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên, người mất NLHVDS còn thiếu rõ ràng, dẫn đến tranh chấp khi cha mẹ ly hôn hoặc khi đồng thời có cả cha mẹ và người giám hộ.
  4. Thực tiễn thi hành còn nhiều biến tướng và vướng mắc trong việc áp dụng quy định về đại diện tại Tòa án.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực trạng quy định pháp luật dân sự cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật dân sự về đại diện; trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật dân sự về đại diện.

Luận án thực hiện 05 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:

  • Thứ nhất, xây dựng khái niệm về đại diện; chỉ ra các đặc điểm, đối tượng của quan hệ đại diện, làm cơ sở phân biệt đại diện trong lĩnh vực dân sự với các quan hệ dân sự khác.
  • Thứ hai, phân tích cụ thể các quy định của pháp luật dân sự về đại diện, đồng thời đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng.
  • Thứ ba, nghiên cứu quy định pháp luật của một số nước trên thế giới theo hướng so sánh với các quy định pháp luật dân sự của Việt Nam nhằm tiếp thu kinh nghiệm quốc tế.
  • Thứ tư, nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật và giải quyết các tranh chấp về đại diện tại Tòa án, rút ra các dạng tranh chấp phổ biến và nguyên nhân.
  • Thứ năm, dựa trên việc phân tích ưu, nhược điểm của quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng, đưa ra các kiến nghị chung và kiến nghị cụ thể để hoàn thiện quy định pháp luật dân sự về đại diện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về đại diện trong quan hệ dân sự; các quy định của pháp luật dân sự (trọng tâm là BLDS năm 2015); thực tiễn áp dụng pháp luật dân sự về đại diện tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung nghiên cứu đại diện trong quan hệ dân sự dưới hai góc độ: quy định pháp luật thực định và thực tiễn thực hiện pháp luật, hướng đến hoàn thiện pháp luật.
    • Về thời gian và văn bản: Nghiên cứu quy định của BLDS năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015, Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2020, Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GD) năm 2014 và văn bản hướng dẫn; có đối chiếu các giai đoạn lịch sử (BLDS Bắc Kỳ 1931, Trung Kỳ 1936, Sài Gòn 1972, BLDS 1995, 2005) và pháp luật nước ngoài. Phạm vi thực tiễn đánh giá các bản án có hiệu lực pháp luật và tình huống thực tế từ khi BLDS năm 2015 có hiệu lực đến nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích một số lượng lớn các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chế định đại diện:

Các công trình nghiên cứu trong nước

  1. Sách chuyên khảo và bình luận khoa học:
    • Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân luật lược khảo, Bộ Quốc gia Giáo dục: phân tích điều kiện tồn tại quan hệ đại diện (quyền đại diện, ý chí đại diện, ý chí kết ước).
    • Nguyễn Mạnh Bách (1974), Dân Luật Việt Nam - Nghĩa vụ, Trường Đại học Luật khoa Sài Gòn: nghiên cứu điều kiện, ý muốn và hiệu lực của sự đại diện.
    • Đỗ Văn Đại (chủ biên, 2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức: làm rõ chủ thể, phân loại, thời hạn, phạm vi và hậu quả pháp lý khi không có quyền hoặc vượt quá phạm vi đại diện.
    • Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ (đồng chủ biên, 2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Công an nhân dân: bình luận chi tiết từ Điều 134 đến Điều 144 BLDS năm 2015.
  2. Đề tài nghiên cứu khoa học:
    • Nguyễn Minh Tuấn (chủ nhiệm, 2016), Đề tài cấp trường Những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 và sự tác động của nó đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước: nghiên cứu đại diện lồng ghép trong giao dịch dân sự.
    • Lê Đình Nghị (chủ nhiệm, 2018), Đề tài cấp trường Cơ sở lý luận và thực tiễn những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015: làm rõ căn nguyên sửa đổi các quy định đại diện.
    • Viện Luật So sánh - Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Đề tài cấp khoa Hợp đồng vô hiệu trong pháp luật một số nước: phân tích điều kiện năng lực chủ thể và sự tham gia của người đại diện trong pháp luật Pháp, Anh, Hoa Kỳ.
  3. Bài báo tạp chí chuyên ngành:
    • Ngô Huy Cương (2009), Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam - Nhìn từ góc độ luật so sánh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật.
    • Nguyễn Thị Phương Châm (2016), Đại diện bề ngoài nhìn từ góc độ pháp luật dân sự Nhật Bản, Tạp chí Luật học.
    • Vũ Lan Phương (2018), Bàn về chế định đại diện trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
    • Nguyễn Vĩnh Hưng và Nguyễn Khánh Linh (2021), Cơ chế đại diện của công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, Tạp chí Nghề Luật.
    • Lê Việt Phương (2017), Bàn về người đại diện của công ty cổ phần ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
    • Đỗ Giang Nam và Trần Quang Cường (2021), Cơ chế bảo vệ người thứ ba trong quan hệ đại diện theo Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật.
    • Nguyễn Văn Hành (2020), Đại diện của pháp nhân - Điểm tương đồng và khác biệt giữa Bộ luật Dân sự và luật chuyên ngành có liên quan, Tạp chí Nghề Luật.
    • Bùi Thị Hà (2018), Đánh giá quy định về người đại diện của đương sự theo pháp luật dân sự và tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp chí Nghề Luật.
    • Phạm Thị Trang (2020), Học thuyết về đại diện của Hoa Kỳ - Khái niệm và các hình thức đại diện, Tạp chí Khoa học Kiểm sát.
    • Hồ Thị Bảo Ngọc và Nguyễn Ngọc Huy (2021), Đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên trong giao dịch dân sự liên quan đến hoạt động công chứng, Tạp chí Nghề Luật.
  4. Luận án, luận văn:
    • Luận án tiến sĩ của Trần Thị Quỳnh Châu (2019) và Bùi Thị Hà (2021) về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.
    • Các luận văn thạc sĩ: Vũ Lan Phương (2018) về chế định đại diện; Đỗ Hoàng Yến (2012) về đại diện trong quan hệ hợp đồng; Cao Thị Mai Hiên (2017) về đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh; Nguyễn Thị Lan Anh (2015) về đại diện không có ủy quyền và vượt quá phạm vi ủy quyền; Nguyễn Thị Nhiên (2017) về hợp đồng ủy quyền; Đỗ Thị Thủy (2021) về đại diện theo ủy quyền của pháp nhân.

Các công trình nghiên cứu nước ngoài

  • Awet Hailezgi & Addisu Dametie (2009), Ethiopian Law of Agency: phân tích nguồn gốc, thẩm quyền và quan hệ đại diện theo pháp luật Ethiopia.
  • Clark (1862), Representative Responsibility: nghiên cứu trách nhiệm của người đại diện và người được đại diện khi có hành vi vi phạm.
  • Dalley, A Theory of Agency Law: lý thuyết đại diện trong bối cảnh hợp đồng và kinh doanh.
  • Dan-Alexandru Sitaru, Consideratii privind reprezentarea in noul cod Civil Roman: quan hệ giữa đại diện và hợp đồng ủy thác trong luật Rumani.
  • Boyle (1995), Minority Shareholders' Remedies, Clarendon Press: vai trò của chế định đại diện đối với các chủ thể thiếu năng lực hành vi.
  • American Law Institute (1958), The Restatement of Agency (Second): định nghĩa đại diện là quan hệ ủy thác (fiduciary relation).
  • Meiners, Ringleb & Edwards (2015), Agency and the Employment Relationship: cơ chế hình thành quan hệ đại diện trong hệ thống Common Law (thỏa thuận, phê chuẩn, thẩm quyền ngầm định).

Tổng hợp vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án

Nhóm vấn đề nghiên cứu Kết quả từ các công trình đã công bố Khoảng trống luận án giải quyết
Khái niệm và đặc điểm Chủ yếu tiếp cận đại diện trong phạm vi hợp đồng hoặc một nhóm quan hệ hẹp. Xây dựng khái niệm đại diện bao quát toàn diện quan hệ pháp luật dân sự, không chỉ giới hạn ở giao dịch dân sự.
Cơ sở lý luận & Học thuyết Chưa có công trình trong nước hệ thống hóa các học thuyết pháp lý nền tảng. Kết hợp 03 học thuyết: bình đẳng xã hội, tự do ý chí, nhà nước và pháp luật để giải thích nguồn gốc chế định.
Đối tượng của đại diện Chưa được phân tích chuyên sâu và độc lập. Phân định đối tượng gồm: giao dịch dân sự, quan hệ dân sự khác và các quan hệ không được áp dụng cơ chế đại diện.
Phân loại và chủ thể Tập trung phân loại truyền thống hoặc nghiên cứu riêng lẻ từng nhóm chủ thể (vợ chồng, công ty, tố tụng). Nghiên cứu tổng thể các nhóm chủ thể đại diện theo pháp luật và theo ủy quyền theo chuẩn mực BLDS năm 2015.
Thực tiễn & Giải pháp Kiến nghị còn nhỏ lẻ, chưa cập nhật toàn diện sự thay đổi của BLDS năm 2015 và các luật chuyên ngành. Đánh giá thực tiễn xét xử sau năm 2015 và đưa ra hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ, cụ thể.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và các học thuyết pháp lý

Luận án xác lập nền tảng lý thuyết thông qua sự tổng hòa của 03 học thuyết:

  1. Học thuyết về sự bình đẳng trong xã hội: Kế thừa tư tưởng từ Platon, Aristote, Montesquieu (Tinh thần pháp luật), C. Mác và V.I. Lênin; thể hiện qua Điều 7 Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền năm 1948 và các bản Hiến pháp Việt Nam (1946, 1980, 1992, 2013). Học thuyết khẳng định mọi chủ thể đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ dân sự. Chế định đại diện ra đời nhằm bảo đảm cho những người không thể tự mình thực hiện hành vi (người chưa thành niên, người mất NLHVDS, người có khó khăn trong nhận thức) vẫn có cơ hội tham gia và được bảo vệ quyền lợi bình đẳng trong các quan hệ dân sự.
  2. Học thuyết về tự do ý chí (will autonomy): Dựa trên tư tưởng triết học của Platon, I. Kant, Arthur Schopenhauer. Học thuyết ghi nhận quyền tự định đoạt của chủ thể, không bị cưỡng ép làm những việc trái với ý muốn. Trong chế định đại diện, người được đại diện chỉ chịu sự ràng buộc của hậu quả pháp lý khi hành vi của người đại diện xuất phát từ ý chí của họ và được thực hiện vì lợi ích của họ. Đây là căn cứ xác định giới hạn phạm vi đại diện và giải quyết hậu quả của hành vi không có quyền hoặc vượt quá phạm vi đại diện.
  3. Học thuyết về Nhà nước và Pháp luật: Luận giải vai trò của Nhà nước trong việc can thiệp, điều tiết quan hệ dân sự để bảo đảm trật tự công và quyền con người. Sự can thiệp thể hiện ở việc pháp luật quy định chặt chẽ điều kiện xác định người đại diện theo pháp luật, hình thức ủy quyền, các trường hợp cấm đại diện và hậu quả pháp lý nhằm cân bằng lợi ích giữa người được đại diện, người đại diện và người thứ ba ngay tình.

Khái niệm đại diện do luận án xây dựng

"Đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự phát sinh trên cơ sở quy định của pháp luật hoặc theo ủy quyền, theo đó bên đại diện (cá nhân, pháp nhân) nhân danh và vì lợi ích hợp pháp của bên được đại diện (cá nhân, pháp nhân khác) xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của bên được đại diện trong phạm vi ủy quyền hoặc theo quy định của pháp luật đồng thời bên được đại diện phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với người thứ ba thông qua hành vi đại diện của bên đại diện."

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp phân tích: Sử dụng xuyên suốt nhằm mổ xẻ các khái niệm, quy định pháp luật và bản án từ chi tiết đến khái quát.
    • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng để nhận diện các bất cập, vướng mắc.
    • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của BLDS năm 2015 với các văn bản pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, đồng thời so sánh với pháp luật của các quốc gia thuộc hệ thống Civil Law (Pháp, Đức, Romania) và Common Law (Anh, Hoa Kỳ), cùng pháp luật một số nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Iran.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản pháp luật Việt Nam: Sắc lệnh số 33C (1945), Sắc lệnh 90/SL; BLDS Bắc Kỳ (1931), BLDS Trung Kỳ (1936), Dân luật giản yếu Nam Kỳ (1884), BLDS và Thương sự Sài Gòn (1972); BLDS các năm 1995, 2005, 2015; BLTTDS năm 2015; LDN năm 2020; Luật HN&GD năm 2014 và văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Văn bản pháp luật nước ngoài: BLDS Pháp (2016), BLDS Đức (BGB - Điều 164), BLDS Nhật Bản (Điều 99), BLDS Trung Quốc (Điều 162), BLDS Thái Lan (Điều 797), BLDS Iran, The Restatement of Agency Second của Viện Pháp luật Hoa Kỳ.
  • Dữ liệu thực tiễn: Các bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân các cấp tại Việt Nam giải quyết các tranh chấp liên quan đến người đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về đại diện trong quan hệ dân sự

Chương này tập trung xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về chế định đại diện trong luật dân sự:

  • Khái niệm và đặc điểm của đại diện trong quan hệ dân sự:
    • Luận án phân tích tiến trình lịch sử: từ thời La Mã (quan hệ hợp đồng mandatum, nguyên tắc alieni juris, việc không chấp nhận đại diện trực tiếp hoàn hảo), qua thời kỳ phong kiến - Pháp thuộc, giai đoạn áp dụng các Sắc lệnh, giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đến các BLDS 1995, 2005, 2015.
    • Phân tích sự giao thoa giữa hệ thống Common Law (coi đại diện là quan hệ ủy thác dựa trên sự ưng thuận - fiduciary relation) và Civil Law (phân chia các nhóm trung gian, đại diện theo luật, theo Tòa án hoặc hợp đồng). Luận án khẳng định hai yếu tố cốt lõi mang tính bản chất là: "nhân danh" (acting on behalf) và "vì lợi ích" (in the interest of) của người được đại diện.
    • Luận án chỉ ra 03 đặc điểm bản chất của đại diện:
      1. Đại diện là một quan hệ trái quyền: Hình thành giữa bên đại diện (mang nghĩa vụ) và bên được đại diện (mang quyền). Nghĩa vụ của bên đại diện là thực hiện công việc vì lợi ích của bên được đại diện;
      2. Đại diện là căn cứ phát sinh quan hệ giữa bên đại diện với người thứ ba: Mối quan hệ nội bộ giữa người đại diện và người được đại diện là tiền đề làm phát sinh mối quan hệ đối ngoại với người thứ ba, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ trực tiếp cho người được đại diện;
      3. Đại diện là quan hệ giữa một bên chủ thể có quyền, nghĩa vụ cần xác lập, thực hiện và một bên có khả năng tham gia xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ đó: Bên đại diện phải đáp ứng điều kiện về năng lực chủ thể tương ứng với công việc được thực hiện.
  • Đối tượng của quan hệ đại diện:
    • Xác lập, thực hiện giao dịch dân sự (hợp đồng dân sự và hành vi pháp lý đơn phương);
    • Xác lập, thực hiện quan hệ dân sự khác (các quyền nhân thân, yêu cầu cơ quan nhà nước thực hiện hộ tịch, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho người chưa thành niên...);
    • Các quan hệ dân sự không được thiết lập thông qua cơ chế đại diện (các hành vi pháp lý gắn liền với nhân thân không thể chuyển giao như kết hôn, ly hôn, lập di chúc...).
  • Phân loại đại diện:
    • Đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền;
    • Đại diện cho cá nhân và đại diện cho pháp nhân;
    • Đại diện theo vụ việc và đại diện thường xuyên.
  • Phân biệt đại diện với các quan hệ pháp luật dân sự khác:
    • Phân biệt với chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ dân sự (ở tư cách tham gia: người nhận chuyển giao nhân danh chính mình, còn người đại diện nhân danh người được đại diện);
    • Phân biệt với thực hiện công việc không có ủy quyền (suy đoán ý chí và trách nhiệm phát sinh);
    • Phân biệt với quan hệ đồng ý cho người bị hạn chế NLHVDS xác lập giao dịch (bản chất là cơ chế hỗ trợ, giám sát bảo vệ quyền lợi gia đình, không phải thực hiện thay).
  • Ý nghĩa của đại diện: Làm rõ ý nghĩa về mặt xã hội (hỗ trợ các chủ thể yếu thế, phân công lao động xã hội) và ý nghĩa về mặt pháp lý (mở rộng khả năng tham gia lưu thông dân sự, bảo đảm an toàn pháp lý).

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật dân sự Việt Nam về đại diện

Chương này đi sâu phân tích toàn diện các quy định của BLDS năm 2015 và các văn bản liên quan:

  • Chủ thể đại diện:
    • Điều kiện của cá nhân, pháp nhân làm người đại diện: Năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự tương ứng; điều kiện đối với pháp nhân làm đại diện.
    • Xác định người đại diện theo pháp luật: Căn cứ xác định cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên; người giám hộ đại diện cho người được giám hộ; người đại diện theo pháp luật của pháp nhân (theo điều lệ hoặc chỉ định của cơ quan nhà nước).
    • Xác định người đại diện theo ủy quyền: Thỏa thuận ủy quyền, ủy quyền lại, phạm vi năng lực hành vi của người được ủy quyền.
    • Những trường hợp không được xác lập thông qua cơ chế đại diện: Các trường hợp luật định loại trừ tư cách đại diện nhằm tránh xung đột lợi ích.
  • Thời hạn và phạm vi đại diện:
    • Thời hạn đại diện: Cách tính và căn cứ xác định thời hạn theo thỏa thuận, theo văn bản ủy quyền hoặc theo quy định pháp luật; các trường hợp không xác định rõ thời hạn.
    • Phạm vi đại diện: Quyền hạn và giới hạn hành vi của người đại diện đối với tài sản và quyền lợi của người được đại diện.
  • Quy định hậu quả pháp lý trong đại diện:
    • Hậu quả pháp lý của giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện trong phạm vi đại diện (làm phát sinh quyền, nghĩa vụ trực tiếp cho người được đại diện);
    • Hậu quả pháp lý của giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện (không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp được người được đại diện công nhận hoặc biết mà không phản đối);
    • Hậu quả pháp lý của giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện; cơ chế bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình.
  • Chấm dứt đại diện:
    • Căn cứ chấm dứt đại diện theo ủy quyền (công việc hoàn thành, hết thời hạn, người ủy quyền/được ủy quyền chết hoặc chấm dứt tồn tại, đơn phương chấm dứt...);
    • Căn cứ chấm dứt đại diện theo pháp luật (con đã thành niên, người được giám hộ khôi phục năng lực hành vi, pháp nhân chấm dứt tồn tại...).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật dân sự về đại diện

Chương này đối chiếu quy định pháp luật với thực tế giải quyết tranh chấp tại Tòa án và đề xuất giải pháp:

  • Thực tiễn áp dụng pháp luật dân sự về đại diện:
    • Thực tiễn áp dụng quy định về đại diện theo pháp luật: Vướng mắc trong tranh chấp quyền đại diện cho con khi cha mẹ ly hôn; xung đột quyền đại diện giữa cha mẹ và người giám hộ; việc xác định người đại diện theo pháp luật của pháp nhân khi doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo LDN năm 2020 nhưng BLDS năm 2015 chưa có cơ chế công khai phạm vi thẩm quyền đối với bên thứ ba.
    • Thực tiễn áp dụng quy định về đại diện theo ủy quyền: Tranh chấp phát sinh do hợp đồng ủy quyền không ghi rõ phạm vi đại diện; tình trạng lạm quyền, vượt quá phạm vi ủy quyền; các trường hợp ủy quyền "giả tạo" nhằm che giấu giao dịch chuyển nhượng tài sản; việc giải quyết hậu quả pháp lý đối với người thứ ba ngay tình khi người đại diện vượt quá thẩm quyền.
  • Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam về đại diện:
    1. Kiến nghị hoàn thiện khái niệm đại diện trong dân sự: Sửa đổi Điều 134 BLDS năm 2015 theo hướng mở rộng đối tượng của đại diện từ "xác lập, thực hiện giao dịch dân sự" thành "xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự" hoặc "xác lập, thực hiện quan hệ dân sự".
    2. Không thừa nhận đại diện theo pháp luật của cá nhân đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là một trường hợp đại diện: Tách biệt việc người đại diện đồng ý cho người bị hạn chế NLHVDS xác lập giao dịch ra khỏi chế định đại diện, bởi đây là hành vi giám sát, bảo vệ tài sản chung của gia đình, không mang bản chất "làm thay".
    3. Hoàn thiện pháp luật về xác định người đại diện trong quan hệ dân sự: Bổ sung các tiêu chí cụ thể để Tòa án lựa chọn người đại diện theo pháp luật cho con chưa thành niên, người mất NLHVDS khi có sự tranh chấp giữa cha, mẹ hoặc giữa cha mẹ và người giám hộ.
    4. Hoàn thiện pháp luật về nội dung của hợp đồng ủy quyền: Quy định rõ các điều khoản bắt buộc về phạm vi, thời hạn, trách nhiệm bồi thường và giới hạn ủy quyền lại nhằm bảo vệ quyền lợi các bên.
    5. Hoàn thiện pháp luật về hình thức ủy quyền: Quy định thống nhất về hình thức của văn bản ủy quyền tương ứng với hình thức của giao dịch mà người đại diện được ủy quyền xác lập, thực hiện (đặc biệt là giao dịch bất động sản).
    6. Bổ sung các quy định để bên tham gia giao dịch xác định thẩm quyền và phạm vi đại diện của người đại diện của pháp nhân: Quy định cơ chế bắt buộc công khai phạm vi đại diện của người đại diện pháp nhân trong điều lệ hoặc hệ thống đăng ký kinh doanh quốc gia nhằm bảo vệ an toàn cho bên thứ ba.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Luận án đã làm sáng tỏ một cách hệ thống các vấn đề lý luận về đại diện trong quan hệ dân sự; phân tích sâu sắc bản chất pháp lý của đại diện là một quan hệ trái quyền đặc thù.
  • Luận giải cơ sở lý luận của chế định đại diện dựa trên sự tổng hòa của 03 học thuyết pháp lý nền tảng: học thuyết về sự bình đẳng trong xã hội, học thuyết về tự do ý chí và học thuyết về Nhà nước và pháp luật.
  • Tái định nghĩa khái niệm đại diện và xác định đối tượng của quan hệ đại diện bao gồm cả việc xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự khác ngoài giao dịch dân sự, khắc phục sự giới hạn của các định nghĩa pháp lý trước đây.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện

  • Đánh giá toàn diện thực trạng quy định của BLDS năm 2015 và các đạo luật liên quan (LDN năm 2020, Luật HN&GD năm 2014, BLTTDS năm 2015) về chế định đại diện từ khi có hiệu lực đến nay.
  • Nhận diện và phân tích sâu các vướng mắc, bất cập trong thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân đối với các tranh chấp về tư cách đại diện, phạm vi đại diện, vượt quá thẩm quyền và bảo vệ người thứ ba ngay tình.
  • Đưa ra hệ thống 06 nhóm giải pháp và kiến nghị lập pháp cụ thể, có luận cứ khoa học nhằm sửa đổi, bổ sung BLDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào việc phân tích các quy định của BLDS năm 2015 và thực tiễn áp dụng trong các quan hệ dân sự truyền thống. Do phạm vi của một luận án tiến sĩ luật học, công trình chưa thể bao quát toàn bộ các cơ chế đại diện đặc thù trong từng lĩnh vực chuyên ngành sâu như thương mại quốc tế, sở hữu trí tuệ hay chứng khoán.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu so sánh sâu hơn về cơ chế "đại diện bề ngoài" (apparent authority / agency by estoppel) theo kinh nghiệm của các nước Common Law và Nhật Bản để áp dụng hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
    • Nghiên cứu cơ chế đại diện trong bối cảnh phát triển của kinh tế số và trí tuệ nhân tạo, giải quyết vấn đề xác lập giao dịch thông qua các hệ thống tự động hóa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng trong nghiên cứu và thực tiễn pháp lý:

  • Cơ quan lập pháp và làm chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và các đề xuất sửa đổi cụ thể đối với Điều 134 và các điều khoản liên quan trong BLDS năm 2015.
  • Cơ quan xét xử và hành nghề luật (Tòa án, Viện kiểm sát, Luật sư, Công chứng viên): Phần đánh giá thực tiễn áp dụng tại Chương 3 giúp nhận diện các dạng tranh chấp phổ biến về ủy quyền, lạm quyền, đại diện của pháp nhân và cung cấp giải pháp xử lý tranh chấp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự và người thứ ba ngay tình.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Luật Dân sự & Tố tụng dân sự: Chương 1 và phần Tổng quan tài liệu cung cấp nguồn tư liệu học thuyết phong phú, phân tích chi tiết quá trình phát triển lịch sử chế định đại diện từ luật La Mã đến hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao tác giả cho rằng khái niệm đại diện tại Điều 134 BLDS năm 2015 còn bị bó hẹp?

Theo tác giả, Điều 134 BLDS năm 2015 chỉ xác định mục đích của đại diện là nhằm "xác lập, thực hiện giao dịch dân sự". Trên thực tế, có nhiều quan hệ dân sự khác cần đến người đại diện nhưng không phải là giao dịch dân sự, ví dụ: cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền công nhận thay đổi họ, tên, xác định lại dân tộc cho con. Do đó, việc giới hạn trong giao dịch dân sự làm thu hẹp phạm vi áp dụng của chế định đại diện.

2. Ba học thuyết nền tảng nào được tác giả sử dụng để luận giải chế định đại diện?

Tác giả dựa trên 03 học thuyết:

  1. Học thuyết về sự bình đẳng trong xã hội: Cơ sở để pháp luật bảo đảm cho người thiếu năng lực hành vi vẫn được tham gia quan hệ dân sự thông qua người đại diện một cách bình đẳng;
  2. Học thuyết về tự do ý chí: Cơ sở bảo đảm người được đại diện chỉ bị ràng buộc khi người đại diện hành động đúng ý chí và vì lợi ích của họ;
  3. Học thuyết về Nhà nước và Pháp luật: Cơ sở để Nhà nước đặt ra các quy phạm can thiệp, kiểm soát điều kiện, hình thức và thẩm quyền đại diện nhằm bảo vệ trật tự công và người thứ ba.

3. Tác giả phân biệt quan hệ đại diện với quan hệ ký gửi, đại lý ở điểm nào?

Điểm khác biệt căn bản nằm ở tư cách chủ thể: Trong quan hệ đại diện, người đại diện nhân danh người được đại diện để xác lập giao dịch với người thứ ba, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ trực tiếp giữa người được đại diện và người thứ ba. Ngược lại, trong quan hệ bán hàng ký gửi hoặc đại lý, người nhận ký gửi/đại lý dù thực hiện công việc cho bên ký gửi/giao đại lý nhưng lại nhân danh chính mình khi giao dịch với người mua, do đó không làm phát sinh quan hệ pháp lý trực tiếp giữa người ký gửi và người mua.

4. Tại sao luận án kiến nghị không thừa nhận việc đại diện đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là một trường hợp đại diện?

Theo luận án, bản chất của quan hệ đại diện là người đại diện "làm thay" và "nhân danh" người được đại diện vì lợi ích của họ. Trong khi đó, việc người đại diện theo pháp luật đồng ý cho người bị hạn chế NLHVDS (do nghiện ma túy hoặc chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản) xác lập giao dịch thực chất là cơ chế giám sát, quản lý nhằm bảo vệ tài sản và lợi ích của gia đình người đó, không mang bản chất đại diện làm thay.

5. Luận án đề xuất giải pháp gì đối với vấn đề người đại diện của pháp nhân theo Luật Doanh nghiệp năm 2020?

Luận án kiến nghị pháp luật dân sự cần bổ sung quy định cụ thể buộc pháp nhân phải công khai minh bạch phạm vi, thẩm quyền của từng người đại diện theo pháp luật (trong trường hợp pháp nhân có nhiều người đại diện) trong điều lệ hoặc hệ thống đăng ký thông tin quốc gia, tạo cơ sở pháp lý để bên thứ ba khi tham gia giao dịch có thể tra cứu, xác định chính xác thẩm quyền, tránh rủi ro giao dịch vô hiệu do vượt quá thẩm quyền đại diện.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Đại diện theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam" của tác giả Chu Thị Lam Giang là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về chế định đại diện trong luật học dân sự Việt Nam. Tác giả đã làm rõ bản chất lý luận của đại diện như một quan hệ trái quyền đặc thù dựa trên sự tích hợp của ba học thuyết pháp lý, đồng thời chỉ ra những bất cập trong việc giới hạn phạm vi đại diện của BLDS năm 2015. Thông qua việc phân tích thực tiễn xét xử và đối chiếu luật so sánh quốc tế, luận án đã đề xuất hệ thống 06 giải pháp lập pháp cụ thể nhằm hoàn thiện chế định đại diện, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người được đại diện, người đại diện và người thứ ba ngay tình trong các quan hệ dân sự.