Chương 1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số nghiên cứu về hành vi. Thuyết hành vi xuất hiện trên vũ đài khoa học vào thập kỉ thứ hai của thế kỉ XX nhằm tìm hiểu bản chất của hành vi con người. Trình độ phát triển khoa học lúc đó, trước hết là tâm lý học thực nghiệm và tâm lý học động vật, cũng như triết học thực chứng và chủ nghĩa thực dụng đã chuẩn bị cho sự xuất hiện ấy.
Thuyết hành vi cổ điển, đại diện là Wattson, đã nghiên cứu và cho rằng hành vi là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trả lời các kích thích tác động vào cơ thể. Từ đây nảy sinh công thức nổi tiếng của hành vi chủ nghĩa S (stimulus) — R (responses) (kích thích ~ phản ứng). Thuyết hành vi xã hội và tâm lý học hành vi tạo tác của Skinner kế thừa hành vi chủ nghĩa cổ điển, coi hành vi cơ thể là đối tượng nghiên cứu. Ông hiểu hành vi là cái mà “cơ thể làm ra, hay chính xác hơn là cái mà do cơ thể làm ra và một cơ thể khác quan sát thấy được”.
Nói một cách đơn giản, đó là các cử động của cơ thể hoặc từng bộ phận cơ thể để trả lời các tác động từ thế giới bên ngoài vào. Toàn bộ chức năng của cơ thể sống chính là ở các cử động đó. Tóm lại: Skinner chỉ lấy hành vi bể ngoài, được hiểu là một cử động, một phản ứng của hoạt động ở người làm đối tượng nghiên cứu tâm lý ;hành vi này có thể quan sát thấy từ ngoài.Như vậy, trong những thuyết hành vi nói trên ta thấy chỉ có vỏ của hành động, đó là mối quan hệ kích thích- phản ứng. Theo quan niệm hành vi chủ nghĩa, hành động của con người bị đơn giản hóa.
Bất cứ một phản ứng nào, dù đơn giản hay phức tạp, cơ co bóp hay thân cử động đều chỉ là một trong những biểu hiện bể ngoài của hoạt động con người. Trong khi hoạt động của con người có một cấu trúc thật là phức tạp, có nguồn gốc xã hội lịch sử và diễn biến theo các quy luật xã hội tâm lý của nó thì con người của thuyết hành vi chỉ như cái máy liên hợp các phản ứng quan sát được từ ngoài, chỉ là con người bị mất ý thức và có tên gọi là một con người máy tự động. Bởi vậy, tâm lý học hành vi không đi xa hơn nhiều lắm so với tâm lý học duy tâm nội quan. Tâm lý học Xô Viết: các ý định Om hiểu một cách khoa học bản chất của hành vi đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng chỉ với sự ra đời thuyết phản xạ của Paplov và thuyết hành vi (bao gồm cả thuyết hành vi cổ điển và tân hành vi) mới đạt được những thành tựu đáng kể.
Trong tâm lý học Xô Viết, hành vi con người được xem như là hoạt động, tuy ít nhiều mang yếu tố bẩm sinh nhưng chủ yếu chịu sự chỉ phối từ phía xã hội thông qua ngôn ngữ và các hệ thống tín hiệu ý nghĩa khác. Hình thức tiêu biểu nhất của hành vi người là lao động và giao tiếp. Sự độc đáo của hành vi cá nhân phụ thuộc vào tính chất của các mới quan hệ tương hỗ trong nhóm, thái độ của cá nhân đối với những chuẩn mực, định hướng giá trị và vị thế xã hội mà người đó đảm nhiệm. Sau khi tìm hiểu bản chất của hành vị các nhà tâm lý học tiến vào việc tìm hiểu những nguyên nhân hay yếu tố quyết định hành vi con người.
Trong lịch sử phát triển của mình tâm lý học đã chứng kiến hai cách lý giải hoàn toàn khác nhau. Thứ nhất là cách giải thích của trường phái coi hoàn cảnh xã hội là cái quyết định hành vi con người, đây là xu hướng nghiên cứu của tâm lý học xã hội. Trường phái thứ hai cho rằng hành vi con người do chủ thể hành vi, tức yếu tố con người với những đặc điểm nhân cách nhất định quyết định. Nhung cả hai trường phái trên chỉ lý giải hành vi con người phiến diện, chỉ thấy được một mặt của vấn để.
Từ đó nảy sinh một cách nhìn khác về vấn dé này, đó là những quan điểm của các thuyết tương tác cổ điển. Luận điểm cơ bản của các lý thuyết này cho rằng hành vi chịu sự ảnh hưởng của sự tương tác giữa yếu tố con người và yếu tố hoàn cảnh.(35,15] Quan điểm của tâm lý học Xô Viết vé cái quyết định hành vi trong cán cân nghiêng về phía diéu kiện hoàn cảnh. Tác giả Đôngôva cho rằng nguyên nhân của hành vi phạm tội của trẻ vị thành niên là "tác động qua lại nhất định giữa các yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan trong đó yếu tố khách quan mang ting chủ dao” [29,12]. Thuyết “quyết định luận tương hỗ" của Bandura thì giải thích sự vận hành con người là sự tương tác giữa hành vi, nhận thức và hoàn cảnh.
Ba yếu tố này vận hành tương tác với nhau và quyết định lẫn nhau. Con người có khả năng w điểu chỉnh, tự phản xạ và tham gia vào tương lai. Tự điểu chỉnh bản thân của hành vi đóng vai trò trung tâm trong thuyết về nhận thức xã hội. Quan điểm triết học Mác- Lênin cho rằng mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh là mối quan hệ biện chứng, trong đó như Mác đã nhận định rằng trong chừng mực con người tác động bao nhiêu lên hoàn cảnh thì nó cũng chịu tác động của hoàn cảnh 10 bấy nhiêu.
Như vậy mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh là mối qua hệ tương tác tương hỗ, mà ở đó con người vừa là chủ thể tác động. vừa chịu tác động của hoàn cảnh, môi trường sống. Nhưng con người không phải thích nghỉ một cách thụ động mà là một chủ thể tích cực của hành động, tác động có ý thức nhằm cải tạo hoàn cảnh xung quanh và điều chỉnh chính bản thân mình trong cuộc sống. Tiếp thu các quan điểm trên khi nghiên cứu thực tiễn các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu về hành vi ở lứa tuổi vị thành niên tiếp cận dưới góc độ hoàn cảnh, gan đây nhất có thể kể đến nghiên cứu “Những nguyên nhân dẫn trẻ em đến hư hỏng và phạm pháp” của Nguyễn Thị Héng Nga.
Qua nghiên cứu của mình tác giả Hồng Nga cho rằng “bối cảnh gia đình ly tán là môi trường rất thuận lợi để đẩy đứa trẻ ra ngoài xã hội”{38,21].Hay nghiên cứu “Một số nguyên nhân gia nhập nhóm bạn không chính thức, tiêu cực của trẻ vị thành niên” của Nguyễn Thị Hoa cho thấy chính “hoàn cảnh gia đình không thuận lợi, sự thất bại trong hoạt động học tập và quan hệ ở nhà trường có vấn để là những nguyên nhân chính đẩy các em ở tuổi vị thành niên đến với nhóm ban không chính thức, tiêu cực" [38,38]. Như vậy, trên mặt lý thuyết cũng như thực tiễn nghiên cứu đã chứng minh rằng hoàn cảnh là một yếu tố tạo nên hành vi ở on người nói chung ở thiếu niên nói riêng.2 Một số những nghiên cứu về gia đình — mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái ở tuổi thiếu niên. Từ ngàn xưa ông cha ta đã rất coi trọng những vấn để thuộc về gia đình, coi việc tạo dựng được một gia đình hạnh phúc, con cái được giáo dục là một thành công trong cuộc sống và tạo dựng được gia đình thì mới bắt tay vào làm được những việc to lớn hơn, “tu thân, té gia, trị quốc, bình thiên ha”. Có lẽ vì thế nên giáo dục con cái là nhiệm vụ rất quan trọng.
Điểu này được thể hiện qua các tác phẩm còn lưu truyền đến ngày nay như: "Gia huấn ca”, “Giáo huấn tử phd” của Mac Dinh Chi, “Bảo kính cảnh giới" của Nguyễn Trãi, “Bạch Vân gia huấn” của Nguyễn Binh Khiêm, “Cùng đạt gia huấn" - Bùi Huy Bích [21,30-52]. Nội dung của các tác phẩm này là những lời chỉ dạy giáo đục con trẻ. “Hiếu là trăm nét đầu lòng Người chẳng thuận thảo là dòng muông dê”, hay *Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh là câu trau mình ".v Nhìn chung các bài gia huấn dùng giáo dục trong phạm vi gia đình, đôi lúc chỉ là bộc phát để ran day con cái và những người trong gia đình. Nhưng theo thời gian, gia đình, một thiết chế cổ xưa nhất của loài người, cũng có sự thay đổi về loại hình cũng như kết cấu.
Quan niệm về các mối quan hệ trong gia đình cũng có sự thay đổi. Như thời phong kiến với tư tưởng "quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”. Những lời cha me dạy là “khuôn vàng thước ngọc” nếu con cái trái lời sẽ mang tội bất hiếu, cha mẹ có thể áp dụng mọi biện pháp để day dỗ con cái. Ngày nay quan niệm, phương pháp ứng xử, giáo dục con cái cũng có nhiều sự thay đổi do sự tiến bộ của xã hội.
Điều này được thể hiện qua sự quy định của pháp luật nhà nước, công ước về quyền trẻ em, sự hiểu biết về tâm lý lứa tuổi.vv Thế nhưng đối với mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình Việt Nam ngày nay có nhận xét rằng: “Xã hội đang chứng kiến những sai lệch chuẩn mực của nhân cách trẻ em mà một trong những nguyên nhân chính là từ gia đình” (31,214]. Trong gia đình, môi trường đào tạo đầu tiền của một đời người, thì sự gương mẫu của cha mẹ trong việc làm, thái độ, cách ứng xử.vv là những bài học có tính chất quyết định đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Thế nên, nhận thấy được mối quan hệ giữa sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ với giáo dục gia đình, người nghiên cứu tiến hành tìm hiểu những tác động của gia đình, cụ thể ở đây là cách ứng xử của cha mẹ đối với con cái là thiếu niên trong các vấn để của cuộc sống, đến nhân cách của thiếu niên được biểu hiện qua hành vi. Trước hết, người nghiên cứu xin khảo lược qua một số nghiên cứu để phần nào mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong xã hội hiện nay.
Để tài cấp nhà nước KX- 07- 09: “Vai trò của gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách của con người Việt Nam” [24]. Các nhà nghiên cứu đã sơ lược nêu lên đặc điểm nhân cách con người Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử của đất nước, nhận dạng gia đình Việt Nam trong giai đoạn đổi mới toàn diện vé kinh tế- xã hội hiện nay.