phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho thiếu nhi tại Nhà thiếu nhi thành phố; Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho thiếu nhi tại Nhà thiếu nhi Thành phố Thái Nguyên; Chƣơng 3: Các biện pháp tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho thiếu nhi tại Nhà Thiếu nhi Thành phố Thái Nguyên. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO THIẾU NHI TẠI NHÀ THIẾU NHI THÀNH PHỐ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống. Ngoài các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống của cá nhân như: Dorrothy I.
Ansell and Joan M. Morse - 1994 (Creative Life Skill Activities); Darlene Manix -1995 (Life Skills Activities for Secondary Students with Special Needs); Botvin -2001 (Life skills training: fact sheet), thì còn có các công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các tổ chức quốc tế như UNICEF, WHO, UNESCO mà tiêu biểu là: - Life skills Education in schools (WHO, 1997) - Skills for Health (WHO, 2001) - Life Skills in Non - Formal Education: A Review (UNESCO, 2001) Với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế như: UNICEF, UNESCO, UNFPA, WHO chương trình giáo dục kỹ năng sống đã được phát triển rộng khắp trên phạm vi toàn cầu. Các tổ chức này đã mở những cuộc hội thảo, cung cấp vật liệu, đồng thời phối hợp với nhau để đẩy mạnh hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong thanh thiếu niên, đặc biệt ở khu vực Mỹ Latinh và Caribe, khu vực Nam Phi và Botswana, khu vực Châu Á. Cũng nhờ vậy mà giáo dục kỹ năng sống được đặc biệt quan tâm hơn và có nhiều công trình hơn nghiên cứu về đề tài này, có thể kể đến như: - Các bài phát biểu tại diễn đàn giáo dục thế giới Dakar trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện chiến lược và chương trình giáo dục với UNESCO tại Hà Nội.
- Các bài phát biểu trong Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển và giáo dục cho mọi người. 5 - Tuyên bố về cam kết của Tiểu ban đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS. Ở Việt Nam, một trong những cơ sở nghiên cứu đưa Giáo dục kỹ năng sống vào giáo dục đào tạo là “Trung tâm nghiên cứu giáo dục đạo đức công dân”, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam. Một trong những người có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kĩ năng sống và Giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình.
Tác giả và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức kĩ năng sống và đề xuất yêu cầu tiếp cận kĩ năng sống trong giáo dục và Giáo dục kỹ năng sống ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng Giáo dục kỹ năng sống cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn thông qua giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên ở Việt Nam. Tác giả đã xây dựng được khung lí luận về giáo dục Giáo dục kỹ năng sống từ xác định thuật ngữ, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc, phương pháp giáo dục cho đến đánh giá kết quả và tác động của giáo dục Giáo dục kỹ năng sống. Năm 2005, bắt đầu có nhiều tài liệu, đề tài nghiên cứu được triển khai liên quan đến giáo dục kỹ năng sống trong các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông như: Dự án VIE 01/10 do UNFPA tài trợ “Giáo dục dân số và sức khoẻ sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khoá trong nhà trường”; đề tài cấp Bộ “Giáo dục một số kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông”, mã số B. 2005- 75- 126 do trung tâm nghiên cứu Giáo dục học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội triển khai.
Bên cạnh những nghiên cứu liên quan đến giáo dục kỹ năng sống trong giáo dục phổ thông, còn có một số tài liệu nghiên cứu khác đề cập đến giáo dục kỹ năng sống trong giáo dục thường xuyên. Tiêu biểu là một số Dự án hợp tác giữa Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục với văn phòng UNESCO Hà Nội:“Giáo dục kỹ năng sống ở trung tâm học tập cộng đồng” (2005); “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” (2006). 6 Giáo dục luôn là đề tài thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà lý luận và nghiên cứu. Là một lĩnh vực khá mới mẻ, Giáo dục Kỹ năng sống đương nhiên cũng nhận được nhiều quan tâm và hứng thú chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn.
Chỉ tính riêng trên địa bàn Thái Nguyên có thể kể đến luận văn của các tác giả như: - Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Biện pháp giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh tiểu học trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên, tích hợp thông qua môn Đạo Đức, Luận văn Thạc sỹ, 2009. - Phan Thanh Vân, Giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh THPT thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, Luận văn Tiến sỹ, 2010. Hai luận văn này mặc dù đều đề cập đến Giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh Thái Nguyên tuy nhiên đối tượng hướng tới lại khác nhau, một là học sinh tiểu học và một là học sinh cấp III. Ngoài ra, trên địa bàn toàn quốc cũng có các luận văn nghiên cứu về lĩnh vực này như: - Mai Hiền Lê, Kỹ năng sống của trẻ em lớp Mẫu giáo lớn trường Mầm non Thực hành TP.
Hồ Chí Minh,Luận văn Thạc sỹ, 2010. - Nguyễn Thị Thu Hằng, Giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam (qua các môn Tự nhiên, Khoa học và xã hội), Luận văn Thạc sỹ, 2013. Không chỉ đối tượng hướng tới là khác nhau (trẻ em mẫu giáo và học sinh dân tộc thiểu số), hai luận văn còn có cách tiếp cận vấn đề khác nhau. Nếu như Luận văn của TS Mai Hiền Lê bao quát các vấn đề về Kỹ năng sống của các em mẫu giáo ở một trường mầm non thì luận văn của TS Nguyễn Thị Thu Hằng tuy đối tượng rộng hơn là tất cả học sinh dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nhưng nội dung tập trung hướng tới một cách rõ ràng về phương thức giáo dục kỹ năng sống qua các môn học trong chương trình.
7 Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh phổ thông đã có một số công trình luận văn thạc sĩ nghiên cứu như tác giả Nguyễn Thị Luân( 2013); Nguyễn Thanh Xuân( 2014) và nhiều công trình nghiên cứu khác vv… Nhìn chung, đề tài kỹ năng sống đã được nghiên cứu và khai thác không ít và cũng đã được một số trường phổ thông và trung tâm đưa vào tích hợp trong giảng dạy các môn. Tuy nhiên hiện vẫn chưa có bài viết nào đi sâu vào các biện pháp tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho các em thiếu nhi ở một trung tâm giáo dục ngoài nhà trường dành cho thiếu nhi như Nhà thiếu nhi. Đây chính là đóng góp mới của tác giả gửi gắm trong bài viết, nhằm đề ra những giải pháp và biện pháp thực hiện hiệu quả. Các khái niệm công cụ của đề tài 1.
Kỹ năng sống Có nhiều công trình nghiên cứu về KN và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, qua nghiên cứu chúng tôi thấy nổi lên ba khuynh hướng sau: - Khuynh hướng thứ nhất KN được xem xét nghiêng về kỹ thuật hành động phù hợp với mục đích và điều kiển hoạt động mà con người đã nắm vững. Quan điểm này có các tác giả như: Kruchexky,V. thì “ KN là các phương thức hoạt động những cái gì con người đã nắm vững”. Ông cho rằng, khi nắm vững phương thức hành động là con người đã có KN, không cần đến kết qủa của hành động.Petrovxki: KN là sự vận dụng những tri thức, kỹ xảo đã có để lựa chọn thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đề ra.Covaliop lại cho rằng: KN là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động.
[11] - Khuynh hướng thứ hai Xem xét KN nghiêng về mặt năng lực con người, khẳng định KN được xem như một thành tố quan trọng để thực hiện một công việc có kết quả với 8 chất lượng cần thiết và với một thời gian tương ứng trong điều kiện có thể. KN không chỉ là mặt kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện của năng lực. Khuynh hướng này chú ý đến kết quả của hành động. Có thể kể tới các nhà khoa học tiêu biểu cho khuynh hướng này như: Levitop, Platonov, K.
- Khuynh hướng thứ ba KN là hành vi ứng xử. Trong vài năm gần đây, một cách tiếp cận khá mới mẻ về KN được nhiều nhà nghiên cứu chú ý. KN được coi là hành vi ứng xử của cá nhân. Tuy nhiên, coi KN là hành vi, các tác giả chưa quan tâm nhiều đến mặt kĩ thuật của nó.
Hiểu KN theo cách này có thể sẽ gặp khó khăn trong việc đào tạo KN và thiết kế các công cụ đo lường đánh giá chúng. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiếp cận khái niệm KN theo quan điểm của tác giả Đặng Thành Hưng. Theo quan điểm này khi xem xét KN cần lưu ý những điểm sau: [8]. - KN là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học - tâm lí khác của cá nhân (chủ thể có KN đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân…để đạt được kết quả theo mục đích hay chủ đề đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay qui định.
- KN không phải là một hành động tự động hóa mà có tính linh hoạt, di chuyển được trong những hoàn cảnh khác nhau. - KN luôn được ý thức kiểm soát. Quá trình hình thành và phát triển các KN của cá nhân luôn gắn liền với những điều kiện tâm sinh lí, xã hội như: nhu cầu, ý chí, tình cảm, tâm vận động… - Tính đầy đủ, hợp lý, sự thành thạo, tính linh hoạt, tính hiệu quả là tiêu chuẩn quan trọng để xác định mức độ hình thành và phát triển của KN. Một 9 hành động chưa thể được gọi là KN nếu còn mắc nhiều lỗi vụng về, các thao tác diễn ra theo khuôn mẫu, cứng nhắc, hiệu quả công việc thấp.
- KN không phải sinh ra đã có, KN là sản phẩm của hoạt động thực tiễn. Đó là quá trình con người vận dụng những tri thức và kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn để đạt được mục đích đề ra.