CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Trên thế giới Khái niệm kỹ năng sống (KNS) và giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ XX trong một số chương trình giáo dục của UNICEF.
Những nghiên cứu ở giai đoạn này tập trung đi tìm một định nghĩa chung về kĩ năng sống, cũng như chỉ ra một danh mục các kĩ năng sống cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Những năm 1994 - 1996 Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trên thế giới trong đó có các nước Đông Nam Á, đây là một trong những dự án nghiên cứu có tính hệ thống về kĩ năng sống. Năm 2003, tiế n si ̃ Elizabeth Dunn và J.Gordon Arbuckle của trường đại hoc Missouri thuộc Colombia đã công bố kế t quả nghiên cứu về KNS của trẻ em có cha phạm tội và chỉ ra những thiế u hụt về KNS của những trẻ có hoàn cảnh như vậy. Đồ ng thời phân tích và đo lường trình độ ̣KNS mà các em có được khi tham gia chương trình giáo dục.
Năm 2013, Mari-Jane Williams có bài báo được đăng trên tờ The Washington Post với nội dung các kỹ năng sống tuổi teen cần có sau khi tốt nghiệp THPT (Life skills all teens should have before graduating from high school). Nội dung được đề cập là những định hướng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cần có trong gia đình và xã hội tương lai [45]. Từ đó, giáo dục KNS cho học sinh được đăt ra như một nội dung quan trọng trong nhà trường nhằ m trang bị c̣ ho học sinh có kỹ năng cầ n thiế t để thích ứng với môi trường sống đang thay đổi một cách hiệu quả. Tại Việt Nam Trong lịch sử Việt Nam việc giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) cho trẻ em đã có từ lâu như học ăn, học nói, học gói, học mở, học để làm người, để ứng phó với thiên nhiên.
Đó là những kỹ năng mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống xã hội trong từng giai đoạn. Ở Việt Nam thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong các trường phổ thông từ những năm 1995- 1996, thông qua Dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện. Trong chương trình này chỉ giới thiệu những kỹ năng cơ bản như: kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị và kỹ năng ra quyết định. Quan niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình này đặt mục tiêu nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn.
Giai đoạn 2 của chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và kĩ năng sống”, trong giai đoạn này khái niệm KNS và GDKNS được phát triển sâu sắc hơn. Khái niệm “kỹ năng sống” được hiểu rõ hơn sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNICEF và Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục tổ chức từ ngày 23 - 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. Từ năm học 2002 - 2003 ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông trong cả nước. Theo đó các nội dung GD KNS được triển khai theo các cấp học và được chủ yếu thông qua chương trình các môn học và các hoạt động GD của nhà trường cùng với một số chương trình dự án do nước ngoài tài trợ như: Dự án VIE 01/10 do UNFPA tài trợ đã biên soạn tài liệu “Giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khóa trong nhà trường”; Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) đã hỗ trợ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh dự án: “Hỗ trợ tăng cường sức khỏe 6 vị thành niên”; tổ chức UNESCO hợp tác với Viện chiến lược giáo dục thực hiện xây dựng tài liệu GDKNS cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn.
Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức KNS và đề xuất yêu cầu tiếp cận KNS trong GD và GD KNS ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng GD KNS cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn thông qua GD chính quy và GD thường xuyên ở Việt Nam. [3] Năm 2007 với đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ: “Giáo dục một số KNS cho học sinh trung học phổ thông” do tác giả Nguyễn Thanh Bình làm chủ nhiệm, kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ của các em còn hạn chế. Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, xác định nhu cầu GDKNS, đề tài xây dựng chương trình GDKNS cho học sinh thông qua HĐGD NGLL. Năm học 2008-2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát dộng phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong đó có nhấn mạnh nội dung rèn KNS cho HS; tiếp đó là các chương trình tập huấn GD KNS cho đội ngũ giáo viên cốt cán của các tỉnh làm nòng cốt triển khai GD KNS trong các nhà trường.
Năm học 2010 - 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xuất bản bộ tài liệu dành cho giáo viên, tích hợp nội dung GD KNS trong các môn học và trong HĐTN và được triển khai thực hiện trong các nhà trường. Tác giả Phạm Duy Phương (2015), Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT Quận 6 - Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục, Trường ĐH Giáo dục - ĐHQG Hà Nội. Trong đó, qua việc nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, đề xuất những biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT Quận 6 - Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh THPT[30]. Tác giả Trần Thị Thu Hiền (2017), Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Trung học phổ thông Quế Lâm - tỉnh Phú Thọ, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục, Trường ĐH Giáo dục - ĐHQG Hà Nội.
7 Trong đó, Trong các trường phổ thông, giáo dục toàn diện học sinh là một hoạt động được quy định rất cụ thể trong điều lệ trường học. Trong các hoạt động giáo dục thì hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống hiện nay trong các trường phổ thông được các nhà quản lý rất quan tâm. Từ vấn đề nghiên cứu người thực hiện mong muốn quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong cơ sở giáo dục của mình có những thay đổi về nhận thức, nội dung, cách thức tổ chức và triển khai các hoạt động GD KNS… Từ đó tạo nên sự hào hứng, hấp dẫn cho học sinh. Giúp cho học sinh có những bài học cụ thể và tự trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống[20].
Tác giả Ngô Thị Ngọc Lan (2017), Quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động xã hội cho học sinh các trường THPT Huyện Thủy Nguyên, Thành Phố Hải Phòng, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục, Trường ĐHSP - Đại học Thái Nguyên. Trong đó, Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý giáo dục KNS thông qua hoạt động xã hội cho học sinh các trường THPT huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục KNS thông qua hoạt động xã hội cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh[23]. Các công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục KNS đã đi sâu nghiên cứu một số lĩnh vực nội dung và phương thức GDKNS, đã phân tích làm rõ thực trạng của giáo dục KNS cho học sinh ở các trường THPT hiện nay, một số đề tài đã đề cập đến những hình thức giáo dục KNS cụ thể trong nhà trường phổ thông, đề xuất các biện pháp giáo dục KNS cho học sinh. Hiện nay ở các trường THPT việc giáo dục KNS cho HS được thực hiện tích hợp vào một số môn học và các hoạt động tập thể, hoạt động trải nghiệm trong nhà trường, chưa có môn học hay chuyên đề riêng.
Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu giáo dục KNS theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 nhằm tạo ra sự thống nhất nhận thức và hành động góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường. Những khái niệm cơ bản của đề tài 1. Kỹ năng sống Trong nghiên cứu ở các nước và tổ chức quốc tế có nhiều định nghĩa về kỹ năng sống, có thể kể đến một số định nghĩa tiêu biểu như sau: Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) định nghĩa: kỹ năng sống là kỹ năng giúp con người sinh tồn và phát triển. Quan điểm này khá rộng, nó được dựa trên bốn mục tiêu (trụ cột) giáo dục cho thế hệ trẻ đó là: Học để biết - Học để làm - Học để chung sống - Học để tự khẳng định mình [46].
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) (1997) định nghĩa: Kỹ năng sống là khả năng đưa ra những ứng xử và hành vi tích cực giúp cá nhân thích nghi có hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày. Quan điểm này nhấn mạnh đến kỹ năng giáo tiếp và những hành vi tích cực mà con người cần phải có trong xã hội hiện đại. Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) (2012) cho rằng: Kỹ năng sống là kỹ năng tâm lý xã hội liên quan đến kiến thức, thái độ và hành vi tích cực giúp con người thích nghi và giải quyết có hiệu quả những thách thức của cuộc sống” [47]. Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến kỹ năng tâm lý xã hội với sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi giúp con người có thể thay đổi thói quen không phù hợp để hình thành hành vi mới.
Ở Việt Nam, tác giả Trần Anh Tuấn (2012) định nghĩa: “kỹ năng sống là một tổ hợp các kỹ năng tạo thành năng lực sống, giúp con người tham gia tích cực vào cuộc sống hàng ngày có kết quả, trong những điều kiện xác định ” [38]. Qua các định nghĩa trên cho thấy các tác giả đều nhấn mạnh kỹ năng sống là kỹ năng tâm lý - xã hội giúp con người duy trì trạng thái tích cực khi tương tác với môi trường xung quanh.