CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÓ KẾT QUẢ RÈN LUYỆN CHƯA TỐT Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện tương đối sớm và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Đạo đức được hiểu Là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội.
Đạo đức là một từ Hán-Việt, được dùng từ xa xưa để chỉ một yếu tố trong tính cách và giá trị của mỗi con người. Là hệ thống các quy tắc về chuẩn mực của cộng đồng và xã hội. Đạo là con đường, đức là tính tốt hoặc những công trạng tạo nên. Khi nói một người có đạo đức là ý nói người đó có sự rèn luyện thực hành các lời răn dạy về đạo đức, sống chuẩn mực và có nét đẹp trong đời sống và tâm hồn.
Đạo đức gắn liền bản chất con người với đời sống xã hội, đồng thời nó được xem như một biểu hiện đặc trưng về nhân cách con người. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh các quan hệ ứng xử giữa con người với con người, con người với xã hội, con người với tự nhiên. Xuất phát từ những lợi ích và quan hệ lợi ích nhất định, người ta phân biệt cái tốt với cái xấu, cái hay với cái dở, cái thiện với cái ác… thể hiện trong hành vi đạo đức cũng như trong động cơ và kết quả của hình vi đạo đức con người. Do đó, đạo đức một mặt gắn liền với con người cụ thể, mặt khác nó cũng gắn với mỗi giai cấp, mỗi dân tộc tạo nên nền tảng đạo đức của mỗi xã hội nhất định.
Nhờ nền tảng đạo đức ấy, xã hội có sự ổn định, bền vững và phát triển hoàn thiện hơn. Trong mọi thời đại, vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh luôn được xác định 7 là vấn đề quan trọng hàng đầu trong các bậc học nói chung và trong bậc học THCS nói riêng Vấn đề về đạo đức được quan tâm ở mọi thời đại: Ở phương Đông, vấn đề đạo đức được quan tâm từ rất sớm. Khổng Tử (551 – 497 TCN) nhà giáo dục lớn Trung Hoa phong kiến mà tư tưởng của ông đã trở thành một “Đạo” có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở các quốc gia khác trong đó có Việt Nam. Trong các công trình nghiên cứu của mình, ông cũng luôn đề cao đạo đức và GDĐĐ cho con người.
Với Khổng Tử đạo đức là gốc của con người, nói đến con người trước hết là nói đến đạo đức. Quan niệm về đức của Khổng Tử có nhiều ý tưởng sâu sắc và phong phú. Những quan niệm đó thể hiện lòng tin ở tính thiện của con người và chủ trương bồi dưỡng, phát huy thiện đức của con người. Ở phương Tây nhà triết học J.Cô-men-xki (1592 – 1670) là nhà giáo dục vĩ đại của dân tộc Séc và của thế giới.
Một trong những vấn đề ông đặc biệt quan tâm là đức dục. Theo ông, có bốn đức hạnh cơ bản cần giáo dục cho học sinh là: Tính công bằng, tính thận trọng, đức tính điều độ, biết nhường nhịn. Ưu điểm nổi bật là J.Cô-men-xki không dừng lại ở lí luận, lí thuyết chung chung mà ông luôn gắn nó với thực tiễn. Ông cho rằng, đức hạnh con người cuối cùng phải thể hiện ở hành vi giao tiếp, đó là việc xử sự giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng trong lời ăn, tiếng nói, cách chào hỏi, đi đứng, biểu hiện thái độ, v.
Vì vậy, ông chú ý đến việc giáo dục hành vi cụ thể, chi tiết. Chẳng hạn, ông viết: “Nơi nào đông người mà nói năng thô tục, bạn hãy coi đó là liều thuốc độc. Cuộc trò chuyện không lịch sự làm hỏng những người lịch sự”, “Bất cứ lời nói nào cũng cười là thuộc tính của người vô duyên nhưng ngược lại, nếu không biết cười lại là người ngu ngốc” v.Mác (1818 -1883), người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, Cho rằng: “Con người phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nền giáo dục 8 cộng sản chủ nghĩa và con người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng lực, óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra chung quanh,. Bước sang đến thế kỉ XX, đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đức cho thanh niên, học sinh cũng có nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học nổi tiếng thế giới như: Theo V.Xu-khôm-lin-xki “Giáo dục, dạy học trước hết là sự giao tiếp tâm hồn.
Nếu không có sự giao tiếp tâm hồn thường xuyên giữa thầy giáo và học sinh, nếu không có sự thâm nhập vào thế giới tư tưởng, tình cảm, rung động của nhau thì không thể có năng lực xúc cảm, yếu tố cốt tử của năng lực sư phạm, năng lực giáo dục”. Bandzeladze: “Đạo đức của con người là năng lực phục vụ một cách tự giác và tự do những người khác và xã hội. Nơi nào không có hoạt động tự nguyện, tự giác của con người thì nơi ấy không thể có nhân phẩm, không thể thực sự có đời sống xã hội. Đặc trưng của đời sống con người và của bản thân tính người hoặc nhân phẩm là ở đạo đức và nội dung của đạo đức chính là năng lực phục vụ một cách tự giác lợi ích của người khác và của toàn xã hội”[23].
Như vậy có thể thấy cả phương Đông, phương Tây đều rất chú trọng đề cao vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức qua đó hình thành và phát triển nhân cách con người. Ở Việt Nam Trong truyền thống giáo dục đạo đức của dân tộc, ông cha ta luôn đề cao nguyên lý giáo dục “Tiên học lễ, hậu học văn”, luôn đề cao tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết đặc biệt là luôn đề cao chữ “Đức”. Chính vì thế mà từ xa xưa ông cha ta đã đề cao việc dạy “dạy chữ” phải song song với việc “dạy người”. Sinh thời Bác đã rất quan tâm đến việc giáo dục 9 đạo đức nhà trường.
Bác đã từng nói: “Dạy cũng như học, phải coi trọng cả đức và tài. Đức là đạo đức cách mạng đó là điều rất quan trọng” [17, tr329]. Bác khẳng định: “Đạo đức là nguồn nuôi dưỡng, phát triển con người cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì nước sẽ cạn” [15, tr252]. Vì vậy trong nhà trường phải dạy cho học sinh biết “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào, học tập tốt, lao động tốt, đoàn kết tốt, kỷ luật tốt, giữ gìn vệ sinh thật tốt, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” [12].
Kế thừa tư tưởng của Hồ Chí Minh, ở nước ta đã có nhiều tác giả nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức ở các môi trường, hoạt động, hay các lĩnh vực khác nhau. Nhà nghiên cứu Hà Thế Ngữ một giáo sư, tiến sĩ, một nhà giáo dục học Việt Nam đã nghiên cứu về vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các môn KHXH và nhân văn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức cách mạng, hướng dẫn các hành vi đạo đức cho học sinh. Trong cuốn sách: “Về phát triển toàn diện con người trong thời ký công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của GS.TS Phạm Minh Hạc- nhà nghiên cứu giáo dục hàng đầu của Việt Nam cùng một số tác giả khác đã bàn về nguyên nhân dẫn đến thực trạng đạo đức học sinh hiện nay đồng thời nêu lên những mục tiêu và đưa ra những giải pháp giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [7]. Tác giả Phạm khắc Chương, Hà Nhật Thăng trong cuốn sách “Đạo đức học” (Nhà xuất bản giáo dục, 1998) đã đề cập đến vấn đề đạo đức nhằm giúp giáo viên có một cơ sở vững chắc để dạy học cho học sinh.
Các tác giả đã bàn nhiều về giáo dục đạo đức như phạm trù giáo dục đạo đức trong gia đình, tình yêu. từ đó các tác giả đưa ra các nhận định và đề xuất một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức trong các nhà trường phổ thông [6]. 10 Trong công trình nghiên cứu của mình: “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại”, tác giả Thái Duy Tuyên đã đánh giá về thực trạng và tỏ ra rất lo lắng trước sự sa sút về đạo đức ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn chất lượng và mức độ nguy hại của một số bộ phận học sinh. Tác giả kết luận: Đạo đức học sinh đang trên đà giảm sút và cho rằng giáo dục đạo đức là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội đồng thời kiến nghị cần đẩy mạnh hơn nữa về công tác giáo dục đạo đức [17].
Ngoài ra, trên các sách, báo, luận án tiến sĩ nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về vấn đề cơ bản của lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; mối quan hệ giữa lối sống, đạo đức với phát triển văn hóa và con người; sự tác động của những nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội tới lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội truyền thống và cách mạng; những kinh nghiệm và bài học về xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị ở một số nước; thực trạng phương hướng, quan điểm và giải pháp xây dựng lối sống đạo đức, chuẩn giá trị trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước như: tác giả Đặng Quốc Bảo trong bài viết: “Rèn luyện lòng tự trong trong giáo dục hiện nay” trên báo Giáo dục và thời đại số đặc biệt cuối tháng 5/2012 đã khẳng định: “Các gia đình, các nhà trường, các đoàn thể trong xã hội ta thời gian qua đã có rất nhiều cố gắng giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, cho các thành viên. Tuy nhiên ta mới chú trọng đến giáo dục đạo đức hướng ngoại mà chưa coi trọng giáo dục đạo đức hướng nội là giáo dục biết hổ thẹn, xấu hổ, lòng chân chính tự ái, tự trọng. Chiến lược giáo dục của đát nước ta trong thời kì đổi mới, mục tiêu Nhân cách - Nhân lực của nền giáo dục nước ta trong thời kì đổi mới rất cần có sự nhấn mạnh chủ đề này trong các bài học về đạo làm người cho thế hệ trẻ” [2].