Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường tiểu học Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở các trường tiểu học Thành phố Thủ Dầu Một Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học Thành phố Thủ Dầu Một. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO Ở CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, kỹ năng sống (KNS) và vấn đề GDKNS cho trẻ em là một vấn đề đang rất được quan tâm.
Ở một số quốc gia, GDKNS được lồng ghép vào các môn học, chủ đề, nội dung, dưới nhiều hình thức khác nhau: Tại Indonexia: KNS được quan niệm là những kỹ năng, kiến thức, thái độ giúp người học sống một cách độc lập. KNS rộng hơn kỹ năng nghề nghiệp. Người thất nghiệp hay người về hưu, người đang đi làm hay đang đi học cũng cần có KNS vì ai cũng có những vấn đề đối phó [10, tr. Tại Philippines: KNS được quan niệm là những năng lực thích nghi và tính tích cực của hành vi giúp cho cá nhân có thể ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, những thay đổi, những trải nghiệm và tình huống của đời sống hàng ngày [10, tr.
39] Tại Campuchia: Để nâng cao các điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia nên KNS là năng lực mà con người cần phải có; Kỹ năng tìm việc làm và kiếm tiền để nuôi sống bản thân và gia đình là những kỹ năng quan trọng đối với thế hệ trẻ và người lớn [10, tr. 39] Tại Ấn Độ: KNS được quan niệm là những khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người [10, tr. Tại Bhutan: Kĩ năng sống được quan niệm là bất kì kĩ năng nào góp phần phát triển xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, tinh thần và tạo quyền cho cá nhân trong cuộc sống hàng ngày của họ, đồng thời giúp họ xóa bỏ nghèo khổ để có nhân phẩm và cuộc sống hạnh phúc trong xã hội [11,tr. Tại Nepal: Kĩ năng sống được coi như là một phương thức để ứng phó hay là những kĩ năng cần thiết để tồn tại.
Tác giả Nguyễn Huỳnh Mai– Liège, B (2012) [17] trong bài Kỹ năng sống cho học sinh bậc Tiểu học - Kinh nghiệm từ một nhà giáo ở B đã ch ra cách dạy và định hướng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học tại B và khẳng định một trong những sứ mạng của trường Tiểu học là giúp cho trẻ tự lập, và tạo điều kiện, tạo môi trường để trẻ phát triển kỹ năng sống. Cho trẻ học kỹ năng sống và kỹ năng tự lập sẽ hình thành cho trẻ nhân cách tốt. 7 Tác giả Diane TillMan (2009) trong cuốn Những giá trị sống cho tuổi trẻ (NxbTổng hợp TP Hồ Chí Minh [9] “Giáo dục các giá trị sống để có kỹ năng sống ngày càng được nhìn nhận là có sức mạnh vượt lên khỏi lời răn dạy đạo đức chi tiết đến mức hạn chế trong cách nhìn hoặc những vấn đề thuộc về tư cách công dân. Nó đang xem là trung tâm của tất cả thành quả mà giáo viên và nhà trường tâm huyết có thể hy vọng đạt được thông qua việc dạy về giá trị, kỹ năng sống”.[9] Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra nguyên tắc cơ bản để định hướng giáo dục kỹ năng sống trong thực tiễn: “Tất cả thế hệ trẻ và người lớn có quyền hưởng lợi từ một nền giáo dục chứa đựng các hợp phần học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người và học để khẳng định mình.
Giáo dục hướng vào yêu cầu bồi dưỡng năng khiếu tiềm năng và phát triển cá tính người học cần quan tâm kết hợp kỹ năng thực hành và các khả năng tâm lí xã hội, đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năng sống và tác dụng của kỹ năng sống đối với xã hội và cá nhân.[25] Hội nghị giáo dục Thế giới họp tại Dakar – Thủ đô Senegan tháng 4 năm 2004 đã thông qua Kế hoạch hành động Giáo dục cho mọi người - gọi tắt là Kế hoạch Dakar, bao gồm 6 mục tiêu [10] Trong đó, Mục tiêu 3 nêu rõ: Đảm bảo nhu cầu học tập cho tất cả các thế hệ trẻ và người lớn được đáp ứng thông qua bình đẳng tiếp cận với các chương trình học tập và chương trình kỹ năng sống thích hợp. Hội nghị Thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em, họp ngày 20 – 30/03/1990 tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York đã tuyên bố: “Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc. Đồng thời các em ham hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng. Tuổi của các em phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển.
Tương lai của các em phải được hình thành trong sự hoà hợp và hợp tác”. Nhận định trên muốn nhấn mạnh đến nhiệm vụ học tập, môi trường học tập dành cho trẻ em cần phải được quan tâm đúng cách. Học sinh đến trường không ch học để có tri thức mà cần phải biết cách học để có sức khoẻ, có kỹ năng nghề nghiệp, có những giá trị đạo đức, thẩm mỹ, nhân văn đúng đắn vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội, vừa đậm đà bản sắc dân tộc lại vừa mang tính phổ quát toàn cầu,. tức là mỗi học sinh luôn phải học, tự học những kỹ năng nhất định trong môi trường thích hợp để tồn tại và phát triển.[26] Năm 1996: Quĩ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) thông qua chương trình GDKNS để bảo vệ sức khỏe và chống HIV/AIDS cho thanh niên trong và ngoài nhà 8 trường.
Nhìn chung, ở mỗi tác giả, quốc gia trên thế giới đều có sự khác biệt về quan niệm và nội dung, có nước thực hiện theo đúng chuẩn kỹ năng nhưng cũng có nước mở rộng thêm chứ không ch bao hàm KNS là những khả năng về tâm lý và xã hội. KNS được lồng ghép ở cả giáo dục chính quy (giáo dục trong chương trình đào tạo) và cả giáo dục không chính quy (hoạt động ngoại khóa-hoạt động ngoài giờ lên lớp). Những quan niệm, nội dung GDKNS được triển khai vừa thể hiện nét đặc thù, vừa thể hiện nét riêng của từng quốc gia. Tuy nhiên, các quốc gia cũng mới bước đầu triển khai chương trình và biện pháp GDKNS nên chưa thật toàn diện và sâu sắc, vì chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng KNS của người học sau khi được trang bị hay huấn luyện KNS.
Các nghiên cứu trong nước Thuật ngữ KNS cũng được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996) mang tên GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường. Đã có nhiều sách, tài liệu được xuất bản về GDKNS thông qua Dự án như: - Cuốn “GDKNS trong GD sức khoẻ cho HS” (1998), do Nguyễn Võ Kỳ Anh - chủ biên. - Tài liệu “GDKNS bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS trong trường học” (1999), do nhóm tác giả Đoàn Thị My, Phan Thị Lê Mai biên soạn. Tháng 9 năm 2003, Bộ GD&ĐT phối hợp cùng UNICEF thực hiện chương trình thực nghiệm mang tên: “GD sống khỏe mạnh và KNS cho HS THCS”.
Năm 2003, hội thảo “Chất lượng GD và KNS” do Tổ chức khoa học, GD và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) tài trợ được tổ chức nhằm làm sáng tỏ hơn khái niệm KNS ở Việt Nam. Theo quan điểm của UNESCO, KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Khái niệm KNS của tổ chức này dựa trên 4 trụ cột GD là: Học để biết, học để làm, học để tồn tại, học để cùng chung sống. Từ năm học 2008-2009: Bộ GD&ĐT ban hành Ch thị số 40/2008/CT- BGDĐT ngày 22/7/2008 về việc phát động phong trào thi đua Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013 với một trong 5 nội dung cần thực hiện là rèn luyện KNS cho HS, cụ thể: Rèn luyện KN ứng xử hợp lí với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và KN làm việc, sinh hoạt theo nhóm; rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, KN phòng, chống tai nạn 9 giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; rèn luyện KN ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội [10] Năm 2011: Bộ GDĐT mở khóa tập huấn tăng cường GD KNS trong một số môn học và hoạt động GD ở trường phổ thông cho hơn 700 GV đại diện cho 23 t nh phía Nam; một số chương trình dự án như: chương trình thực nghiệm “GD sống khỏe mạnh và KNS” do UNICEF hỗ trợ đã được triển khai thí điểm ở 20 trường học thuộc 5 quận, huyện của các t nh: Lạng Sơn, An Giang, Hà Nội và T nh Trà Vinh.
Năm 2013: Bộ GD&ĐT xây dựng kế hoạch số 1088/KH-BGDĐT ngày 29/8/2013 về việc hoàn thiện bộ tài liệu GDKNS trong một số môn học và hoạt động GD cấp tiểu học, THCS và THPT trên toàn quốc. Từ năm học 2013-2014, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 26/2012/TT- BGDĐT ngày 10/7/2012; Thông tư số 32/2011/TT-BGDĐT ngày 8/8/2011 ban hành quy định quy chế, nội dung, chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho GV Mầm non, phổ thông và GD thường xuyên, trong đó có nội dung về GDKNS cho HS. Thông qua bồi dưỡng thường xuyên trang bị cho GV những kiến thức, PP tổ chức các hoạt động GD KNS tích hợp trong các môn học và các hoạt động GD khác [11], [16]. Năm 2014: Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 04/2014/TT/BGDĐT ngày 28/02/2014 kèm theo quy định quản lí hoạt động GD KNS và hoạt động GD NGLL chính khóa, quy định về đối tượng, phạm vi, nội dung, PP, trách nhiệm của các cấp có thẩm quyền về thủ tục cấp phép cho các cơ sở, trung tâm GD KNS.
Năm 2015: Bộ GD&ĐT ban hành công văn số 463/BGD ĐT-GDTX ngày 28/01/2015 về việc hướng dẫn triển khai thực hiện GD KNS tại các cơ sở GD mầm non, GD phổ thông và GD thường xuyên. Nội dung công văn ch rõ: mục đích, yêu cầu và nội dung GD KNS cho học sinh một cách cụ thể theo từng cấp học.