Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ THCS 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Trong lịch sử cũng như những nghiên cứu đề cập tới vấn đề giáo dục KNS. Rabơle (1494 - 1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và tư tưởng giáo dục thời kì văn hóa Phục hưng.
Ông đòi hỏi việc giáo dục phải bao hàm các nội dung: "Trí dục, đạo đức, thể chất, thẩm mĩ” và đã có những sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục như, ngoài việc học ở lớp và ở nhà, còn có các buổi thăm quan xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghệ sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày" (dẫn theo [22]). Đến thế kỉ XX, A.Macarenko (1888-1939), nhà sư phạm nổi tiếng của Nga đã nói về tầm quan trọng của công tác giáo dục ngoài giờ học: "Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dậy, lại càng không thể để cho các quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học mà đáng ra phải trên mỗi mét vuông của đất nước chúng ta… Nghĩa là trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ tiến hành trên lớp. Công tác giáo dục chỉ đạo toàn bộ cuộc sống của trẻ" [1]. Thực tiễn công tác của mình A.Macarenko đã tổ chức các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ học sinh ở trại M.Gorki và công xã F.Dzerjinski như: Tổ đồng ca, tổ văn học Nga, tổ khiêu vũ, xưởng tự do, tổ thử nghiệm khoa học tự nhiên, tổ vật lí hóa học, thể thao… Việc phân phối các em vào các tổ ngoại khóa, câu lạc bộ được tổ chức trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các em có thể xin ra khỏi tổ bất cứ lúc nào, nhưng các tổ phải có kỉ luật trong quá trình hoạt động [2].
6 Trong những năm 60 - 70, Liên xô đang trên con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội, việc giáo dục con người phát triển toàn diện được Đảng cộng sản và nhà nước quan tâm. Các nghiên cứu về lí luận giáo dục nói chung và các hoạt động ngoài giờ học nói riêng được đẩy mạnh. Trong cuốn: “Giáo dục học” của tác giả T.lina (tập 3) đã đề cập tới khái niệm, nội dung và hình thức cơ bản của các hoạt động ngoài giờ học. Tác giả đã trình bày sự thống nhất của công tác giáo dục trong và ngoài chương trình, nội dung và hình thức tổ chức hoạt động, vị trí của người hiệu trưởng trong việc chỉ đạo các hoạt động giáo dục và các tổ chức trong nhà trường.
Năm 1996 Hội đồng quốc tế về giáo dục cho thế kỉ XXI của Đại hội đồng giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) do Jaccque Delor làm chủ tịch đã đưa ra một báo cáo khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển tương lai của cá nhân, dân tộc và nhân loại. Báo cáo này nhấn mạnh giáo dục là “kho báu tiềm ẩn”, đồng thời đưa ra một tầm nhìn về giáo dục cho thế kỉ XXI dựa trên 4 trụ cột: Học để biết (Learning to know); Học để làm (Learning to do); Học để cùng chung sống (Learning to live together); Học để tự khẳng định mình (Learning to be). Bốn trụ cột này là một cách tiếp cận kĩ năng sống dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa các nhóm kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực tiễn, kĩ năng xã hội và kĩ năng cá nhân [5]; [10]. Dự án “Improving Students: Teaching Improvisation toHigh School Students to Increase Creative and Critical Thinking” (Giảng dạy ứng xử cho học sinh để tăng cường tư duy sáng tạo và khả năng phê bình) của tác giả Beth D.
Đây là dự án được triển khai bởi Trung tâm nghiên cứu sáng tạo quốc tế (International Center for Studies in Creativity). Dự án tập trung vào việc dạy học sinh những kỹ năng mang tính ngẫu hứng nhằm nâng cao kỹ năng tư duy sáng tạo và tầm quan trọng của những suy nghĩ tích cực cho học sinh. Nội dung trình bày các công cụ để thực hiện đào tạo các kỹ năng sáng tạo giải quyết vấn đề, các quy tắc và khái niệm của các hoạt động trải nghiệm ngẫu 7 hứng và kỹ năng tư duy tình cảm. Các dự án đã hoàn thành bao gồm các kế hoạch bài học, một bảng tính, một đoạn video hỗ trợ học sinh và các nhà giáo dục trong giảng dạy các kỹ năng này.
Hội nghị Giáo dục Thế giới được họp tại Dakar (Tháng 4/2014) đã thông qua kế hoạch hành động giáo dục cho mọi người - gọi tắt là Dakar, bao gồm 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu 3 nêu rõ: “Đảm bảo nhu cầu học tập cho tất cả các thế hệ trẻ và người lớn được đáp ứng thông qua bình đẳng tiếp cận với các chương trình học tập và chương trình kỹ năng sống thích hợp” [12]. Như vậy, nghiên cứu giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới. Các công trình nghiên cứu nêu trên đã khẳng định giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là xu hướng tất yếu của giáo dục, đồng thời chỉ ra các thành phần cơ bản của quá trình hình thành kỹ năng sống cho học sinh và những công cụ tương ứng để thực hiện quá trình này. Ở Việt Nam Thuật ngữ kĩ năng sống được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” [9].
Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ngày càng được mở rộng. Trong giai đoạn đầu tiên, khái niệm kĩ năng sống được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kỹ năng sống cốt lõi như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định và kĩ năng đạt mục tiêu. Ở giai đoạn này, chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề giáo dục sức khỏe của thanh thiếu niên. Giai đoạn 2 của chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống”.
Trong giai đoạn này nội dung của khái niệm kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống đã được phát triển sâu sắc hơn. 8 Cùng với việc triển khai chương trình nếu trên, vấn đề kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đã được quan tâm nghiên cứu. Những nghiên cứu về các vấn đề trên ở giai đoạn này có xu hướng xác định những kĩ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia và đề xuất các biện pháp để hình thành những kĩ năng này cho thanh thiếu niên (trong đó có học sinh THPT). Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: Cẩm nang tổng hợp kĩ năng hoạt động thanh thiếu niên, của tác giả Phạm Văn Nhân (2002) [18]; Kĩ năng thanh niên tình nguyện, tác giả Trần Thời (1998) [21].
Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo [6], [7] tác giả Nguyễn Thanh Bình đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam. Nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS ở VIệt Nam được thực hiện đã xác định những vấn đề lí luận cốt lõi về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh [4].
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khác về KNS như: Tác giả Phan Thanh Vân “Giáo dục KNS cho học sinh THPT qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”, luận án tiến sỹ chuyên ngành lý luận và lịch sử giáo dục (2010); Tác giả Nguyễn Thị Tính, Nguyễn Thị Hồng Hạnh nghiên cứu 9 giáo dục kỹ năng sống qua cách tiếp cận môn học chiếm ưu thế và đề xuất được hệ thống các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học khu vực miền núi phía Bắc (đề tài cấp Bộ B2009 - TN 09-14) [21], Tác giả Nguyễn Trường Nguyên “QL hoạt động GD KNS thông qua hoạt động GD ngoài giờ lên lớp ở các trường THCS trong bối cảnh hiện nay” chuyên ngành QLGD trường ĐHQG Hà Nội; Tác giả Ngô Thị Bình Yên “QL hoạt động GD KNS cho HS dân tộc thiểu số ở trường THPT Chi Lăng - H. Lạng Sơn” chuyên ngành QLGD trường ĐHQG Hà Nội; Tác giả Hà Quang Đỉnh “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường THPT huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”, luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục (2014)… 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội được xuất hiện từ rất sớm, đúng như C.Mác đã nói: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [15, tr. Ngày nay, nhiều người thừa nhận rằng quản lý trở thành một trong 3 nhân tố của sự phát triển xã hội: tri thức, sức lao động và trình độ quản lý. Quản lý là sự tổ chức, điều hành, kết hợp vận dụng tri thức với việc sử dụng sức lao động để phát triển sản xuất xã hội.