CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CỦA GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Quốc tế Đa số các quốc gia trên thế giới đều coi bồi dưỡng GV là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. Việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên nhất là tự bồi dưỡng sẽ kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động phù hợp với sự phát triển của KT-XH là phương châm của các cấp quản lí giáo dục.
Hội nghị quốc tế về giáo dục lần thứ 45 tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ, 1996) bàn về vấn đề giáo dục đã khẳng định: “Muốn một nền giáo dục tốt, cần phải có những giáo viên tốt”; đến năm 2004, hội nghị quốc tế về giáo dục lần thứ lại nhấn mạnh vai trò then chốt, chìa khóa của giáo viên trong sự nghiệp giáo dục. Nhiều nước trên thế giới, từ những năm 1998 thì việc bồi dưỡng GV phổ thông được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kĩ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội. Nhiều nước có chính sách thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ GV. Do đó tất cả các GV đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung chương trình và nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn theo quy định.
Trong báo cáo tại Hội thảo ASD Armidele năm 1985, do UNESCO tổ chức đã đề cấp đến vai trò của giáo viên trong thời đại mới, cụ thể là người thiết kế, tổ chức, cổ vũ, canh tân. Để giáo viên thực hiện tốt các vai trò này, đòi hỏi phải chuẩn hóa công tác phát triển đội ngũ giáo viên. Trong nước Từ năm 1986, cả nước bước vào thời kì đổi mới toàn diện để thực hiện mục tiêu CNH-HĐH, Đảng và Nhà nước ta đã hết sức coi trọng phát triển giáo dục nhằm tạo động lực phát triển KT-XH. Bắt đầu từ đây, việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV, sau đó là bồi dưỡng theo chu kì, tự bồi dưỡng đã có những chuyển biến tích cực, đội ngũ GV dần dần được chuẩn hóa mặc dù nguồn ngân sách giáo dục còn hạn hẹp.
Hai chu kì bồi dưỡng thường xuyên 1992-1996 và 1997-2000, bồi dưỡng thay sách, các hội thi GV dạy giỏi được tổ chức ở các địa phương, khu vực, quốc gia đã cho phép đúc rút được nhiều kinh nghiệm bổ ích về hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ GV phổ thông nói chung và đội ngũ GV THCS nói riêng; đồng thời bộc lộ được nhiều bất cập về nội dung bồi dưỡng, chương trình, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất, tài liệu, thời gian,.trong đó đã cho thấy những hạn chế trong công tác quản lí của các cấp dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng chưa được cao, chưa đáp ứng được sự phát triển của GD. Những năm qua, các cấp quản lí GD và các nhà khoa học cũng đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ QL, GV ở các trường phổ thông, đề xuất những giải pháp xây dựng phát triển dội ngũ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp GD, trong đó có những đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD. Các công trình nghiên cứu cơ bản giải quyết những vấn đề lí luận cũng như thực tiễn về xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL, GV trường phổ thông ở một số địa phương. Tuy nhiên, vấn đề quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học của giáo viên các trường THCS huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương nói chung ít được quan tâm và cho đến nay chưa có tác giả nào đề cập nghiên cứu quản lí đội ngũ giáo viên theo nội dung này.
Trong quá trình dạy học thì việc bồi dưỡng là điều kiện tốt nhất để nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ tương xứng với vị 7 trí việc làm, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Mỗi người giáo viên trong quá trình dạy sẽ biết rõ nhất mình có những ưu thế gì, còn những hạn chế gì; biết điểm mạnh và yếu của bản thân; biết chất lượng giảng dạy của mình đến đâu từ đó sẽ có cách tự bồi dưỡng để hoàn thiện mình. Tự bồi dưỡng là con đường tích lũy kiến thức, gọt sắc tư duy, là sự trăn trở, thử nghiệm để tìm ra những hình thức, biện pháp thích hợp truyền đạt tri thức tới người học. Trong thời buổi bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay việc tự đào tạo, bồi dưỡng quả là gặp rất nhiều thuận lợi.
Chỉ cần thầy cô của chúng ta cầu toàn, nổ lực, nghiêm khắc với bản thân và có phương pháp học tập thì việc nâng cao năng lực của bản thân không phải là việc quá khó. Có rất nhiều tấm gương về dạy giỏi; có rất nhiều cách làm hay, sáng tạo mà thầy cô ở nơi này, nơi khác đã áp dụng và mang lại kết quả đáng ghi nhận; có những chương trình ý nghĩa như “thầy cô chúng ta đã thay đổi” để thầy cô có thể tham gia, có thể học hỏi…để tự hoàn thiện mình. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm QL giáo dục Quản lý giáo dục là một loại hình quản lý xã hội, tức là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội.
Dựa vào khái niệm "quản lý" một số nhà nghiên cứu về giáo dục đưa ra khái niệm về quản lý giáo dục như sau: Theo M.Kônđacôp: "Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, cán bộ, kế hoạch hoá, tài chính cung tiêu.nhằm đảm bảo vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng lẫn chất lượng".Khuđôminxky: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ"[16]. Như vậy, qua các góc nhìn về quản lý giáo dục của các tác giả có thể khác nhau nhưng đều toát lên được quản lý GD là: Những tác động có chủ định của 8 chủ thể quản lý giáo dục đến tất cả các khâu của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện của thế hệ trẻ để đạt được mục tiêu giáo dục trong môi trường luôn biến động. - Tác giả Trần Kiểm: Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích bảo đảm sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản lý giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em. [10;24] Khi nói đến khái niệm quản lý giáo dục các tác giả tuy có cách diễn đạt khác nhau nhưng đều toát lên được quản lý giáo dục là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.
Như vậy: QL giáo dục là những tác động có chủ định của chủ thể quản lý giáo dục đến đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội để đạt được mục tiêu giáo dục trong môi trường luôn biến động. Khái niệm QL nhà trường Quản lý nhà trường là quản lý giáo dục được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội. Theo Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập – tự giáo dục của trò diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học. Nói tóm lại về thực chất, quản lý nhà trường là quản lý quá trình daỵ học” [17.; 52] Như vậy quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (CSVC, tài chính, thông tin…) hợp quy luật (quy luật quản lý, quy 9 luật kinh tế, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật xã hội.) nhằm đạt mục tiêu giáo dục.
Trong phạm vi nhà trường, hoạt động quản lý bao gồm nhiều loại như: quản lý các hoạt động giáo dục: hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp), hoạt động xã hội, hoạt động văn thể, hoạt động lao động, hoạt động ngoại khóa, hoạt động lao động hướng nghiệp…; quản lý các đối tượng khác nhau: quản lý giáo viên, học sinh, tài chính, CSVC…quản lý nhiều tác động khác nhau: quản lý XHHGD, quản lý ảnh hưởng từ bên ngoài nhà trường, quản lý hoạt động của hội phụ huynh học sinh… Trường THCS là một loại hình trường trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, vì vậy quản lý trường THCS cũng chính là quản lý nhà trường. Vì thế quản lý trường THCS là vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo của cấp học, đó là: “nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. Quản lý nhà trường và quản lý trường THCS nói riêng về bản chất là quản lý con người. Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không những chỉ bởi cơ chế hoạt động của những tính quy luật khách quan của một tổ chức xã hội – nhà trường mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lý của chính giáo viên và học sinh.
Trong nhà trường giáo viên và học sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quản lý.