Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TIÊNG ANH CẤP THCS THEO ĐỀ ÁN DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮ 2020 1. Vài nét tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề Từ xưa, người dân Việt Nam đã ý thức được rằng “ Không thầy đố mày làm nên”. Trong lịch sử phát triển của xã hội, vai trò của người thầy giáo được ghi nhận như một công đức lớn. Sự phát triển của giáo dục đòi hỏi ở người thầy phải được học tập, được BD thường xuyên và nhận thức sâu sắc rằng muốn cống hiến được nhiều hơn cho giáo dục, cho xã hội thì phải biết tích lũy tri thức, muốn tích lũy tri thức thì phải thường xuyên rèn luyện, BD và học tập suốt đời.
Trong suốt các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội ở nước ta, vấn đề BD cán bộ luôn luôn được chú trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Người đã quan tâm xây dựng một nền giáo dục toàn dân, chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên, từng bước đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng để phục vụ sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp cách mạng của Đảng. Các Nghị quyết Đại hội Đảng IV, V, đặc biệt là đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó có giáo dục.
Trong những năm gần đây, đã có nhiều nhà nghiên cứu bàn về các lĩnh vực văn hóa - giáo dục, BDGV. Các tạp chí, tập san, chuyên san, báo Giáo dục thời đại xuất hiện ngày càng nhiều và càng phong phú về nội dung vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Tuy vậy, những vấn đề lý luận về BDGV vẫn chưa được thể hiện rõ nét, ít có các công trình nghiên cứu, đây là một vấn đề cần phải được làm sáng tỏ hơn về lý luận và thực tiễn. 9 Luật Giáo dục năm 2005 là văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước ta, quy định sự hoạt động thống nhất, toàn diện trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, nhằm tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về giáo dục.
Đối với các trường THCS, “Điều lệ trường Trung học phổ thông” là cẩm nang trong việc chỉ đạo thực hiện mục tiêu giáo dục và định hướng cho việc xây dựng đội ngũ giáo viên THPT theo phương châm đào tạo kết hợp với sử dụng; BDGV trên cơ sở đề cao việc tự BD và tự học của giáo viên. Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng ĐNNG và cán bộ quản lý giáo dục được ban hành đã định hướng và tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng, BDGV trong đó có giáo viên dạy tiếng Anh ở các trường THCS theo hướng chuẩn hóa, đồng bộ và từng bước hiện đại hóa đặt ra những yêu cầu mới vừa cấp bách, vừa lâu dài. Ngày 11 tháng 01 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng ĐNNG và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010”. Mục tiêu của Đề án là: "Xây dựng ĐNNG và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng ĐNNG, cán bộ quản lý giáo dục. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội, vai trò, trách nhiệm của nhà giáo và nhiệm vụ xây dựng ĐNNG, cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng cao, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, tận tụy với nghề nghiệp, làm trụ cột thực hiện các mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" [9, tr. 10 Ngày 22 tháng 10 năm 2009, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 30/2009/TT/BGDĐT về việc ban hành Quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS, giáo viên THPT. Văn bản này quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học bao gồm các yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quy trình đánh giá xếp loại giáo viên trung học.
Quy định này áp dụng đối với mọi loại hình giáo viên trung học tại các cơ sở giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân. Từ những vấn đề nêu trên, chúng ta thấy giáo viên là người tham gia quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường. Vì thế, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên được nhiều tác giả quan tâm. BDGV dạy tiếng Anh ở trường THCS sẽ góp phần quan trọng cho sự phát triển của giáo dục, phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Huyện Đoan Hùng đã xây dựng “Kế hoạch phát triển Giáo dục - Đào tạo giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020”, Huyện ủy đã phê duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trên địa bàn huyện Đoan Hùng giai đoạn 2010 -2015”. Vấn đề BDGV dạy tiếng Anh ở trường THCS chưa được bàn sâu, chưa có chiến lược dài hơi đối với công tác này. Trong thời gian qua để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đã có một số công trình nghiên cứu về công tác quản lý giáo dục nhưng các đề tài này chủ yếu nghiên cứu về tổ chức quản lý quá trình GD&ĐT, về thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học ngoại ngữ tại các trường đại học, dạy học tiếng Anh tại các trường Tiểu học, THPT, trung tâm ngoại ngữ, các trung tâm giáo dục thường xuyên, nghiên cứu về tổ chức quản lý hoạt động BDGV tiểu học. chưa có đề tài nào nghiên cứu về Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên Tiếng Anh cấp THCS theo Đề án dạy và học ngoại ngữ 2020 là cấp học mà tiếng Anh là môn học chính khóa và là cơ sở cho các chương trình dạy học tiếng Anh cho học sinh ở cấp học cao hơn.
Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài 1. Quản lý Quản lý là một dạng lao động xã hội mang tính đặc thù, gắn liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển của loài người. Từ khi có sự phân công lao động trong xã hội đã xuất hiện một dạng lao động đặc biệt, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định. Dạng lao động mang tính đặc thù đó còn được gọi là hoạt động quản lý.
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau, như: - Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [24, tr. - Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [24, tr. - Quản lý là bảo đảm sự hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống tới trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới [24, tr., Fredenck, tác giả của học thuật quản lý theo khoa học thì: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [32]. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý như đã nêu ở trên, nhưng chúng ta có thể nhận thấy điểm chung của quản lý mà các khái niệm đã đề cập là: - Quản lý bao giờ cũng có mục tiêu.
Hoạt động quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội. Đây là điểm hội tụ cho những hoạt động cùng nhau của nhiều người. 12 - Quản lý là thực hiện những tác động hướng đích từ chủ thể đến đối tượng. Yếu tố con người, trong đó người quản lý và người bị quản lý, giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý.
- Quản lý không chỉ thể hiện ý chí của chủ thể mà còn là sự nhận thức và thực hiện hoạt động theo quy luật khách quan. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển. Từ những dấu hiệu đặc trưng nêu trên, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng tổ hợp những cách thức, những phương pháp nhằm khai thác và sử dụng tối đa các tiềm năng, các cơ hội của cá nhân cũng như của tổ chức, để đạt được mục tiêu đã đề ra. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan của hệ thống.
Quản lý giáo dục vận dụng bốn chức năng quản lý: Lập kế hoạch; tổ chức triển khai kế hoạch; chỉ đạo thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá để thực hiện nhiệm vụ công tác của mình. Quản lý giáo dục nói chung và quản lý trường học nói riêng là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho cả hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.