Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về cây Sơn tra 1. Đặc điểm sinh học của cây Sơn tra - Tên gọi, phân loại: Cây Sơn tra hay còn gọi là cây Táo Mèo (Docynia indica (Wall.) Thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae), Bộ: Hoa hồng (Rosales). Cây gỗ cao 4 - 5 m, cành non có gai và lông nhung màu trắng, khi già nhẵn.
Lá hình mũi mác dài 7 - 10cm, rộng 1,5 - 2cm, khi non có 3 - 5 thùy, tròn ở gốc, thuôn nhọn ở đỉnh, mép lá nguyên hoặc có răng cưa, lông nhung màu trắng ở mặt dưới, gân bên 6 - 10 đôi, phân chia tới tận mép lá; cuống lá dài 15 - 20mm. Lá kèm hình mũi dùi, sớm rụng. Cụm hoa chùm 1 - 3 hoa hoặc hơn, có lông, cuống hoa rất ngắn hoặc không có. Đài có lông màu trắng với 5 thùy hình mũi mác nhọn đầu, mặt ngoài có lông, mặt trong nhẵn.
Cánh hoa 5, màu trắng, mép có mũi nhọn, nhỏ. Nhị có từ 30 – 50 nhị. Bầu nhụy có 5 ô, mỗi ô có 3 - 10 noãn, xếp theo chiều dọc của bầu; vòi nhụy 5, gắn liền với nhau ở gốc, có lông. Quả dạng quả Sơn tra, hạt màu đen.
Mùa hoa tháng 3 - 4, mùa quả chín tháng 9 - 10. Tái sinh bằng hạt, chồi hoặc chiết cành. Cây ưa sáng, mọc rải rác trong rừng hoặc thành quần thể thuần loại trong trảng cây bụi, ven đồi, ở độ cao 1000 - 1500 m. Phân bố: Ở Việt Nam: Lai Châu (Phong Thổ), Lào Cai (Sa Pa), Cao Bằng, Sơn La (Bắc Yên: Tà Xùa), Yên Bái.
Thế giới: Trung Quốc, Ấn Độ, Mianma, Thái Lan. c 4 Giá trị: Quả chín ăn được. Quả tươi dùng chế rượu vang. Quả phơi khô dùng làm nguồn dược liệu để chế rượu thuốc, nấu cao, có tác dụng bồi bổ sức khỏe, chữa bệnh tim mạnh, huyết áp cao và kính thích tiêu hóa.
Cây non còn dùng làm gốc ghép cho các, loài Sơn tra và Lê để tạo giống cây ăn quả. Gỗ có thể đóng đồ dùng gia đình và nông cụ sản xuất. Tình trạng: Loài hiếm. Quả được sử dụng rộng rãi như là nguồn dược liệu nên được nhân dân địa phương khai thác hàng năm (đôi khi chặt cả cây) để dùng và bán.
Chính đó lá nguyên nhân dẫn tới việc giảm số lượng cá thể và thu hẹp khu phân bố. Mức độ đe dọa: Bậc R. Thành phần hóa học và tác dụng dược lý của Sơn tra Thành phần hóa học: Theo sự nghiên cứu Sơn tra Trung Quốc, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã thấy trong quả có axit xitric, axit tactric, vitamin C, thấy hydrat cacbon và prôtit [21]. Năm 1957, Viện nghiên cứu thực phẩm của Trung Quốc phân tích quả Sơn tra thấy prôtit 0,7%; chất béo 0,2%; hydrat cacbon 22%; canxi 0,085%; photpho 0,025%; sắt 0,0021%; caroten 0,00082%; vitamin C 0,089% [21].
Theo Dharmananda các tác dụng sinh học của Sơn tra có liên quan đến bốn nhóm hợp chất chủ yếu: các flavonoid (hyperoside, luteolin-7-glucoside, rutin, quercetin, vitexin, vitexin rhamnosides), Oligomeric procyanidins và flavans (catechin, epicatechin polymers), các dẫn xuất Triterpene (oleanolic axit, ursolic axit), các axit hữu cơ (citric, tartaric, ascorbic), các phenolic đơngiản (chlorogenic axit, caffeic axit). Các flavonoid làm gia tăng lưu lượng máu qua động mạch vành, tăng nhịp tim, giãn mạch vành, giảm xơ vữa động mạch. Sơn tra còn cho tác dụng tốt trong các trường hợp nghẽn mạch máu tim. Kết quả thực nghiệm tại phòng thí nghiệm dược lý – Viện cây thuốc và tinh dầu Nga cho thấy chiết xuất Sơn tra có đặc tính chống nghẽn mạch rõ rệt; c 5 cải thiện việc đưa oxy về tế bào cơ tim; giảm cholesterol, triglycerid, độ quánh của máu và fibrinogen… [20].
Sơ bộ nghiên cứu loại Sơn tra Việt Nam (Lào Cai, Hoàng Liên Sơn) thấy trong quả Sơn tra có 2,76% tanin, 16,4% chất đường, 2,7% axit hữu cơ (tactric, xitric tính theo H2SO4). Các chất tan trong nước (cao khô) là 31%, độ tro 2,25% tan hoàn toàn trong HCl (Lê Ánh, bộ môn Dược liệu, 1961). Theo nghiên cứu của Đinh Thị Kim Chung (2010) cho biết khối lượng trung bình của quả Táo mèo tại 2 vùng Yên Bái và Lào Cai là 20,5 ± 0,5 g, nước chiếm tỷ lệ 84,6%, đường 4,81%, axit tổng số 1,47% và pH là 2,9. Theo kết quả khảo sát định tính dịch chiết từ quả Táo mèo thấy có đủ các nhóm hợp chất như: Flavonoit, tannin, ankaloit, glycozit có tác dụng kháng khuẩn rất có hiệu quả.
Giấm táo chứa axit malic, axit acetic, hàm lượng enzym cao rất tốt cho tiêu hóa [20]. Theo nghiên cứu của Viện công nghệ thực phẩm Bộ Công Thương (2013) cho thấy trong quả Sơn tra có các các thành phần chủ yếu sau: Bảng 1. Kết quả phân tích thành phần dịch quả Sơn tra Đường tổng Axit tổng VTM C Polyphenol Kali Loại quả pH số (%) số (%) (g/l) (g/l) (g/l) Quả nhỏ, vỏ xanh Quả xanh 4,10 1,38 3,1 2,3 0,98 - Quả ương 4,80 1,82 3,3 2,9 1,03 2,250 Quả chín 5,06 1,64 3,0 2,2 0,87 - Quả to, vỏ vàng Quả xanh 4,30 1,40 3,5 2,2 0,88 - Quả ương 4,72 1,62 3,7 2,8 0,94 2,102 Quả chín 5,17 1,68 3,6 2,1 0,95 - c 6 Tác dụng dược lý: Quả Sơn tra hay Táo mèo được dùng phổ biến trong Đông y, có thể dùng thay thế hay tương tự như vị thuốc. Sơn tra với nhiều tác dụng như làm thuốc bổ tỳ, vị, kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon, dễ tiêu chống đầy bụng, ợ chua, giúp tăng cường miễm dịch, giảm cholesterol, hạ mỡ máu, đại tiện xuất huyết, chữa toàn thân đau mỏi.dưới dạng thuốc sắc, cao lỏng hoặc tán bột uống.
Điều đáng chú ý nhất có tác dụng hạ huyết áp nhờ làm giãn mạch ngoại vi. Mặt khác còn giúp hạ mỡ máu, chống huyết khối làm giãn động mạch vành, cải thiện sức co bóp của cơ tim, phòng chống tích cực các biến chứng do cao huyết áp gây ra. Ngoài ra, chúng còn có tác dụng ức chế các trực khuẩn: thương hàn, bạch hầu, lị, tụ cầu vàng, giảm chứng suy hô hấp…. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Loan (2011) cho thấy tác dụng chống béo phì và giảm trọng luợng của dịch chiết quả Táo mèo Docynia indica (Wall.) Decne trên mô hình chuột béo phì thực nghiệm.
Theo Vũ Thị Hạnh Tâm nghiên cứu và ghi nhận vai trò hạ lipit và đường huyết của dịch chiết quả Táo mèo trên chuột. Hoàng Thị Minh Tân: quả và lá Táo mèo có khả năng chống rối loạn trao đổi gluxit và lipit. Vũ Thị Huê, Bùi Thị Việt Hà đã có những nghiên cứu sơ bộ ghi nhận về tác dụng kháng khuẩn của dịch lên men quả Táo mèo [19]. Lương y Đinh Công Bảy cho biết: Táo mèo có vị chua ngọt, tính hơi ấm, quy kinh can, tì, vị, thuộc nhóm thuốc tiêu thực hóa tích, giúp tiêu hóa do tăng bài tiết axit mật và pepsin dịch vị.
Công dụng chủ yếu là điều trị các chứng rối loạn tiêu hóa do ăn nhiều thịt, dầu mỡ, trẻ em uống sữa không tiêu. Các nghiên cứu mới đây cho thấy Táo mèo có chứa axit citric, axit crataegic, vitamin C, hydrad carbon, protide, lipid, canxi, phốt-pho, choline, acetylcholine, phytosterin. Các công dụng trên của Táo mèo có liên quan đến c 7 năm nhóm hợp chất: các flavonoid, oligomeric procyanidin, flavan, các dẫn xuất triterpene và các axit hữu cơ. Các flavonoid làm gia tăng lưu lượng máu qua động mạch vành, tăng nhịp tim, giãn mạch vành và giảm xơ vữa động mạch [21].
Theo một nghiên cứu của khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia, Hà Nội, giấm Táo mèo có hoạt tính kháng vi khuẩn gây nhiễm trùng đường hô hấp trên (moraxella catarrhalis) nhờ hoạt động của hai yếu tố chính. Thứ nhất, chủng vi khuẩn Bacillus altitudinis TM1.2 được phân lập từ nước giấm có thể ức chế sự sinh trưởng của vi khuẩn Moraxellacatarrhalis. Thứ hai, trong Táo mèo có chứa các chất tự nhiên có hoạt tính sinh học, có thể giúp kháng lại vi khuẩn gây nhiễm trùng đường hô hấp trên. Tình hình nghiên cứu về trồng xen 1.
Một số luận điểm về trồng xen Mục đích chính của các điền chủ là sử dụng đất tối đa và thu được nhiều sản phẩm nhất trên mảnh đất của mình mà vẫn duy trì được độ phì đất. Một trong những khả năng có thể đáp ứng được mục đích này là khai thác đất trong một hệ thống cây trồng gọi là “trồng xen”. Boursard (năm 1982) quan niệm trồng xen tức là sự phối hợp xen kẽ các loại cây trồng khác nhau trên cùng một diện tích tạo nên một tổng thể thực vật có nhiều tầng, nghĩa là có sự liên kết phù hợp lẫn nhau giữa các cây trồng có vóc dáng và hệ rễ khác nhau, sao cho tổ hợp cây trồng này nhận được năng lượng mặt trời nhiều nhất ở độ cao khác nhau và hệ thống rễ khai thác ở các tầng đất khác nhau. Korikanthimath và cộng sự (năm 1994) cho rằng trồng xen hay trồng phối hợp bằng đa dạng hóa cây trồng thì ngược với trồng thuần.
Mục đích chính của đa dạng hóa là tránh lệ thuộc quá nhiều vào một loại sản phẩm của các cây trồng phụ. Hiệu quả của các nguồn cơ bản sản xuất cây trồng như c 8 không gian, đất, bức xạ mặt trời và nước có thể đạt được tối đa nhờ áp dụng các hệ thống thâm canh như canh tác đa tầng, các hệ thống canh tác đa tầng thực chất là các hệ thống đa canh có thành phần cây trồng khác nhau [29]. Đoàn Văn Điếm (năm 1997) cho rằng trồng xen kẽ các loại cây có yêu cầu cường độ bức xạ khác nhau là biện pháp rất hiệu quả, vừa tranh thủ được không gian vừa không bỏ phí năng lượng. Một số loại cây trồng xen có tương tác có lợi do bổ sung dinh dưỡng cho nhau [1].
Willey (năm 1979) định nghĩa khi hai hay nhiều những cây trồng được trồng cùng nhau trên cùng một mảnh đất, những cây trồng này có thể gieo cùng hoặc thu hoạch cùng thời gian. Trồng xen hay canh tác đa tầng góp phần đa dạng hóa sức sản xuất và thu nhập, giúp duy trì tính đa dạng sinh học, chống lại các rủi ro do biến động về sinh thái và thị trường. Nó cũng giúp cho sự bảo tồn sinh thái và điều này là thiết yếu không những chỉ để duy trì điều kiện sản xuất lý tưởng mà còn bảo vệ môi trường cho các thế hệ con cháu tương lai (Rajendra Hedge, 1995) [34,48].