Chương 1: Cơ sở lý luận 1. Khái niêm về trẻ em và các tội xâm hại tình dục trẻ em 1. Khái niệm trẻ em Hiện nay vấn đề bảo vệ trẻ em là một vấn đề quan trọng và cần được quan tâm sâu sắc. Đây không chỉ là trách nhiệm riêng của bất kỳ một quốc gia nào mà còn là trách nhiệm chung của toàn thế giới vì thế Công ước quyền trẻ em đã được Liên Hiệp Quốc đặt ra đối với các quốc gia thành viên với mong muốn nâng cao nhận thức của các quốc gia về vấn đề này.
Do đó, việc xác định đối tượng nào được coi là trẻ em là điều vô cùng quan trọng. Theo Điều 1 của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em trẻ em là “người dưới 18 tuổi”. Từ góc độ tâm sinh lý học, các nghiên cứu khoa học đều chứng minh rằng, giai đoạn vị thành niên này là thời điểm rất quan trọng trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Trong giai đoạn này, mỗi người dần dần phát triển năng lực cá nhân của mình và đây cũng là giai đoạn nhiều thách thức nhất.
Song, Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em cũng chỉ ra việc quy định độ tuổi của trẻ em sẽ được căn cứ vào đặc điểm lịch sử, phong tục tập quán và các điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Tuy vậy, các thành viên của Liên hợp quốc đều cho rằng trẻ em phải là người dưới 18 tuổi. Do đó, tùy thuộc vào điều kiện phát triển của từng quốc gia, độ tuổi của trẻ em sẽ được xác định khác nhau. Thông qua đó có thể thấy rằng khái niệm “trẻ em” là một khái niệm đa nghĩa.
Theo nghiên cứu của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc, có đến 12,1% 1 quốc gia thành viên quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi, trong đó có Việt Nam. Đối với quá trình hoàn thiện khái niệm “trẻ em” ở Việt Nam: Lần đầu tiên khái niệm “trẻ em” quy định trong Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979: “Trẻ em nói trong Pháp lệnh này bao gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi2”.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi. 2 Điều 1 Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979. 6 Sau khi Việt Nam ký Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em vào tháng 01/1990, các nhà làm luật nhận thức được tầm quan trọng của việc “nội luật hóa” quy định “trẻ em” của Liên hợp quốc đồng thời “thống nhất hóa” quy định trẻ em của pháp luật Việt Nam.
Vì thế, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được ra đời vào năm 1991, Luật ban hành quy định khái niệm trẻ em như sau: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi3”. Có thể thấy rằng so với Pháp lệnh năm 1979, phạm vi độ tuổi của trẻ em đã tăng từ độ tuổi 15 tuổi lên 16 tuổi. Độ tuổi của trẻ em tiếp tục được khẳng định một lần nữa tại Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004. Cho đến nay khái niệm về trẻ em lại được quy định tại Luật Trẻ em 2016: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi4”.
Xét thấy quy định về độ tuổi được coi là “trẻ em” ở Việt Nam là dưới 16 tuổi và thấp hơn so với Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Mặc dù vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, trẻ em đều được xác định là con người bao gồm những đặc điểm riêng về tâm sinh lý, các đặc điểm và khả năng khác nhau phụ thuộc vào độ tuổi và nhận thức của chúng. Do đó, pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đều đã đưa ra những quy định để đảm bảo quyền sống; quyền tự do phát triển của trẻ em; quyền học tập của trẻ em và các quyền lợi chính đáng khác cho trẻ em. Dựa trên quy định về độ tuổi như trên, nhóm tác giả sẽ chia giai đoạn phát triển của trẻ em như sau: Giai đoạn từ 0-1 tuổi: Đây được coi là khoảng thời gian trẻ có tốc độ phát triển nhanh như tăng trưởng về cả chiều cao lẫn cân nặng, các bộ phận đã có sự phát triển nhưng vẫn chưa hoàn thiện hoàn toàn.
Trong thời gian này, trẻ sẽ được tiếp xúc với một môi trường mới sau thời gian ổn định trong bào thai của mẹ cũng như trẻ được tiếp xúc với ánh sáng, nhiệt độ, âm thanh. Do đó, đây là một trong những giai đoạn vô cùng nhạy cảm đối với trẻ em, trong đó mối quan hệ mẹ con sẽ là mối quan hệ tiền ngôn ngữ, mối quan hệ này được kết nối thông qua sự tiếp xúc trực tiếp giữa cơ thể mẹ và bé để đáp ứng nhu cầu của trẻ em. Giai đoạn từ 1-3 tuổi: Trong thời gian này, tốc độ tăng trưởng của trẻ diễn ra tương đối chậm, tuy nhiên về cơ bản các bộ phận đã dần được hoàn thiện. Đây là giai đoạn trẻ có mong muốn được tiếp xúc trực tiếp với vật qua thị giác, xúc giác, vị giác, thính giác của mình mặc dù những giác quan đó chưa phát triển toàn diện.
3 Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 1996. 4 Điều 1 Luật trẻ em 2016. 7 Giai đoạn từ 3-6 tuổi: Đây là giai đoạn phát triển vô cùng nhanh về vốn từ, tâm lí của trẻ. Trẻ em sẽ khám phá thế giới xung quanh một cách nhanh chóng , đã biết ghép các từ thành một câu, biết nghe, kể chuyện.
Trong giai đoạn này, sở thích của trẻ dần được hình thành ví dụ như sở thích lắp ghép; kể chuyện; đọc truyện, sách đơn giản;. Giai đoạn từ 6-10 tuổi: Đối với các đặc điểm sinh học của trẻ, hầu hết các chức năng, hình thái đã hoàn thiện, tốc độ tăng trưởng của cơ thể về chiều cao và cân nặng diễn ra nhanh. Chức năng của các bộ phận trong giai đoạn này đã hoàn chỉnh, hệ thống cơ phát triển cũng như trí tuệ phát triển mạnh, có tính khéo léo, sáng tạo. Đến với giai đoạn này, trẻ sẽ phải học cách tư duy, ghi nhớ vì đây là thời điểm trẻ bắt đầu bước chân vào môi trường học đường.
Trẻ sẽ được tiếp cận đến với nhiều khái niệm khoa học phức tạp, trừu tượng, điều này sẽ dần dần khiến trẻ tư duy theo hướng trừu tượng hóa và logic hơn. Trẻ sẽ phải tiếp xúc với các mối quan hệ mới như quan hệ thầy cô, quan hệ bạn bè chứ không còn nằm trong khuôn khổ mối quan hệ thân quen, ruột thịt nữa. Giai đoạn từ 10-16 tuổi: Đây là giai đoạn mà trẻ phát triển mọi mặt về cả thể chất lẫn tinh thần, được gọi là tuổi dậy thì. Trong thời điểm này, hormone của trẻ bắt đầu có sự thay đổi, điểm đáng chú ý nhất là sự phát dục của trẻ.
Các bộ phận sinh dục, tuyến sinh dục bắt đầu phát triển, tuy nhiên, các bé gái sẽ phát triển sớm hơn các bé trai từ 2-3 năm. Đối với các bé gái, đây là giai đoạn kinh nguyệt bắt đầu diễn ra, có sự phát triển của tuyến vú. Các em gái lớn nhanh, thân hình uyển chuyển hơn, tóc mượt mà, da dẻ hồng hào,. Đối với các bé trai hiện tượng “vỡ giọng” sẽ diễn ra và có sự xuất hiện của hiện tượng “mộng tinh” bắt đầu xuất hiện ria mép; lông; cơ thể trở nên to lớn hơn,…Đây là giai đoạn hình thành tính cách của trẻ một cách rõ rệt nhất, trẻ nhạy cảm với mọi lời nói xung quanh mình.
Tóm lại, dựa vào đặc điểm phát triển của trẻ em qua các giai đoạn cũng như quy định pháp luật quốc tế về “trẻ em”, nhóm tác giả sẽ lựa chọn phạm vi độ tuổi “trẻ em” là người dưới 16 tuổi. Mặc dù trên thực tế có những quy định khác nhau về khái niệm “trẻ em”; Song, để tạo sự thống nhất trong việc phân tích đề tài nghiên cứu, nhóm tác giả sẽ lựa chọn phạm vi độ tuổi của trẻ em dựa theo quy định của pháp luật Việt Nam, tức là người dưới 16 tuổi. Khái niệm các tội xâm hại tình dục trẻ em 8 Xâm hại tình dục trẻ em đang là vấn đề nổi cộm và nhức nhối trong xã hội, không chỉ tại một quốc gia cụ thể mà đây là vấn đề với mọi quốc gia trên thế giới. Xét thấy ở các nước kém phát triển, đang phát triển, tỷ lệ trẻ em bị xâm hại tình dục cao hơn so với các nước đã phát triển, điều này đến từ nhiều lý do khác nhau nhưng chủ yếu là do thực trạng thiếu kiến thức của cả trẻ em và người lớn trong xã hội.
Chính vì thế, các tổ chức bảo vệ trẻ em khỏi xâm hại tình dục cũng như quy định của pháp luật các nước đặc biệt là Việt Nam đã đưa ra những quan điểm, khái niệm khác nhau về vấn đề xâm hại tình dục trẻ em. Theo tổ chức WHO định nghĩa về xâm hại tình dục trẻ em: “ Xâm hại tình dục trẻ em là sự tham gia của những hành vi xâm hại tình dục trẻ em làm cho trẻ em không thể xử lý, không thể đưa ra lời chấp thuận với những hành vi ấy vì trẻ chưa phát triển toàn diện, hoặc đó là những hành vi xâm phạm đến quy định pháp luật hoặc vi phạm những điều cấm kỵ trong xã hội5.” Theo khoản 8 Điều 4 Luật trẻ em 2016 đưa ra định nghĩa về xâm hại tình dục trẻ em: “Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức6”. Theo đó, những hành vi xâm hại tình dục trẻ em được quy định trong Luật trẻ em được định nghĩa chi tiết hơn so với định nghĩa xâm hại tình dục trẻ em của WHO thông qua phương pháp liệt kê các hành vi như: “vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô”. Điều này sẽ giúp cho các cơ quan có thẩm quyền khi xử lý các vụ việc xâm hại tình dục trẻ em dễ dàng hơn trong việc xác định và xử lý các trường hợp này.