Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỂ THỨC NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu vấn để Trên thé giới, hai nhà tâm lý học người Anh là John Maltby và David Giles tại Đại học Leicster và Coventry đã tiến hành khảo sát trên 191 học sinh ở Anh, tuổi từ 11 đến 16 để tìm hiểu ảnh hưởng của than tượng đến sự phát triển của các em. Họ kết luận việc học hỏi lối sống của thắn tượng cùng tuổi có thể giúp các em dễ hoà đồng hơn nhờ thiết lập được mạng lưới bạn bè thân thiết và gắn bó. Tuy nhiên theo nhóm tác giả này những trẻ ái mộ thần tượng quá mức có thể là những em bé cô đơn, ít gắn bó với gia đình và bè bạn (theo Vnexpress-NewScientist).
Nhà tim lý học Francisco Gil-White, thuộc đại học Pennsylvaphia ở Philadelphia nhân định con người có khuynh hướng bản năng là nhận biết các cá nhân nổi tiếng và làm mọi việc tôn vinh họ. Ông cho rằng trẻ em ngày nay tôn thờ các nhân cách nổi tiếng có thể trở nên chan hoa hơn, bởi chúng sử dụng cơ chế nội tại này để xác định ai và cái gì là vô vị, lạnh lẽo với chúng. Như vậy trên thế giới đã có sự quan tâm đến thần tượng của giới trẻ. Các nhà tâm lý học đã khẳng định than tượng có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển nhân cách của các em.
Ở Việt Nam, trên Tạp chí tâm lý học số 2, năm 2000, tác giả Nguyễn Đức Thục có bài viết “ Về hiện tượng "Ngôi sao", “Thân tượng" của lớp trẻ hâm nay”, Tác giả nêu lên thực trạng việc hãm mộ than tượng dang diễn ra một cách tùy tiện và thả nổi ở giới trẻ ngày nay. Đẳng thời khẳng định Trang 7 những khát vọng, sự hướng đến những người lý tưởng là một trong những nét đặc trưng của giới trẻ. Vì vậy "sự định hướng đúng dan, lành mạnh và có hiệu quả trong việc xây dap hình tượng nhân vật lý tưởng, lựa chọn các ngôi sao, các thin tượng của lớp trẻ” là một nhu cầu cấp bách, thiết thực được để ra trong thời kỳ này. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trong tuyển tập Tuổi mới lớn, xuất bản năm 2007, đã giải thích vì sao tuổi mới lđn lại quan tâm đến than tượng.
Bác sĩ cũng nêu lên hậu quả của việc say mê than tượng một cách thái quá và đưa ra một vài biện pháp giúp các em thoát khỏi tinh trạng “mê tín” than tượng. Trên báo điện tử Tuoitre.vn ngày 10/1/2007, tác giả Trần Trọng Trí với bài viết nhan để “Fan áo trắng và những giot nước mắt muộn màng" đã phản ánh việc say mê than tượng làm ảnh hưởng đến hoc tập và tương lai của học sinh THPT. Trên trang web Webtretho.com ngày 23/3/2007 có bài viết nói về sự cần thiết có một than tượng của trẻ từ 7-9 tuổi: “Tai sao trẻ cần cá một người hàng làm thân tượng”". Tác giả khái quất các dạng thần tượng thường được trẻ chọn và nêu các ảnh hưởng tiêu cực cũng như tích cực của thần tượng đối với trẻ, Cùng ngày, báo Giáo dục và Thời đại số 34 đăng bai của tác giả Nguyễn Thị Anh Tuyết với nhan để “Chuyện mdi nhà: khi con say mê thần tượng”.
Đối tượng người viết hướng đến là các em ở lứa tuổi day thì với việc say mẽ thin tượng đến mức học hành sa sút; thu hẹp và gặp khó khăn trong các mối quan hệ giao tiếp với những người xung quanh. Trên trang web Ngoisao.net với bài viết nhan để “3 cảng. thân ning”, tác giả để cập đến sự say mê thần tượng một cách nông nổi của sinh viên với khẩu hiệu ba cùng (cùng ăn, cùng ngủ, cùng chơi) và các biểu hiện lệch lạc khác. Trang 8 Ngày 30/3/2007 trên báo Tuổi trẻ online có đăng tin về một người cha ở Trung Quốc đã tim đến cái chết để con gái có cơ hội trò chuyện với thần tượng sau 13 năm theo đuổi.
Sau sự kiện này, trên các trang web Vietnamnet, Thanhnien, Tuoitre xuất hiện hàng loạt bai viết về vấn dé thin tượng của giới trẻ với nhiều khía cạnh khác nhau. Đó là các kiểu hâm mộ của khán thính giả Việt Nam; các xu hướng thể hiện sự hâm mộ; sự tác động của thể giới giải trí lên luân thường đạo lý, lối sống của giới trẻ; xung đột giữa cha mẹ và con cái xung quanh việc hầm mộ thần tương,. Ngày 16/4/2007, báo Tuổi trẻ online mở diễn dan “Than tượng- nên hay không” để mọi người chia sẻ các ý kiến xung quanh vấn dé than tượng của giới trẻ. Diễn dan thu hút sự tham gia đông đảo của bạn đọc với các ý kiến từ nhiều góc nhìn khác nhau, Những người đang hâm mộ thần tượng nêu lên những điều tốt đẹp học được từ thần tượng (kiến thức, cách giao tiến, cách sống, sự nỗ lực trong cuộc sống,.), họ thấy rằng nên có than tượng để vươn lên và có chỗ dựa tính thắn mỗi khi gặp khó khăn trong cuộc sống.
Tuy nhiên không nên chạy theo thin tượng chỉ vì hình thức bên ngoài, dén hết tâm trí vào thần tượng và đánh mất chính mình. Những người đã từng hầm mộ thần Lượng thì cho rằng thần tượng là một hiện tượng tự nhiên của tuổi mới lớn, chỉ là một sở thích sẽ mất theo thời gian và lứa tuổi. Sự quan tâm và khích lệ đúng lúc của người lớn sẽ giúp các em có thần tượng mà vẫn không đánh mất mình, trở thành động lực thúc đẩy các em vươn lên trong cuộc sống. Dưới góc nhìn của các bậc phụ huynh, có ý kiến nhấn mạnh những tác hai của việc hâm mộ than tượng như tốn kém vì chạy theo mốt của thần tượng, thất vọng khi nhận ra hình ảnh that của thần tượng.
Các ý kiến còn lại nhận định ảnh hưởng của thần tượng tết hay xấu Trang 9 phụ thuộc vào nhận thức và hành động thể hiện sự hâm mộ. Người lớn cẩn chỉ ra cho giới trẻ nên dat sự hãm mộ vào đâu, hâm mộ như thé nào và đầu là gidi han của sự ham mộ. Qua các bài viết và các ý kiến trên diễn dan, ta thấy dư luận xã hội ngày càng quan tâm nhiều hơn đến vấn để thần tượng của giới trẻ. Nhiéu tác giả đã có những phân tích khá sâu sắc hiện tượng này, Tuy nhiên đa số các bài viết vẫn dừng lại ở việc mô tả các hiện tượng, phản ánh những ảnh hưởng tiêu cực từ việc hãm mộ thần tượng với những nhận định khá chủ quan của tác giả khi đứng trước các trường hợp nổi trội.
Các tác giả chưa có diéu kiện để tim hiểu vấn để này một cách khái quát, hệ thống để đưa ra các kết luận khách quan, tổng quát. Người nghiên cứu mạnh dạn tìm hiểu để tài này với mong muốn bước đầu đưa ra cái nhìn tượng đổi hệ thống và khái quát xung quanh việc chọn thắn tượng của học sinh THPT. Từ đó giúp các bậc phụ huynh, các nhà giáo dục có những định hướng và những biện pháp giáo dục hợp lý, hiệu quả đối với các em. Khái niệm Thuật ngữ “thần tượng" được từ điển giải thích với nhiều nghĩa khác nhau.
Theo từ điển tiếng Việt, thần tượng trước tiên được giải thích là “hình hoặc ảnh một người đã chết” [30,1132]. Nghĩa thứ hai của thần tượng là “pho tượng than” [11,1710], là “hình một dang thiêng liêng được tn sùng và chiêm ngưỡng” [25,1099; 4,767]. Từ những giải thích trên than tượng được hiểu rộng hơn, được dùng làm từ chi “cdi được tôn sing, chiêm Trang 10 ngưỡng” [26,850], là “vat được tôn thờ trong các tôn giáo đa thần” [21.385;20,776|, là "người hay vật được dé cao, tôn sing” [29,1053]- đây là nghĩa thứ ba của thần tượng. Theo từ điển tiếng Anh Oxford Studet's, than tượng là người được kham phục, hâm mộ và yêu mến.
Khái niệm than tượng cũng được các tôn giáo giải thích theo quan điểm riêng của họ. Theo Phat giáo, than tượng là hình ảnh của các vị thần trong các tôn giáo hữu than được tao lập để cầu nguyện ban ân phước và che chở [9]. Tin Lành giáo giải thích than tượng là những cái mà con người tôn sùng, dùng mọi cách để đạt được. Trong thời đại ngày nay đó là tiền tài, vật chất, danh vọng, sắc dep hay những người nổi tiếng trong xã hội [5].
Và Cao Đài giáo cũng quan tâm đến nghĩa rộng (nghĩa thứ ba) của than tượng khi giải thích “Thdn tượng là chỉ một nhân vật tiếng tăm, có đầy đủ phẩm chất cao quý, được nhiều người tôn sùng và yêu mến" [1], lúc này đặc điểm của thần tượng được nhấn mạnh. Từ những giải thích trên chúng ta thấy thần tượng đã từng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, từ những nghĩa từ trừu tượng đến cụ thể, đơn giản. Để xây dựng được khái niệm công cụ cho để tài này (khái niệm than tượng), người nghiễn cứu thấy có hai câu hỏi cẩn được trả lời. Thứ nhất, thân tượng là những đổi tượng nào? Câu hỏi này nói lên sự khác biệt giữa thần tượng với người bình thường và thái độ của người hãm mộ đối với than tượng.
Thứ hai, vi sao một người được chọn làm thân tượng” Ở câu hỏi thứ nhất, chúng ta thấy đối tượng nghiên cứu của để tài này là "việc chon thắn tượng của học sinh THPT”, than tượng được nói tới ở đây là những con người cụ thể, do đó các giải thích xem thắn tượng là "hình Trang LÍ hoäc ảnh của người đã chết” hay “pho tượng thin” là không phù hợp. Chúng ta phải hiểu than tượng theo nghĩa rộng của nó: là người được tôn vinh, tôn sùng. Mặt khác khi tra cứu trong từ điển, ta có thể bắt gặp nhiều từ khác nhau diễn tả thái độ của một người dành cho thin tượng như: tôn sùng, tôn vinh, say mê, ngưỡng mộ, chiêm ngưỡng, khâm phục, yêu mến. Mỗi từ chứa đựng một thái độ với các mức độ và ý nghĩa khác nhau đối với thần tượng.
Ví dụ như tôn sing có nghĩa là "tôn kính và dé cao hết mite” (30,1668], chiêm ngưỡng là “trông lên và ngắm một cách kính cẩn" [30,356], hay say mê là “ham thích đến mức không rời ra được, không còn thiết gì khác” [30,1433|. Chúng ta thấy những từ này thể hiện thái độ, niém tin một cách tuyệt đối, sẽ thích hợp hơn khi dùng để diễn đạt với than tượng là những dang thiếng liêng trong các tôn giáo hay sự hãm mộ đã đi tới mù quáng, không còn có sự kiểm soát của lý trí. lội đây chúng ta chỉ hưởng tới những con người cụ thể và biểu hiện hâm mộ của số đông, do đó người nghiên cứu chọn các từ miêu tả thái độ ở mức thấp hơn và có thể bắt gặp trong cuộc sống hằng ngày.