CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG GIA ĐÌNH, MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG HỌC VÀ SỨC KHỎE TINH THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.Tổng quan các nghiên c u li n quan đến tươn quan iữa môi trường ia đình, môi trườn trường học và s c khỏe tinh thần trẻ em 1. Các nghiên cứu về mối tương quan giữa môi trường gia đình và sức khỏe tinh thần trẻ em trên thế giới và Việt Nam Mối tương quan giữa môi trường gia đình và sức khỏe tinh thần của trẻ em được nhiều nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đặc biệt quan tâm trong nhiều thập kỷ qua. Các hướng nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc chỉ ra các tác động của từng biến số gia đình cụ thể đến sức khỏe tinh thần của trẻ em và thanh thiếu niên và khái quát các biến số gia đình thành các yếu tố hỗ trợ và yếu tố nguy cơ cho sức khỏe tinh thần trẻ em. Hướng nghiên cứu khái quát các biến số gia đình đã chỉ ra khi nào các yếu tố thuộc gia đình trở thành nguy cơ và khi nào chính các yếu tố đó lại là yếu tố hỗ trợ cho sức khỏe tinh thần trẻ.
Nghiên cứu gần đây nhất ở Việt Nam trên mẫu trẻ em và thanh thiếu niên đại diện Quốc gia tại 60 địa điểm thuộc 10 tỉnh thành đã đánh giá một số yếu tố rủi ro và bảo vệ cụ thể có liên quan đến vấn đề sức khỏe tinh thần, tuy nhiên các tác giả chỉ tập trung vào các đặc điểm nhân khẩu như các thế hệ sống trong gia đình, số anh chị em, số lượng thời gian cha mẹ dành để nói chuyện với con cái, thu nhập và học vấn của cha mẹ (Đặng Hoàng Minh và cộng sự, 2014). Các yếu tố tâm lý khác thuộc gia đình đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài cho thấy có tác động đến sức khỏe tinh thần của con như mối quan hệ của cha mẹ, tâm trạng của cha mẹ, áp lực của cha mẹ, mối quan hệ cha mẹ con v. chưa được đề cập đến trong nghiên cứu này. Nghiên cứu của Parsons, Wallon, Bowbly và Laclan cho rằng môi trường gia đình vừa là yếu tố hỗ trợ lẫn yếu tố nguy cơ của sức khỏe tinh thần trẻ em, cụ thể giáo dục của cha mẹ như là tác nhân của sự kìm hãm, điều chỉnh những rối nhiễu của trẻ, nhưng cũng có thể làm tăng thêm những rối nhiễu nếu như không có cách giáo dục phù hợp.
Hướng nghiên cứu từng yếu tố cụ thể ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần trẻ đó là: Kỳ vọng của cha mẹ đến con cái. Carl Pickhardt cho rằng việc cha mẹ có những kỳ vọng không thực tế đối với con là nguyên nhân gây ra những tổn hại 6 về mặt cảm xúc cho trẻ. Những kỳ vọng không hợp lý của cha mẹ đối với con mà con không thể đạt được là nguyên nhân gây căng thẳng cho trẻ vị thành niên (Carl Pickhardt, 2007). Năm 2005, nghiên cứu của Ericko Kobayashi cho thấy việc nhận thức được sự kỳ vọng cao của cha mẹ có thể không gây ra áp lực, nhưng khi trẻ đánh giá sự mong đợi đó là quá sức thì nó có thể trở thành áp lực và gây căng thẳng cho chúng.
Nguyễn Thị Nhân Ái (2014) trong một nghiên cứu về “Mối liên hệ giữa mức độ kỳ vọng của phụ huynh và mức độ căng thẳng tâm lý của học sinh trung học phổ thông” đã cho thấy “Có mối liên hệ nhất định giữa mức độ kỳ vọng của phụ huynh và mức độ căng thẳng tâm lý của học sinh THPT, mặc dù hai nhân tố này không có mối tương quan tuyến tính chặt chẽ với nhau. Cụ thể các nhóm học sinh THPT có sự kỳ vọng vào sự thành công trong học tập, định hướng nghề nghiệp và cách thể hiện kỳ vọng của cha mẹ các em đến các em khác nhau có mức độ căng thẳng khác nhau trong tần suất, mức độ và trường độ. Những kỳ vọng không phù hợp của phụ huynh vào học sinh THPT dễ gây ra căng thẳng cho các em hơn. Sự kỳ vọng của cha mẹ ảnh hưởng đến sức khỏe của học sinh cũng được thể hiện trong nghiên cứu của Sibnath Deb (2001) tại Ấn Độ khi khi so sánh tỷ lệ rối nhiễu lo âu giữa học sinh trường Bengali và trường English đã phát hiện chính kì vọng của cha mẹ và áp lực thành tích học tập là nguyên nhân chính gây ra mức độ rối nhiễu lo âu cao ở thanh thiếu niên (Trích dẫn lại theo Nguyễn Đại Hành, 2013).
Sức khỏe tinh thần của cha mẹ. Một số nghiên cứu trên thế giới chỉ ra sức khỏe tinh thần của cha mẹ có ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của con. Nghiên cứu về di truyền (gene) cho thấy, rối nhiễu tâm lý xuất hiện ở nhiều thế hệ trong gia đình, như vậy rối nhiễu tâm lý có thể được truyền từ cha mẹ tới con qua gene. Nghiên cứu của Hammen và Brennan (2003) cho thấy con ruột của cha mẹ bị trầm cảm có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn so với con của những cha mẹ không bị trầm cảm.
Connell và Goodman (2002) công bố sự trầm cảm của người cha cũng liên quan đến cả vấn đề ngoại hóa và nội hóa ở trẻ em. Nghiên cứu của Lewis và đồng nghiệp (2017) trên hai nhóm dân số lớn ở Ireland cho thấy mức độ trầm cảm trẻ em 12-14 tuổi có tương quan với mức độ trầm cảm ở người cha tương đương như những trẻ có mẹ bị trầm cảm. Tuy nhiên, trong phân tích sâu sau 10 năm, Connell và Goodman (2002) đã báo cáo rằng mức độ trầm cảm ở người mẹ liên quan mạnh hơn với các vấn đề nội hóa ở trẻ so với mức độ trầm cảm ở người cha. Frick và Loney cũng đã báo cáo rằng nhiều trẻ em và thanh thiếu niên có rối nhiễu hành vi có người thân có bệnh tâm thần, bao gồm rối nhiễu tâm trạng, rối nhiễu lo âu, rối nhiễu sử dụng chất gây nghiện và rối nhiễu nhân cách và đây chính là minh chứng cho rối nhiễu hành vi có thể ít nhất là một phần di truyền.
Sức khỏe tinh thần của trẻ em cũng tương quan với hành vi chống đối xã hội của cha mẹ (Frick, P. Siegel & Senna 7 (2004) đã tiến hành các nghiên cứu cho thấy rõ ràng rằng nếu người bố ruột là một tội phạm, thì rất có thể con trai cũng vậy. Rối nhiễu hành vi cũng xuất hiện thường xuyên hơn ở trẻ có cha mẹ ruột có vấn đề về lạm dụng rượu, trầm cảm, rối nhiễu lưỡng cực, tâm thần phân liệt và có lịch sử tăng động giảm chú ý hay rối nhiễu hành vi (DSM-V, 2013, Dishion et al, 1988). Quan hệ cha mẹ - con.
Mối quan hệ cha mẹ - con ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của con như hệ quả của tình trạng trầm cảm của cha mẹ và phong cách làm cha mẹ. Hậu quả của cha mẹ bị trầm cảm. Ảnh hưởng của tình trạng trầm cảm của cha mẹ đến sức khỏe tinh thần của con không chỉ qua di truyền mà còn qua hậu quả của hành vi trầm cảm. Những người mẹ trầm cảm có xu hướng tiêu cực hoặc ít tích cực với con của mình hơn so với những người mẹ mạnh khỏe (Lovejoy et al.
Cha mẹ trầm cảm cũng tỏ ra hay phê phán (Frye & Garber, 2005; Herr et al., 2007), kiểm soát tâm lý (Cummings et al, 2005), mâu thuẫn (Kane & Garber, 2004) và ít giám sát (Gelfand & Teti, 1990), ít chấp nhận (Herr et al., 2007), và ít ấm áp (Cummings et al, 2005) hơn cha mẹ khỏe mạnh. Goodman et al (1994) báo cáo rằng những người mẹ trầm cảm sử dụng nhiều câu tiêu cực với con mình hơn và những đứa trẻ này có tỷ lệ vấn đề tâm bệnh học cao hơn. Thêm vào, mức độ ấm áp thấp và mức độ kiểm soát tâm lý cao và sự tham gia quá mức của các bà mẹ trầm cảm dự báo kết quả tiêu cực hơn cho con của họ (Brennan et al, 2003). Garber (2005) tin rằng các yếu tố trong các gia đình của cha mẹ bị trầm cảm bao gồm cả những khó khăn trong mối quan hệ hôn nhân, mối quan hệ cha mẹ-con và môi trường gia đình có thể tạo điều kiện cho việc trầm cảm của cha mẹ ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của con.
Phong cách làm cha mẹ. Một số khía cạnh trong mối quan hệ cha mẹ - con có liên quan đến các triệu chứng các vấn đề hướng nội và đặc biệt là trầm cảm ở thanh niên (Sheeber, Hops, & Davis, 2001) bao gồm kỷ luật khắt khe, tiêu cực (Kim & Ge, 2000, Dallaire et al, 2006), thiếu hụt sự hỗ trợ (Sheeber et al, 1997), mâu thuẫn (Sagrestano et al, 2003; Sheeber et al, 2007), quá bao bọc (Avison & McAlpine, 1992; Roelofs et al, 2006), kiểm soát về tâm lý (Brennan et al, 2003), lãnh đạm (Liu, 2003) và chối bỏ (Roelofs et al, 2006). Trẻ có cha mẹ có mức độ giám sát cao (Kim & Ge, 2000; Sagrestano et al, 2003), để hết tâm trí vào con và ấm áp (Brennan et al, 2003; Roelofs et al., 2006), chăm sóc (Avison & McAlpine, 1992; Liu, 2003), gắn bó, độc lập, có mối quan hệ tốt (Allen et al, 2006) và phong cách làm cha mẹ tích cực – hỗ trợ (Sheeber et al, 2007; Stice et al, 2004) có chỉ số các vấn đề hướng nội thấp hơn. Mức độ gắn kết cha mẹ - con ảnh hưởng đến các vấn đề hướng ngoại của trẻ cũng được khẳng định trong nghiên cứu của DeKlyen, M.
và Speltz và Chamberlain. Kết quả nghiên cứu cho 8 thấy gắn kết không an toàn giữa các thành viên trong gia đình, mà đặc biệt là giữa trẻ và cha mẹ là yếu tố ảnh hưởng đến rối nhiễu hành vi của con khi lớn lên (DeKlyen, M. Việc nuôi dạy con cũng được Chamberlain et al (1997) nghiên cứu cho thấy có ảnh hưởng đến rối nhiễu hành vi của trẻ khi cha mẹ kỷ luật không nhất quán, kỷ luật gây ấm ức, khó chịu, hạn chế sự giám sát và tham gia vào hoạt động của con cái và kỷ luật cứng nhắc/ không linh hoạt, cưỡng chế/ ép buộc cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hành vi rối nhiễu của con (Patterson, G. Mối quan hệ hôn nhân.
Trẻ em của cha mẹ có mâu thuẫn hôn nhân cao có thể bắt chước hành vi của cha mẹ và có khó khăn trong việc học các kỹ năng tương tác phù hợp (Cummings & Davies, 1994). Sự thiếu hụt các kỹ năng xã hội này có thể làm tăng sự căng thẳng và từ đó xuất hiện nhiều triệu chứng trầm cảm.