CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VE PHẬT GIÁO TÍNH LANG SƠN 1. Khái quát về tỉnh Lạng Sơn. Khái quát về bối cảnh lịch sử địa lý nhân văn tỉnh Lang Sơn. Đã từ lâu Lạng Sơn là vùng đất quan trọng là phên dậu của Tổ quốc, tiếp giáp với Trung Quốc và là một địa bàn quần cư thống nhất của nhiều dân tộc anh em mà chủ yêu là Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Sán Chỉ, Cao Lan.
Lạng Sơn là một tỉnh thuộc miền núi phía bắc, là tỉnh địa đầu của Tổ quốc có tới 253 km đường biên giới, phía đông tiếp giáp với tỉnh Quang Tây của Trung Quốc, phan còn lại là giáp với tỉnh Quảng Ninh, phía đông nam giáp với Bắc Kạn, Thái Nguyên, phía tây nam giáp với Bắc Giang, Phía nam là Cao Bằng, với diện tích tự nhiên 8.187,25km2, trong đó đổi núi chiếm 80%, Lạng Sơn là nơi cư trú của 704,663 người dan, với mật độ 88 người/km2. [2] Địa hình ở Lạng Sơn tương đối phức tạp do nằm ở trong khu vực có nhiều biến đôi qua các đợt vận động về địa lý, địa chất. Mật độ sông suối Lạng Sơn khá dày với tổng chiều dài hơn 400km được chia ra hai hệ thống chính là hệ thống sông Kỳ Cùng ở phía Bắc tỉnh và hệ thống sông Thương ở phía Nam tỉnh. Địa hình Lạng Sơn nhìn chung dé thấy là núi đôi khe rạch nên địa hình độ cao trung bình là 252 m so với mực nước biên.
Lạng sơn từ khi mới thành lập đã là vùng đất có vị trí quan trọng, là cửa ngõ với phương Bắc, có tam quan trọng về quân sự, chính trị và ngoại giao. Trong lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú có viết “ Lạng Sơn Nam giáp với An Quảng, Bắc giáp với Ai Quán. Tây giáp với Kinh Bắc, Đông lién Cao Bằng - hàng nghìn ngon núi la liệt, khí hậu độc đường đất hiểm trở di lại khó Khăn.[2] Đến nay Lạng Sơn với 10 huyện gồm: Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Lãng, Văn Quang, Trang Định, Hữu Lũng, Chi Lang, Cao Lộc, Lộc Bình và Dinh Lập. Ngay Từ Khi thành lập Lạng Sơn là cửa ngõ quan trọng về giao thương với phương Bắc.
Trong cuốn Lịch triều hién chương loại chí Phan Huy Chú có ghi,“ Lang Sơn đời cổ là đất Lạc Long, Tân là quận Nam Hải, Hán thuộc quận Giao Chỉ, Đường đổi là Giao Châu”3. Qua sách này ông cũng cho biết địa giới Lạng Sơn: “Lạng Sơn Nam giáp An Quảng, bắc giáp với Ai Quán, Tây tiếp với kinh Bắc, Đông lién Cao Bằng - hàng nghìn ngọn núi la liệt, hàng môn khe suối quanh vòng, khí núi độc đường, đất hiểm trở đi lại khó khăn.[2] Đến Triều Lý (1010 -1225) trở đi, Lạng Sơn càng trở nên quan trọng trong cơ cấu tô chức hành chính tuyến biên giới phía Bắc. Vào thời kỳ này, Lạng Sơn được gọi là Lạng Châu Lộ. Đến thời Trần thì được đổi lại thành trấn Lạng Giang.
Năm Hồng Đức thứ 26 ( 1495) Lê Thánh Tông cho tu bồ lại thành Lạng Sơn (Doan Thành). [2] Lạng Son là một vùng biên tran quan trọng và cũng là đại bản doanh của nhà Mạc trước đó nên các chúa Trịnh thường cử các quan văn có tiếng lên trấn trị, tiêu biểu là viên quan Ngô Thi Sĩ ( Thân phụ của Ngô Thì Nhậm) ông làm đốc tran Lạng Sơn từ 1777 — 1780. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú có chép như sau: “Bay giờ hạt Lang Sơn đói vì mất mùa dân 7 châu phan nhiều di nơi khác và chết đói day đường. Khi ông đến tìm cách cấp cứu rồi chiêu dụ dân lưu tán về khai khẩn ruộng hoang, tự mình đôn độc việc cày bừa để khuyến khích dân biên giới, đến vụ gặt mùa được bội thu do đó trộm giặc tiêu tan trong hạt yên on” 4 Trong những bài ký phú của mình trên vách động Nhị Thanh ông cũng phi lại việc làm của ông đối với tran Lạng Sơn.[3] Trải qua các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và cuộc cách mạng Tháng Tám thành công, Lạng Sơn có tất cả 11 huyện thị với 225 xã, phường, thị trấn.
Được bao bọc bởi núi non và đường biên giới khá dài, vì thế ảnh hưởng của địa lý sinh thai đã làm cho con ngươi ở Lang Sơn luôn có một nghị lực phi thường ý chí quật cường, giàu lòng yêu thương. Là một tỉnh có diện tích phần lớn là đổi núi, đa số nhân dân là các dân tộc thiêu số, quanh năm suốt tháng cặm cụi với khoai sẵn. Tuy vậy, thiên nhiên vẫn có phần ưu ái ban cho những danh lam thắng cảnh, những khu du lịch tự nhiên như động Tam Thanh, động Nhị Thanh, đỉnh núi Mẫu Sơn, suối Long Đầu, hay núi Nàng Tô Thị, Ải Chi Lăng, cùng những ngôi chùa duoc xây dựng khá sớm như Chùa Thanh, Chùa Tiên — Giéng Tiên, chùa Tam Thanh, Nhị Thanh,.với những điều kiện ấy đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống, kinh tế và con người ở xứ Lạng. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội.
Trong sách Lạng Sơn nơi địa đầu của tổ Quôc có ghi “Lạng Sơn là một tinh miền núi, biên giới, thuộc vùng Đông Bắc với diện tích tự nhiên 8.310,09km”,Dân số năm 1999 là 727,081 mật độ 88 người/ km2 hẹp nhất là thành phố Lạng Sơn, rộng nhất là huyện Đình Lập”5. Với địa thé là điểm nút giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây là Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, phía Đông là tỉnh Quảng Ninh, phía Nam là Bắc Giang và phía Bắc tiếp giáp với khu tự trị din tộc Choang, Quảng Tây Trung Quốc, với 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị và cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng), 1 cửa khâu chính Chi Ma và 9 cửa khâu phụ.[6] Lạng Sơn là điểm đầu tiên của Việt Nam trên 2 tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) — Lang Sơn — Hà Nội — Hải Phong và Lạng Sơn — Hà Nội — Thành Phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài ( tham gia hành lang xuyên A : Nam Ninh - Singapore), là cửa ngõ quan trọng nối các nước ASEAN. Lạng Sơn có đường biên giới với Quảng Tây — Trung Quốc dai đến 231km. Lạng Sơn cách Nam Ninh là thủ phủ của Quảng Tây, Trung Quốc khoảng 230km, cách Thủ đô Hà Nội Khoảng 150km.
Đang xây dựng tuyến đường cao tốc nối với tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và thành phố Hà Nội, có đường sắt liên vận quốc tế nối với Quảng Tây, Trung Quốc rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học — công nghệ với các tinh trong cả nước và nước ban Trung Quôc. Tình hình kinh tế - văn hóa xã hội: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm tăng trưởng cơ cấu kinh tế chuyên dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Về xây dựng nông thôn mới, hết năm 2018 bình quân toàn tỉnh đạt 9,7 tiêu chí /xã, có 48 xã đạt chuẩn, không còn xã đưới 5 tiêu chí, thành pho Lang Son duoc công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Đến hết năm 2022 tỷ lệ cứng hóa đường ô tô đến trung tâm xã đạt 76,2%, tỷ lệ diện tích bảo đảm tưới tiêu 73,6%, tỷ lệ dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh 91%; tỷ lệ dân cư thành thị sw dụng nước sạch 99%; tỷ lệ thôn có điện đạt 98,3 ( còn 36 thôn chưa có điện).[20] Sản xuất công nghiệp chủ yếu là các cơ sở quy mô nhỏ, giá trị sản xuất công nghiệp đạt khoảng 5.
Một số lĩnh vực lợi thế của tỉnh là: Sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, khoáng sản, nhiệt điện, chế biến gỗ. hiện đang xây dựng một số cụm công nghiệp : Hợp Thành 1, Hợp Thành 2, Quảng Lạc. Hoạt động du lịch phát triển cả về lượng khách, loại hình dịch vụ doanh thu và chất lượng phục vụ; lượng khách tăng bình quân 5%/ năm, năm 2018 đã thu hút được 2,8 triệu lượt khách du lịch. Số doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại — dịch vụ chiếm 68%, công nghiệp — xây dựng 29%, nông lâm nghiệp 13%; nhóm doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ và công nghiệp — xây dựng phát triển khá.
Tỷ lệ thôn, khối phố có nhà văn hóa đạt khoảng 90%. Số trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2018 là 192 trường trên tổng số 694 trường. Đến hết năm 2018, tổng số xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế là 114 xã, chiếm 50,4% số xã. Có 10,5 bác sĩ trên vạn dân, 28,3 giường bệnh / vạn dân, tỷ lệ người dân tham gia đóng bảo hiểm y tế đạt 95,5%.[20] Tỷ lệ lao động qua dao tao đến nay đạt mức hơn 50%, lao động được giải quyết việc làm hang năm trên 14.
Hộ nghèo được giảm di đáng kẻ. Khái quát về di tích lich sử và danh lam thắng cảnh tinh Lang Son. Xứ Lạng, nơi biên ải vùng Đông Bắc của Tổ quốc Việt Nam, tỉnh ly chỉ cách thủ đô Ha Nội (Thăng Long xưa) trên 150km — một mién đất xuất hiện dấu ấn, con người Việt cổ cách nay gần nửa triệu năm và có tên thành văn từ thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang (thuộc bộ Lục Hải), nên có nhiều tên đất tên người nồi tiếng từ xa xưa đến nay như: “Thâm Khuyên, Thâm Hai” (xã Tân Văn huyện Bình Gia). Đầu những năm 60 của thé kỷ trước (thé ky XX) một nhà khảo cổ học người Đông Âu đã phát hiện răng người vượn cổ cùng nhiều hóa thạch có cách nay 4.750 năm; và trước đó người Pháp cũng phát hiện hang “Kèo Lèng” (bản Dù, xã Tô Hiệu, Binh Gia) những răng, mảnh xương tran loài người hiện đại (thời hậu cách tân — Pleietsène) hang Thâm Khoec (xã Văn Thụ, Bình Gia) và các hang Dơi, Cò Khoec, Khau Khoai, Dục Giáo, Vô Muộn (Bắc Sơn) hay hang Phia Vệ (TP Lạng Sơn) rất nhiều rìu đá, dao mài lưỡi, dấu mài.
thuộc nền văn hóa Bắc Sơn. Đặc biệt trên chục năm gan đây ( cuối thế kỷ XX) hai lần khai quật trên đất Lạng Sơn do Bao tàng Tổng hợp Lang Sơn và Viện Khảo cổ học đã xác lập nên “ nền văn hóa Mai Pha” và cả một giai đoạn trước đó, góp phần xuyên suốt quá trình lịch sử Lạng Sơn. Thế kỷ X, Đinh Tiên Hoàng người Hoa Lư, Ninh Bình, dẹp xong loạn 12 sứ quân thống nhất non sông. Ông lên ngôi hoàng dé, đặt tên nước là “ Đại Cồ Việt” mà Lạng Sơn là một châu quan trọng, được giao cho các tù trưởng người địa phương quản lý.
Sau 11 năm trị vì Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích sát hại.