CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU 1. Tổng quan về quyền chọn (Option) và quyền chọn cổ phiếu 1. Quyền chọn Quyền chọn là một công cụ tài chính phái sinh cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc phải mua hoặc bán một tài sản (underlying asset) nào đó ở một mức giá xác định (strike price hoặc exercise price) vào một ngày đáo hạn (expiration date) hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai. [11] Ngược lại, đối với người bán quyền chọn, họ bắt buộc phải mua hoặc bán một tài sản nào đó ở một mức giá xác định vào một ngày hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai theo thỏa thuận giữa hai bên.
Các hàng hoá trong giao dịch quyền chọn có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, thương phẩm, tiền tệ, lãi suất… Một quyền chọn phổ biến nhất trên thế giới hiện nay trong lĩnh vực tài chính và có nhiều điểm tương đồng với giao dịch cổ phiếu là quyền chọn cổ phiếu. Quyền chọn cổ phiếu Là một công cụ giao dịch linh hoạt nhất đã được tìm ra trong lĩnh vực kinh doanh – tài chính. Người mua quyền chọn có quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ bắt buộc, mua hoặc bán một số lượng cổ phiếu cơ sở (underlying stock) tại mức giá thực hiện đã thoả thuận trước (strike price/ exercise price) vào trước hoặc tại ngày đã định trước(expiry date). [11] Một hợp đồng quyền chọn bao giờ cũng phải có đầy đủ ít nhất 5 nội dung chính: chứng khoán cơ sở, quy mô hợp đồng, thời gian đáo hạn, giá thực hiện và giá phí quyền chọn.
Trong đó: Luan van 5 Giá quyền chọn còn được gọi Phí quyền chọn (premium): khoảng phí mà người mua quyền chọn phải trả cho người bán quyền chọn để nhận được quyền mua bán cổ phiếu. Giá thực hiện (strike price) còn được gọi là giá điểm là mức giá tại đó cổ phiếu trong một quyền chọn có thể được mua hoặc bán. Phân loại hợp đồng quyền chọn cổ phiếu 1. Theo quyền người mua Hợp đồng quyền chọn mua (Call options): Là một thỏa thuận giao dịch một lượng cổ phiếu nhất định, trong đó người mua call options (A) sẽ trả cho người bán call options (B) một khoản phí quyền chọn (options premium) và A sẽ có quyền được mua nhưng không bắt buộc phải mua một lượng tài cổ phiếu đó theo một mức giá đã được thoả thuận trước vào một ngày hoặc một khoảng thời gián xác định trong tương lai.
[11] Hợp đồng quyền chọn bán (Put options): Là một thỏa thuận giao dịch một lượng cổ phiếu nhất định, theo đó người mua Put options (C) sẽ trả cho người bán Put options (D) một khoản phí Put options và C sẽ có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ phải bán lượng cổ phiếu đó theo một mức giá đã thỏa thuận trước (giá thực hiện) vào một ngày hoặc một khoảng thời gián xác định trong tương lai. [11] Bên tham giá hợp đồng Người mua quyền chọn Người bán quyền chọn - Phải trả phí; - Được nhận phí; - Có quyền lựa chọn thực hiện - Không có quyền quyết hoặc không thực hiện hợp định việc thực hiện hoặc Loại quyền chọn đồng không thực hiện hợp đồng - Nếu giá thị trường cao hơn giá gốc hợp đồng thì sẽ thực hiện quyền chọn; Có nghĩa vụ thực hiện theo Quyền chọn mua - Nếu giá thị trường thấp hơn quyết định của người mua giá gốc hợp đồng thì sẽ không thực hiện quyền chọn. Luan van 6 - Nếu giá thị trường cao hơn giá gốc hợp đồng thì sẽ không thực hiện quyền chọn; Có nghĩa vụ thực hiện theo Quyền chọn bán - Nếu giá thị trường thấp hơn quyết định của người mua giá gốc hợp đồng thì sẽ thực hiện quyền chọn. Theo thời điểm thực hiện quyền chọn Quyền chọn kiểu Châu Âu (European options): Là quyền chọn chỉ cho phép người nắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán cổ phiếu của mình vào ngày đáo hạn của hợp đồng.
Việc thanh toán thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ xác nhận vào ngày đáo hạn. [11] Quyền chọn kiểu Mỹ (American options): Là quyền chọn cho phép người nắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán cổ phiếu của mình vào bất kỳ thời điểm nào trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, kể từ khi ký kết hợp đồng cho đến hết ngày đáo hạn của hợp đồng. Việc thanh toán sẽ thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ xác nhận (trong thời gian hiệu lực của hợp đồng). Theo thị trường giao dịch Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường tập trung: Là quyền chọn được tiêu chuẩn hóa về quy mô, số lượng, giá thực hiện và ngày đáo hạn, được giao dịch trên các thị trường tập trung như Chicago Board of Trade, thị trường cổ phiếu New York…Do đó, tính minh bạch của thị trường rất cao, thể hiện ở chỗ giá cả, số lượng của hợp đồng giao dịch được công bố chi tiết vào cuối ngày giao dịch, làm dữ liệu tham khảo cho các ngày giao dịch tiếp theo hoặc cho nhiều mục đích khác.
Đặc biệt, các hợp đồng quyền chọn này có thể được dễ dàng chuyển nhượng giữa các NĐT, điều này cho thấy tính thanh khoản cao của các hợp đồng quyền chọn được giao dịch trên các thị trường tập trung kiểu này. Trên thế giới, thị trường giao dịch quyền chọn theo kiểu này chiếm tỉ trọng rất lớn, khoảng 98% tổng giá trị giao dịch quyền chọn của thế giới. [11] Luan van 7 Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường phi tập trung (OTC): Là thỏa thuận mua bán giữa hai bên, theo đó quyền chọn được người bán đưa ra theo thỏa thuận với người mua nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một người mua, chúng không được giao dịch trên các sở giao dịch tập trung. Hợp đồng thường được giao dịch giữa các đối tác liên ngân hàng, hoặc giữa ngân hàng với khách hàng là các cá nhân, doanh nghiệp.
Do các hợp đồng quyền chọn không được chuẩn hóa, chi tiết của hợp đồng là thỏa thuận giữa các bên, nên tính linh hoạt đối với các hợp đồng này là rất cao, đáp ứng được các nhu cầu cá biệt của các khách hàng. Người mua quyền chọn hoặc là biết rõ mức độ đáng tin cậy của người bán hoặc là tự giảm thiểu rủi ro tín dụng bằng một số khoản bảo đảm hoặc các biện pháp nâng cao độ tín nhiệm khác. [11] Các giao dịch quyền chọn phi tập trung kiểu này chỉ chiếm khoảng 2% giá trị giao dịch quyền chọn trên thế giới. Đặc điểm của quyền chọn cổ phiếu: 1.
Mua quyền chọn cổ phiếu là mua quyền để thực hiện hợp đồng Đây là đặc điểm cơ bản nhất và là yếu tố hấp dẫn của hợp đồng quyền chọn so với các hợp đồng mua bán cổ phiếu khác. Một người đã mua hợp đồng quyền chọn có quyền thực hiện hợp đồng khi thị trường biến động thuận lợi hay có thể để hợp đồng vô hiệu. Trong khi đó đối với các hợp đồng mua bán cổ phiếu thông thường khi hợp đồng đến hạn thì cả hai bên tham gia ký kết hợp đồng buộc phải thực hiện hợp đồng. Những tiêu chuẩn của hợp đồng quyền chọn cổ phiếu Hợp đồng quyền chọn cổ phiếu hiện nay trên thế giới phải tuân thủ một số tiêu chuẩn nhất định về: số lượng, ngày đáo hạn, giá thực hiện.
[11] Về số lượng: Thông thường ở các thị trường của Mỹ, số lượng cổ phiếu mua bán trên một hợp đồng quyền chọn là 100 cổ phiếu, ở Úc là 1. Ngày tháng đáo hạn: Một trong những điều khoản để mô tả hợp đồng quyền chọn về cổ phiếu là tháng xảy ra ngày đáo hạn của hợp đồng. Luan van 8 Quyền chọn cổ phiếu có chu kỳ tháng giêng bao gồm: tháng giêng, tháng tư, tháng bảy, tháng mười; chu kỳ tháng hai bao gồm: tháng hai, tháng năm, tháng tám, tháng mười một; chu kỳ tháng ba bao gồm: tháng ba, tháng sáu, tháng chín, tháng mười hai. Ngày đáo hạn chính xác là vào lúc 22 giờ 59 phút (theo giờ của trung tâm giao dịch) ngày thứ bảy của tuần lễ thứ ba của tháng đáo hạn.
Theo thông lệ, NĐT có thời gian đến 16 giờ 30 phút của ngày thứ sáu trước đó để chỉ thị cho nhà môi giới thực hiện hợp đồng. Giá thực hiện: Trung tâm giao dịch chọn giá thực hiện với các mức giá mà theo đó quyền chọn có thể được phát hành. Giá thực hiện thường được đặt cách nhau $2(1/2), $5, hoặc $10. Quy tắc thường được các trung tâm giao dịch áp dụng là sử dụng khoảng cách $2(1/2) cho giá thực hiện khi giá cổ phiếu thấp hơn $25; khoảng cách $5 khi giá thực hiện nằm trong khoảng $25 đến $200; và khoảng cách $10 cho giá thực hiện trên $200.
Ví dụ: Cổ phiếu A có thị giá $20 thì quyền chọn cổ phiếu A có thể được giao dịch ở mức giá thực hiện là $18, $20. Cổ phiếu B có thị giá là $210 thì giá thực hiện của Hợp đồng quyền chọn có thể là $200, $210, $220. Khi một ngày đáo hạn mới được đưa ra, thông thường hai mức giá thực hiện gần nhất với giá cổ phiếu hiện hành sẽ được chọn để trao đổi. Nếu một trong hai mức giá đó gần sát với giá cổ phiếu hiện thời, thì mức giá thực hiện gần thứ ba với giá cổ phiếu hiện tại có thể được chọn.
Ví dụ: Quyền chọn tháng 2 cho cổ phiếu A bắt đầu được giao dịch khi giá cổ phiếu của nó trên thị trường là $32. Khi đó giá thực hiện cho quyền chọn mua và quyền chọn bán loại cổ phiếu này sẽ được đề nghị là $30 và $35. Khi cổ phiếu A tăng lên $34.5 thì mức giá $40 có thể được đề nghị để làm giá thực hiện cho hợp đồng. Vai trò của quyền chọn cổ phiếu 1.
Là công cụ bảo hiểm và kiếm lời hữu hiệu của NĐT Đối với người mua quyền chọn: Luan van 9 Bảo hiểm: Trong trường hợp thị trường biến động như dự đoán, hợp đồng được thực hiện thì phần thu nhập có được do bán cổ phiếu hay chi phí phải bỏ ra để mua cổ phiếu là cố định. Vì thế giúp người mua quyền hạn chế rủi ro cho bản thân mình. Ngược lại, khi quyền chọn không được thực hiện, nghĩa là biến động trên thị trường có lợi hơn cho người mua quyền so với việc thực hiện hợp đồng, khi đó người mua quyền chỉ mất một khoản phí, nhưng lại được lợi hơn khi thực hiện mua bán trên thị trường.