CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOẠT DONG CUA QUỸ HOAN DOI DANH MỤC ETF Ở chương này, tác giả sẽ trình bày những thông tin cơ bản về quỹ ETF để giúp người đọc có cái nhìn căn bản, cách thức vận hành, các yếu tố ảnh hưởng đến lợi suất của quỹ, ưu nhược điểm so với các loại hình đầu tư khác cũng như rủi ro khi đầu tư vào quỹ ETF. Đặc biệt, lý thuyết của G.Romopis về sai lệch chỉ số mô phỏng theo thời gian thành lập Quỹ. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ETF TẠI MỸ Ở chương 2, tác giả sẽ nêu ra thực trạng thị trường chứng khoán và quỹ ETF tại Mỹ. So sánh độ sai lệch chỉ số mô phỏng của 2 Quỹ ETF lớn SPY và IVV.
Từ đó, tác giả sẽ đưa ra những giải pháp mà Mỹ đã thực hiện về hoạt động đầu tư của các quỹ ETF. CHƯƠNG 3: BÀI HOC CHO HOẠT DONG CÁC QUY ETF TẠI VIỆT NAM Ở chương 3 này, tác giả nêu khái quát về thị trường chứng khoán Việt Nam và các Quỹ ETF Việt Nam. Đưa ra so sánh về thị trường những điều kiện dé áp dụng các giải pháp của Mỹ tại Việt Nam trong việc hoạt động dau tư của các quỹ ETF. Từ đó, tác giả rút ra bài học và đề xuất khuyến nghị cho các co quan quản lý, công ty quan lý quỹ và các nhà đầu tư dé hoạt động các quỹ ETF tại Việt Nam có thé hiệu quả hơn.
SV: Trần Diệu Linh MSV: 18050504 PHAN NỘI DUNG CHUONG 1:CO SO LY LUAN VE HOAT DONG CUA QUY HOAN DOI DANH MUC (ETF). Khai niém vé quy ETF 1. Dinh nghia quy ETF Quỹ dau tư là gì? Quỹ đầu tư là một định chế tài chính thực hiện việc huy động vốn của những nguồn tiền nhãn rỗi khác nhau thông qua việc bán các chứng chỉ quỹ. Quỹ sẽ sử dụng những khoản vốn góp này tập hợp lại, để đem đi đầu tư vào các loại tài sản trên thị trường như trai phiếu, cô phiếu, tiền tệ.
Lợi nhuận khi kiếm được sẽ chia cho những cô đông góp vốn thông qua việc chi trả cổ tức. Thực chat, đây là hình thức dau tư tập thé bang cách góp vốn chung giữa những nha đầu tư cá nhân, t6 chức nham tăng tính chuyên nghiệp của việc đầu tư, tạo cơ hội giảm thiểu các rủi ro và chỉ phí liên quan tới quá trình đầu tư. Theo Ủy ban chứng khoán và giao dịch Mỹ ( SEC) về định nghĩa Quỹ dau tư: “ Quy đầu tư là một tổ chức tập hợp tiền từ nhiều người va đầu tư vào cô phiếu, trái phiếu hoặc các tài sản khác. Việc nắm giữ kết hợp cô phiếu, trái phiếu hoặc các tài sản khác mà quỹ sở hữu được gọi là danh mục dau tư của quỹ.
Mỗi nhà dau tư trong quỹ sở hữu cổ phiếu, đại diện cho một phan của những cô phiếu này”. Theo khoản 37 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019 quy định cụ thể: “Quỹ dau chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà dau tư với mục đích thu lợi nhuận từ việc dau tư SV: Trần Diệu Linh MSV: 18050504 vào chứng khoán hoặc vào các tài sản khác, kê cả bát động sản, trong đó nhà đâu tư không có quyên kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định dau tư của quỹ5. ” Quy ETF là gì? Quỹ hoán đôi danh mục — ETF (Exchange-Traded Fund) “là quỹ đầu tư với mục đích mô phỏng tỷ suất sinh lợi của chỉ số cô phiếu, trái phiếu, hàng hóa hoặc một loại tài sản nào đó. ETF là quỹ được thiết kế cho một số lượng nhà dau tư cùng góp vốn.
Giấy chứng nhận sở hữu một phần quỹ ETF của nhà đầu tư được gọi là chứng chi ETF. Quỹ hoán đổi danh mục là loại hình quỹ mở (là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư), được hình thành từ việc tiếp nhận, hoán đổi danh mục chứng khoán cơ cấu lẫy chứng chỉ quỹ. Theo định nghĩa của Uy ban Chứng khoán và Giao dịch Mỹ (SEC ) về ETF : “Các quỹ hoán đổi danh mục (ETF) là các công ty dau tư đã đăng ký với SEC, giúp cho các nhà dau tư một dua tiền của họ vào một quỹ dau tư vào cổ phiếu, trái phiếu hoặc các tài sản khác. Đổi lại, các nhà dau tư nhận được một khoản lãi trong quỹ.
Hau hết các ETF được quản lý chuyên nghiệp bởi các có van dau tư đã đăng ký với SEC”. Theo thông tư 229/2012/TT-BTC định nghĩa: ” Quy hoán đổi danh mục, gọi tắt là quỹ ETF, là loại hình quỹ mỏ, hình thành từ việc tiếp nhận, hoán doi danh mục chứng khoán cơ cấu lấy chứng chỉ quỹ. Chứng chỉ quỹ ETF được niêm yết và giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán ”.gov/investor/tools/mfcc/mutual-fund-help.htm SV: Trần Diệu Linh MSV: 18050504 1. Phân loại quỹ ETF Theo ETF.com có thé chia ETF theo 3 cách: Theo loại tài sản cơ sở mà quỹ nắm giữ, theo phương thức quan ly và theo phương pháp mô phỏng chỉ sô.
Cụ thé như sau: 1.Theo loại tài sản cơ sé mà quỹ nắm giữ © Quỹ ETF cổ phiếu (Equity ETF) Là loại hình ETF xuất hiện đầu tiên trên thị trường chứng khoán dùng dé mô phỏng các chỉ số có tài sản cơ sở là cô phiếu. © Quỹ ETF trái phiếu (Bond ETF) Là loại hình ETF xuất hiện thứ hai dùng mô phỏng các chỉ số có tài sản cơ sở là trái phiêu như trái phiêu chính phủ, trái phiêu doanh nghiệp, hay trái phiêu chính quyên địa phương,. e Quỹ ETF hang hóa (Commodity ETF) Là loại hình ETF dùng đê mô phỏng các chi sô có tài sản cơ sở là hang hóa như vàng, bạc, nông san,. e_ Quỹ ETF tiền tệ (Currency ETF) Là loại hình ETF dùng để mô phỏng các chỉ số có tài sản cơ sở là tiền tệ của các nước phát triên như USD, JPY, CAD,.
e_ Quỹ ETF tiền điện tử (Cryptocurrency ETF) Là loại hình ETF mới ra đời trong năm 2021 dùng dé mô phỏng các chỉ số có tài sản cơ sở là tiên điện tử như Bitcoin, Dogecoin,. Theo phương thức quản lý e Quan lý quỹ ETF theo phương thức bị động Là loại hình quản lý quỹ ETE theo phương thức mô phỏng lại hoàn toàn lợi suất của một chỉ số nhất định. Ở Mỹ có các Quỹ SPY, IVV mô phỏng chỉ số S&P500, thì ở Việt Nam có 3 quỹ mô phỏng chỉ sô VN30 là: ETF MAFM VN30, SSIAM VN30 ETF, và VFMVN30 ETF. SV: Trần Diệu Linh MSV: 18050504 e Quản lý quỹ ETF theo phương thức chủ động _ Trong khi ETF thường biết đến là hình thức đầu tư bị động mô phỏng lại lợi suất của một chỉ số nhưng loại hình quỹ ETF quản lý theo phương thức chủ động đã bắt đầu được giới thiệu vào năm 2008.
Điền hình của chiến lược quỹ ETF chủ động là phương pháp đầu tư Smart Beta — đây là sự kết hợp của 2 phương pháp chủ động và bị động để thu được Alpha (mức lợi suất vượt trên mức lợi suất của đầu tư bị động), đặc biệt được sử dung cho các quỹ ETF trái phiếu.Theo phương pháp mô phỏng chỉ số © Quỹ ETF mô phỏng chỉ số theo phương pháp trực tiếp (physical replication) Phương pháp mô phỏng chỉ số này sẽ mô phỏng lại lợi suất của một chỉ số bằng cách nắm giữ tất cả hoặc một phần các tài sản cơ sở của chỉ sô này ở trong danh mục của quỹ với tỷ trọng gần giống với tỷ trọng ở trong chỉ số đó. e_ Quỹ ETF mô phỏng chỉ số theo phương pháp gián tiếp (synthetic replication) Ngược lại với phương pháp mô phỏng trực tiếp, quỹ ETF có thể mô phỏng gián tiếp một chỉ số thông qua nam giữ các hợp đồng phái sinh. Phương pháp mô phỏng này thường phổ biếnở các quốc gia Châu Âu hơn ở Mỹ. Cách thức hoạt động của quỹ ETF 1.Thị trường sơ cấp Tại thị trường sơ cấp, các thành viên lập quỹ (Authorized Participants — APs) là những nhà đầu tư duy nhất có thé phát hành (creation) hay thu hồi (redemption) các chứng chỉ quỹ ETF.
Những thành viên lập quỹ này thường là những tổ chức tài chính lớn như ngân hàng, công ty chứng khoan,. Tại Việt Nam, các thành viên lập quỹ thường là các công ty chứng khoán. Hàng ngày, các công ty quản lý quỹ ETF sẽ công bố một danh mục tài sản cơ sở trong đó bao gồm tên cụ thể các tài sản cơ sở và số lượng của từng tải sản cơ sở được gọi là danh mục phát hành (creation basket). Danh mục này cũng được dùng để quyết định giá trị nội tại của chứng chỉ quỹ dựa trên gia giao dich hàng ngày của các tài sản cơ sở đó.
SV: Trần Diệu Linh MSV: 18050504 Dé tạo ra chứng chỉ quỹ ETF mới, những thành viên lập quỹ sẽ không mua chứng chỉ quỹ ETF bằng tiền mà sẽ mua các tài sản cơ sở dé tạo thành một danh mục giống với danh mục phát hành (creation basket). Việc mua các tài sản cơ sở này sẽ được diễn ra trên thị trường thứ cấp hoặc sử dung các chứng khoán mà những thành viên lập quỹ này đang nắm giữ. Sau khi tạo lập xong danh mục thì các nhà đầu tư sẽ chuyên danh mục này cho các công ty quản lý quỹ và nhận lại một lượng chứng chỉ quỹ tương đương với giá trị danh mục. Quá trình này thường diễn ra sau khi thị trường thứ cấp đã đóng cửa thông qua giao dịch thỏa thuận giữa hai bên.
Ngược lại, nếu thành viên lập quỹ không muốn tiếp tục đầu tư chứng chỉ quỹ, họ có thể trao đổi chứng chỉ quỹ này với công ty quản lý quỹ dé nhận lại danh mục phát hành tại ngày trao đổi và sau đó các nhà đầu tư này có thê bán chúng thông qua thị trường thứ cấp. Khi giá tri của danh mục tài sản cơ sở này khác so với gia tri tương đương cua chứng chỉ quỹ thì có khả năng tồn tại cơ hội kiếm lời từ chênh lệch giá cho các thành viên lập quỹ. Nếu giá hiện tại của danh mục tài sản cơ sở lớn hơn thị giá của chứng chỉ quỹ, các nhà đầu tư này có thé ngay lập tức mua các chứng chỉ quỹ trên thị trường thứ cấp và quy đôi thành danh mục tai sản cơ sở và bán lại trên thị trường thứ cấp dé kiếm lợi nhuận. Trong trường hợp này thì chứng chỉ quỹ đang được định giá thấp hay nói cách khác là đang giao dịch ở một mức chiết khấu (discount).