CHƯƠNG I: CƠ SỞ LUẬN VỀ RỦI RO VÀ PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG VALUE AT RISK 1. Khái quát về rủi ro: 1. Khái niệm: Rủi ro là một thuật ngữ được sử dụng để mô tả sự không chắc chắn, hoặc sự thay đổi của tỷ suất sinh lợi liên quan đến khoản đầu tư vào một chứng khoán, hay một tài sản nào đó. (Lê Thị Xuân, 2015) Theo quan điểm truyền thống, rủi ro được định nghĩa là sự tổn thất về tài sản.
Với quan điểm này, rủi ro thiên về tính tiêu cực nhiều hơn khi được sử dụng để ám chỉ khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại, mất mát. Theo quan điểm hiện đại, rủi ro được hiểu là khả năng xảy ra sự khác biệt giữa kết quả thực tế và kết quả kỳ vọng của kế hoạch. Như vậy, rủi ro theo quan điểm hiện đại vừa mang tính tiêu cực, vừa mang tính tích cực khi nhắc đến cả lợi ích hay “những phần thưởng của rủi ro”. Các yếu tố cơ bản của rủi ro: Bản thân rủi ro là sự không chắc chắn nhưng có thể định lượng được thông qua xác suất.
Cụ thể, mức độ rủi ro được tính theo công thức: Mức độ rủi ro = Xác suất xảy ra * Mức tổn thất * Thời điểm xảy ra rủi ro Như vậy, rủi ro bao gồm ba tố cơ bản sau đây: - Thứ nhất, xác suất xảy ra hay tần suất của việc xảy ra rủi ro. Đây là số lần xuất hiện rủi ro trong một khoảng thời gian hay trong tổng số lần quan sát. Tần suất càng nhiều hay khoảng thời gian xuất hiện càng ngắn thì khả năng xảy ra rủi ro trong tương lai càng chắc chắn. - Thứ hai, mức tổn thất.
Đây là yếu tổ thể hiện tính chất nguy hiểm hay mức độ thiệt hại mà rủi ro tác động đến chủ thể. Mức tổn thất càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn. 4 - Thứ ba, thời điểm xảy ra rủi ro. Thời điểm xảy ra rủi ro càng gần thời điểm phân tích và ước lượng rủi ro thì thứ tự ưu tiên xử lý rủi ro càng cao.
Phân loại rủi ro đối với hoạt động đầu tư chứng khoán: Để xem xét mức độ rủi ro biến động giá của một cổ phiếu hay một danh mục đầu tư, người ta thường chia rủi ro thành rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Rủi ro hệ thống: Rủi ro hệ thống là rủi ro do sự biến động chung của tỷ suất lợi nhuận trên thị trường bởi các yếu tố: tình hình kinh tế, thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, biến động thị trường thế giới… có tác động tới hầu hết các lĩnh vực kinh doanh. Bởi vậy, không thể loại trừ loại rủi ro này bằng cách đa dạng hóa. Do đó, rủi ro hệ thống còn được gọi là rủi ro không thể đa dạng hóa, hay rủi ro thị trường.
(Lê Thị Xuân, 2015) Rủi ro hệ thống (hay rủi ro thị trường) bao gồm: * Rủi ro lãi suất: Rủi ro lãi suất là khả năng biến động của mức sinh lời do những thay đổi của lãi suất trên thị trường gây ra. Khi lãi suất trên thị trường tăng lên, nhà đầu tư thường có xu hướng rút tiền ra khỏi thị trường chứng khoán để tìm kiếm kênh đầu tư khác có tỷ suất sinh lợi cao hơn. Khi đó, cung về chứng khoán cao hơn cầu chứng khoán sẽ kéo giá chứng khoán giảm xuống. Ngược lại, khi lãi suất trên thị trường giảm xuống sẽ khiến cho giá chứng khoán có xu hướng tăng lên.
Như vậy, có thể kết luận rằng lãi suất và giá chứng khoán có mối quan hệ ngược chiều nhau. Mặt khác, lãi suất thị trường thay đổi có thể sẽ ảnh hưởng đến chi phí của doanh nghiệp, làm thay đổi lợi nhuận và chính sách chi trả cổ tức dự tính của doanh nghiệp. Từ đó, tỷ suất sinh lợi của nhà đầu tư khi đầu tư vào một cổ phiếu, hay một danh mục đầu tư cũng sẽ bị ảnh hưởng. 5 * Rủi ro lạm phát: Rủi ro lạm phát (hay rủi ro sức mua) là rủi ro do tác động của lạm phát đối với một khoản đầu tư.
Trên thực tế, lạm phát và giá chứng khoán được cho là có mối quan hệ ngược chiều với nhau, trong khi lạm phát và lãi suất có mối quan hệ cùng chiều. Khi lạm phát tăng cao, Ngân hàng Nhà nước sẽ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiểm soát lạm phát. Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước sẽ thực hiện việc giảm mức cung tiền hoặc tăng lãi suất điều hành, làm giảm nhu cầu đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư, khiến cho giá chứng khoán có xu hướng giảm xuống. * Rủi ro tỷ giá: Rủi ro tỷ giá là rủi ro do tác động của tỷ giá đối với khoản đầu tư.
Tỷ giá sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của những doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu, làm gián tiếp ảnh hưởng đến cổ tức mà nhà đầu tư nhận được. Bên cạnh đó, đối với nhà đầu tư đầu tư vào các cổ phiếu ở nước ngoài, tỷ giá thay đổi có thể sẽ làm tăng hoặc giảm phần lợi nhuận từ chênh lệch giá mà nhà đầu tư được nhận. * Rủi ro giá hàng hóa: Rủi ro giá hàng hóa là khả năng biến động giá của hàng hóa sẽ gây ra thua lỗ cho bên mua hoặc bên sản xuất hàng hóa, đặc biệt là những hàng hóa như xăng, dầu, điện, ga… Khi giá hàng hóa tăng lên có thể làm cho chi phí của doanh nghiệp tăng lên và làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Khi đó, giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán và cổ tức mà cổ đông nhận được sẽ bị ảnh hưởng.
* Rủi ro giá cổ phiếu: Căn cứ theo điểm b khoản 2 điều 8 Thông tư 08/2017/TT-NHNN về Quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng, rủi ro giá cổ phiếu được định nghĩa là rủi ro do biến động bất lợi của giá cổ phiếu trên thị trường đối với giá trị của cổ phiếu, giá 6 trị chứng khoán phái sinh trên sổ kinh doanh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tương tự như các loại rủi ro hệ thống trên, rủi ro giá cổ phiếu có thể ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, gián tiếp làm thay đổi phần chênh lệch giá chứng khoán và cổ tức mà nhà đầu tư thực tế nhận được. Rủi ro phi hệ thống: Rủi ro phi hệ thống là loại rủi ro xảy ra đối với một công ty, hoặc một ngành nào đó do các nguyên nhân như: năng lực quản lý của công ty, tính chất ngành kinh doanh… nhưng không ảnh hưởng tới công ty, hoặc các ngành nghề kinh doanh khác. Tuy nhiên, rủi ro phi hệ thống có thể giảm, thậm chí loại trừ hoàn toàn bằng cách đa dạng hóa.
Chính vì vậy, người ta thường gọi rủi ro phi hệ thống là rủi ro có thể đa dạng hóa. (Lê Thị Xuân, 2015) Một số rủi ro phi hệ thống bao gồm: - Rủi ro kinh doanh: Xảy ra khi có sự thay đổi cung, cầu về hàng hoá hay dịch vụ của doanh nghiệp, hay là sự thay đổi bất lợi môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. - Rủi ro quản lý: Là rủi ro do tác động từ các quyết định của nhà quản lý doanh nghiệp. - Rủi ro môi trường: Xảy ra khi xuất hiện các tác động bất lợi từ môi trường, khí hậu thay đổi, ô nhiễm môi trường… làm ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
- Rủi ro pháp lý: Là rủi ro gặp phải khi nhà đầu tư không nắm vững pháp luật chứng khoán như luật về phát hành chứng khoán, các thay đổi của pháp luật về chính sách thuế, quy định vốn… - Rủi ro truyền thông: Xảy ra khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán phải đối mặt với sự kiện xấu, truyền thông xấu từ nhiều phía hoặc truyền thông sai sự thật gây ảnh hưởng xấu tới thương hiệu cũng như khiến giá cổ phiếu của công ty sụt giảm một cách nhanh chóng. Khái quát về giá trị rủi ro (Value at Risk – VaR): 1. Sự phát triển của các phương pháp phân tích và quản trị rủi ro: Bảng 1. Khát quát về sự phát triển của các phương pháp phân tích và quản trị rủi ro Năm Phương pháp đo lường rủi ro Thế kỷ XVIII Lý thuyết xác suất 1938 Thời lượng của trái phiếu (Duration) của Macaulay 1952 Phân tích trung bình và phương sai của Markowitz 1963 Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) của William Sharpe 1966 Mô hình đa nhân tố 1973 Mô hình định giá quyền chọn Black – Scholes 1988 Tài sản theo trọng số rủi ro đối với NHTM 1993 Giá trị rủi ro - Value at Risk (VaR) 1997 Thước đo tín nhiệm, Rủi ro tín dụng 1998 Sự kết hợp của rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường 1998 Phân bổ ngân quỹ cho rủi ro 1.
Khái niệm giá trị rủi ro (Value at Risk): Thuật ngữ Value at Risk ban đầu được sử dụng trong ngành Ngân hàng, đặc biệt là sử dụng trong đo lường rủi ro của hoạt động kinh doanh ngoại hối. Tuy nhiên, VaR được phổ biến hơn trong những năm 1990 khi được sử dụng để đo lường rủi ro trong các hoạt động giao dịch các loại tài sản rủi ro khác như chứng khoán, hàng hóa, tín dụng và bất động sản… 8 Giá trị rủi ro hay VaR là một phương pháp đo lường được tính bằng tiền của khoản lỗ tối thiểu được dự kiến trong một thời kỳ với một xác suất cho sẵn. Chance & Robert Brooks, 2015). Hay nói các khác, VaR là số tiền lớn nhất có khả năng bị mất của một công ty, một quỹ đầu tư, một danh mục, một giao dịch hay một chiến lược trong một khoảng thời gian nhất định, với một độ tin cậy nhất định.
Giả sử gọi phần lỗ của một cổ phiếu, hay một danh mục đầu tư là L. Về mặt toán học, VaR của biến ngẫu nhiên L với xác suất α sẽ có mô hình ở dạng tổng quát như sau: P[L ≥ VaR] = α Hay: P[L ≤ VaR] = 1 − α Ví dụ VaR là $1 triệu trong một ngày với xác suất 5%, con số này có ý nghĩa rằng công ty dự kiến lỗ ít nhất $1 triệu trong một ngày với xác suất 5%. Một số người thích diễn tả VaR như sau: Với độ tin cậy 95%, khoản lỗ không vượt quá $1 triệu. Chance & Robert Brooks, 2015) Hình 1.
Đồ thị mô tả VaR 1. Các yếu tố trong đo lường Value at Risk: * Mức dộ tin cậy: Xác suất được chọn thông thường là 0.