Tổng quan nghiên cứu
Lễ hội Gióng là một trong những thực hành tín ngưỡng tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ nhằm tôn vinh đức Thánh Gióng - một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Vào ngày 16/11/2010, UNESCO đã chính thức ghi danh Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong không gian linh thiêng của lễ hội đền Phù Đổng, múa hát Ải Lao giữ vai trò nghi lễ trọng tâm, được đúc kết qua câu phương ngôn cổ truyền: "Phi Ải Lao bất thành Hội Gióng". Đến tháng 9/2016, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục đưa nghệ thuật trình diễn dân gian múa hát Ải Lao tại phường Phúc Lợi, quận Long Biên, Hà Nội vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Tuy nhiên, trải qua hơn 30 năm gián đoạn bởi các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc cùng sự tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa, di sản này đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng khi các nghệ nhân cao tuổi qua đời và không gian thực hành thay đổi. Vấn đề nghiên cứu then chốt của luận văn là nhận diện toàn diện giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật của múa hát Ải Lao, đồng thời làm sáng tỏ các quy luật biến đổi về tổ chức, bài bản và cách thức trình diễn trong giai đoạn từ năm 1982 đến năm 2016.
Mục tiêu cụ thể hướng đến việc hệ thống hóa 12 bài hát cổ truyền, đánh giá thực trạng bảo tồn tại phường Phúc Lợi (quận Long Biên) và không gian diễn xướng đền Phù Đổng (huyện Gia Lâm), từ đó đề xuất các giải pháp khoa học nhằm phục hồi nguyên vẹn giá trị di sản. Ý nghĩa nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn cao, hỗ trợ các cơ quan chuyên môn nâng cao năng lực bảo tồn với tỷ lệ lưu trữ tư liệu đạt chuẩn khoa học, đáp ứng trực tiếp tiêu chí cam kết bảo tồn di sản với UNESCO.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết biến đổi văn hóa và lý thuyết trình diễn dân gian làm nền tảng phân tích cấu trúc di sản. Lý thuyết biến đổi văn hóa giải thích sự thích nghi của nghệ thuật dân gian dưới tác động của các nhân tố kinh tế, xã hội và quá trình tái cấu trúc không gian đô thị hóa tại vùng ven Hà Nội. Song song với đó, lý thuyết trình diễn dân gian của folklore học đương đại giúp phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa chủ thể biểu diễn, văn bản lời ca, động tác múa và không gian thiêng của lễ hội.
Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa gồm 4 thuật ngữ chuyên ngành:
- Di sản văn hóa phi vật thể: Thể hiện qua tri thức dân gian, kỹ năng trình diễn được cộng đồng trao truyền qua nhiều thế hệ.
- Phường Ải Lao (phường Tùng choắc): Tổ chức phường hội nghệ thuật dân gian gắn bó chặt chẽ với cơ cấu làng xã truyền thống Hội Xá.
- Diễn xướng nghi lễ: Hình thức tích hợp giữa động tác múa cổ, lời ca cổ và trò diễn mang tính biểu tượng tâm linh sâu sắc phục vụ tế thần.
- Không gian văn hóa lễ hội: Môi trường địa - văn hóa gồm khu di tích đền Phù Đổng rộng khoảng 60 hecta cùng không gian đình, chùa làng Hội Xá.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng kết hợp giữa thư tịch cổ chữ Hán - Nôm và tư liệu điền dã thực tế. Thư tịch thành văn được khai thác từ các bộ chính sử và tài liệu khảo cứu như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái và chuyên khảo năm 1937 - 1938 của Giáo sư Nguyễn Văn Huyên.
Về tư liệu thực địa, tác giả phối hợp cùng Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị Di sản văn hóa thực hiện khảo sát từ tháng 3/2016 đến tháng 9/2016. Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng với cỡ mẫu 50 cá nhân, bao gồm các nghệ nhân then chốt nắm giữ vai Ông Câu, Ông Hổ, Trưởng phường Ải Lao, các bậc cao niên và cán bộ quản lý văn hóa cơ sở tại quận Long Biên. Lý do chọn mẫu có chủ đích xuất phát từ tính chất đặc thù khép kín của phường nghề truyền khẩu, nơi chỉ có một số lượng hữu hạn nghệ nhân cao tuổi còn ghi nhớ chuẩn xác các động tác múa cổ và giai điệu đảo từ phức tạp. Dữ liệu sau thu thập được xử lý qua phương pháp phân tích - tổng hợp, đối chiếu lịch sử và so sánh đồng đại giữa các lớp tư liệu năm 1938, năm 1982 và năm 2016.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, luận văn khẳng định nguồn gốc lịch sử và tính độc lập của tổ chức phường Ải Lao thuộc làng Hội Xá (nay là phường Phúc Lợi, quận Long Biên). Phường gồm khoảng 20 thành viên nam giới, được các giáp tuyển chọn để thực hiện nhiệm vụ tế thần độc quyền trong Hội Gióng. Mối quan hệ giữa làng Hội Xá và đền Phù Đổng là mối liên kết liên làng bền chặt, nơi phường Ải Lao đóng vai trò người phục vụ tâm linh cho Mẹ Gióng và Đức Thánh Gióng.
Thứ hai, nghệ thuật trình diễn được cấu thành từ 12 bài hát cổ kết hợp các điệu múa cổ với hệ thống ngôn ngữ đặc thù sử dụng kỹ thuật đảo từ, chêm từ và lặp từ. Nghiên cứu phát hiện tại không gian làng Hội Xá hiện nay đã có thêm 02 bài hát mới được bổ sung để biểu diễn phục vụ sinh hoạt tại đình và chùa địa phương.
Thứ ba, sự biến đổi rõ rệt trong không gian và tần suất trình diễn. Sau mốc phục hồi năm 1982, múa hát Ải Lao chuyển từ mô hình diễn xướng thuần túy trong lễ hội định kỳ sang việc tham gia các hội diễn văn nghệ quần chúng và ngày hội văn hóa du lịch. Kỹ thuật hát cổ truyền bị suy giảm khoảng 30% độ chuẩn xác do thiếu tư liệu ghi âm gốc và lớp trẻ gặp khó khăn trong việc lĩnh hội phương thức xướng âm cổ.
Thứ tư, trò diễn Săn Hổ trong ngày hội chính 9/4 âm lịch được giải mã toàn diện. Đây không chỉ là trò diễn giải trí dân gian mà là nghi lễ ma thuật nông nghiệp mô phỏng việc thuần phục tự nhiên, bảo vệ mùa màng cho cư dân canh tác lúa nước thuộc 15 giáp tổng Phù Đổng.
Thảo luận kết quả
Sự biến đổi của múa hát Ải Lao bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan. Nguyên nhân cốt lõi là khoảng trống thực hành hơn 30 năm thời kỳ chiến tranh, khiến thế hệ nghệ nhân gạo cội không kịp trao truyền trọn vẹn tri thức diễn xướng cho thế hệ kế tiếp. Đồng thời, áp lực từ đời sống kinh tế thị trường tại đô thị quận Long Biên khiến thế hệ trẻ ít có thời gian theo học quy trình luyện tập kéo dài hàng tháng trước mùa hội.
Khi so sánh với các ghi chép của Giáo sư Nguyễn Văn Huyên vào năm 1938, văn bản lời ca năm 2016 có sự dị bản về ca từ nhưng cấu trúc nghi lễ cơ bản gồm 3 phần chính vẫn được giữ vững. Sự phân bố dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ so sánh cơ cấu nhân sự phường Ải Lao theo các nhóm tuổi, thể hiện sự lệch tầng thế hệ khi trên 60% thành viên cốt cán đã ngoài 60 tuổi. Đồng thời, bảng đối chiếu 12 văn bản bài hát xưa và nay chỉ ra rõ mức độ giản lược hóa ở các phân đoạn chuyển điệu phức tạp. Ý nghĩa của phát hiện này đặt ra yêu cầu cấp bách phải chuẩn hóa văn bản học và quy chuẩn hóa các thế múa nguyên mẫu.
Đề xuất và khuyến nghị
Để bảo tồn bền vững nghệ thuật múa hát Ải Lao, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:
- Tổ chức trao truyền và đào tạo hạt nhân kế cận: Ủy ban nhân dân phường Phúc Lợi phối hợp cùng Ban chủ nhiệm phường Ải Lao mở các lớp truyền dạy trực tiếp, đặt chỉ tiêu đào tạo tối thiểu 30 thanh thiếu niên mỗi khóa, hoàn thành chỉ tiêu 100% thành viên mới nắm vững 12 làn điệu cổ trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2020.
- Số hóa toàn diện và tư liệu hóa di sản: Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội chủ trì phối hợp với các chuyên gia âm nhạc dân tộc học tiến hành ghi âm, ghi hình chuẩn 4K toàn bộ quy trình diễn xướng, múa bộ và lời ca của các nghệ nhân cao tuổi; hoàn thành kho lưu trữ điện tử đa phương tiện trong thời hạn 12 tháng.
- Hoàn thiện chính sách đãi ngộ và không gian thực hành: Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội và quận Long Biên ban hành cơ chế hỗ trợ tài chính đặc thù, tăng mức phụ cấp tập luyện tối thiểu 50% kinh phí cho các nghệ nhân nắm giữ vai Ông Câu, Ông Hổ và thành viên đội múa trong mỗi kỳ lễ hội chính 5 năm một lần.
- Mở rộng giáo dục di sản trong cộng đồng: Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Long Biên đưa chuyên đề múa hát Ải Lao vào chương trình giáo dục địa phương, phấn đấu đạt tỷ lệ 80% học sinh các trường trung học cơ sở trên địa bàn được tiếp cận trải nghiệm thực tế trước năm 2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Nhà nghiên cứu văn hóa, nhân học và lịch sử: Khai thác kho tư liệu khảo sát thực địa phong phú, 12 bài xướng âm cổ được ghi chép chuẩn xác và hệ thống luận điểm khoa học về sự chuyển hóa từ tín ngưỡng nông nghiệp sang anh hùng ca dân gian.
- Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Ứng dụng mô hình quản lý di sản liên vùng giữa quận Long Biên và huyện Gia Lâm, sử dụng các đề xuất chính sách làm căn cứ xây dựng hồ sơ bảo tồn di sản cấp quốc gia và quốc tế.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Văn hóa học: Sử dụng như một công trình mẫu mực về phương pháp tiếp cận nghiên cứu điền dã dân tộc học, kỹ năng xử lý tư liệu lịch sử đối sánh với thực hành đương đại.
- Nghệ nhân và cộng đồng thực hành di sản phường Phúc Lợi: Sử dụng hệ thống văn bản hóa lời ca và quy trình nghi lễ trong luận văn làm cẩm nang chuẩn mực phục vụ công tác truyền dạy, phục dựng đúng các bài múa cổ truyền.
Câu hỏi thường gặp
Múa hát Ải Lao xuất hiện trong Hội Gióng mang ý nghĩa cốt lõi gì? Nghệ thuật múa hát Ải Lao mang ý nghĩa kép trong hội lễ. Về tâm linh, đây là nghi thức xướng ca giải tỏa nỗi đau mất con cho Mẹ Thánh Gióng. Về mặt nông nghiệp, các trò diễn như Bắt Hổ, Câu Cá mang tính biểu tượng cho ước vọng cầu mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hòa và bình an cho cộng đồng cư dân châu thổ sông Đuống.
Tại sao phường múa hát Ải Lao lại thuộc làng Hội Xá chứ không phải làng Phù Đổng? Theo truyền thuyết và thư tịch cổ, sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc Ân và bay về trời, vua Hùng đã lệnh cho trẻ chăn trâu làng Hội Xá lập phường ca múa dâng lên Thánh Mẫu. Mối quan hệ liên làng này được duy trì qua hàng ngn năm, khẳng định tính liên kết cộng đồng chặt chẽ giữa vùng đất Phúc Lợi (Long Biên) và Phù Đổng (Gia Lâm).
Cơ cấu nhân sự của phường Ải Lao được tổ chức như thế nào? Phường Ải Lao duy trì biên chế truyền thống khoảng 20 người nam giới, bao gồm các vai diễn hạt nhân như Ông Câu, Ông Hổ, Trưởng phường cùng đội múa hát hỗ trợ. Các thành viên phải trải qua quá trình tuyển chọn khắt khe từ các dòng họ trong làng, đáp ứng chuẩn mực đạo đức và kỹ năng trình diễn dân gian.
Quá trình gián đoạn lịch sử đã làm biến đổi múa hát Ải Lao ra sao? Giai đoạn gián đoạn 30 năm (từ năm 1954 đến khi phục hồi năm 1982) làm đứt gãy mạch trao truyền khẩu truyền. Kết quả là nhiều động tác múa cổ bị đơn giản hóa, cách luyến láy đảo từ cổ xưa bị biến đổi và không gian diễn xướng bị thu hẹp đáng kể so với mô tả trong công trình năm 1938 của Giáo sư Nguyễn Văn Huyên.
Luận văn đóng góp giải pháp mới nào cho công tác bảo tồn di sản? Luận văn cung cấp phương pháp tiếp cận bảo tồn tích hợp giữa lưu trữ số hóa khoa học và xây dựng cơ chế bảo trợ xã hội cho nghệ nhân. Đồng thời, tác giả đề xuất mô hình liên kết quản trị di sản giữa hai cấp chính quyền địa phương nhằm duy trì vẹn nguyên không gian văn hóa Hội Gióng 5 năm một lần.
Kết luận
- Luận văn giải mã toàn diện giá trị lịch sử, nghi lễ và nghệ thuật diễn xướng độc bản của di sản múa hát Ải Lao trong không gian văn hóa Hội Gióng.
- Xác lập bức tranh chân thực về sự biến đổi của di sản qua các mốc lịch sử quan trọng từ năm 1938, năm 1982 đến năm 2016 dựa trên 50 mẫu khảo sát điền dã thực tế.
- Khôi phục và chuẩn hóa hệ thống 12 bài hát cổ truyền, làm sáng tỏ các tầng ý nghĩa biểu tượng nông nghiệp và tâm linh tín ngưỡng dân gian.
- Đưa ra hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, gắn liền với mốc thời gian thực hiện cụ thể cho giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2025.
- Đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác, phục vụ đắc lực cho công tác quản trị, bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại Việt Nam.
Công trình là tài liệu tham khảo thiết yếu cho các cơ quan nghiên cứu và quản lý văn hóa. Hãy liên hệ với thư viện chuyên ngành hoặc cơ sở đào tạo để tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu giá trị này.