Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học mang tên "Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội", do nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Lâm thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2013, dưới sự hướng dẫn của hai nhà khoa học, trong đó có GS. Nguyễn Mạnh Cường). Luận án được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa âm nhạc và nghi lễ Phật giáo trong không gian văn hóa Thăng Long - Hà Nội.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Phật giáo trải qua gần hai thiên niên kỷ du nhập và đồng hành cùng lịch sử dân tộc, hòa quyện sâu sắc vào đời sống xã hội và trở thành một thành tố cấu thành nền văn hóa Việt Nam. Âm nhạc Phật giáo nảy sinh trực tiếp từ trong nghi lễ Phật giáo, là kết quả của tiến trình vận động, tiếp biến và truyền thừa qua các thời kỳ lịch sử. Trong truyền thống âm nhạc dân tộc, âm nhạc Phật giáo lấy âm nhạc bản địa làm cơ sở nền tảng, vừa phản ánh các đặc điểm chung của âm nhạc truyền thống, vừa mang chức năng tôn giáo riêng biệt gắn liền với triết lý và thực hành tu tập.
Thực tế lịch sử và văn hóa chỉ ra rằng Phật giáo Việt Nam có sự phân hóa theo vùng miền và tông phái. Do đó, nghiên cứu Phật giáo và văn hóa Việt Nam không thể tách rời việc khảo sát âm nhạc Phật giáo. Thăng Long - Hà Nội với tư cách là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước, nơi hội tụ tinh hoa dân tộc qua hàng nghìn năm, lưu giữ nhiều nét đặc thù về âm nhạc Phật giáo. Mặc dù vậy, khoảng trống nghiên cứu thực tế cho thấy diện mạo, chức năng và bản chất tôn giáo của âm nhạc Phật giáo Hà Nội chưa từng được khảo sát một cách toàn diện và chuyên sâu dưới góc độ tôn giáo học liên ngành. Việc lựa chọn đề tài này xuất phát từ yêu cầu lấp đầy khoảng trống học thuật nói trên.
Mục tiêu, mục đích và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ diện mạo của âm nhạc Phật giáo; xác định chức năng và mối quan hệ giữa âm nhạc với nghi lễ Phật giáo; phân tích các đặc trưng cơ bản cùng các lớp trầm tích văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng trong âm nhạc nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội.
Mục đích nghiên cứu chính là ứng dụng hệ thống kết luận khoa học, cơ sở lý luận và nguồn tư liệu thực tiễn vào công tác nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành tôn giáo học và âm nhạc truyền thống dân tộc.
Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định ba câu hỏi nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):
- Âm nhạc xuất hiện trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội từ khi nào?
- Âm nhạc có chức năng và ý nghĩa như thế nào trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội?
- Âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội có những đặc trưng cơ bản nào khác biệt và tương đồng so với một số thể loại âm nhạc phổ biến ở vùng châu thổ Bắc Bộ và âm nhạc Phật giáo ở một địa phương cụ thể cùng khu vực?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn gốc, quá trình hình thành, diện mạo; chức năng của âm nhạc và mối quan hệ giữa âm nhạc với nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội; các đặc trưng âm nhạc cơ bản; các lớp văn hóa âm nhạc, tôn giáo, tín ngưỡng tích hợp trong âm nhạc và nghi lễ Phật giáo Hà Nội.
- Phạm vi không gian: Tập trung vào phong cách âm nhạc Phật giáo Hà Nội. Địa bàn khảo sát là các ngôi chùa thuộc Hà Nội cũ (trước thời điểm mở rộng địa giới hành chính năm 2008) và một số ngôi chùa phụ cận có cùng phong cách thực hành này. Luận án không nghiên cứu các phong cách địa phương khác du nhập vào Hà Nội.
- Phạm vi nghi lễ: Khảo sát tập trung vào hai không gian nghi lễ tiêu biểu của Phật giáo Đại thừa vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ: lễ Thường nhật và lễ Trai đàn chẩn tế.
- Phạm vi âm nhạc: Luận án ưu tiên giải quyết các khía cạnh tôn giáo học của âm nhạc trong nghi lễ. Về mặt âm nhạc học, luận án giới hạn khảo sát ở quan hệ ca từ, giai điệu, tổ chức và chức năng của nhạc khí, vai trò của nhịp trống; đồng thời so sánh với âm nhạc truyền thống châu thổ Bắc Bộ và âm nhạc Phật giáo tỉnh Thái Bình. Các thể loại âm nhạc khảo sát được giới hạn chặt chẽ ở dạng thức phục vụ nghi lễ với mục đích cúng dàng chư Phật, Bồ Tát và hóa giải chúng sinh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Luận án tiến hành điểm luận và phân loại các công trình đi trước thành hai nhánh tiếp cận chính:
CÁC CÔNG TRÌNH ĐI TRƯỚC
GÓC ĐỘ ÂM NHẠC HỌC GÓC ĐỘ SỬ HỌC - PHẬT GIÁO
- Trần Văn Khê (2004) - Lê Mạnh Thát (2001, 2005)
- Nguyễn Hữu Thông (2008) - Thích Giác Duyên (bài khảo cứu mạng)
- Phạm Hồng Lĩnh (2009) - Nguyễn Lang (1994)
- Nguyễn Thuyết Phong (2010) - Nguyễn Hùng Hậu (2000)
- Bùi Trọng Hiền (2007, 2010)
- Thụy Loan (1993, 2006, 2007)
- Lê Toàn (2008)
- Nguyễn Đình Lâm (2008, 2009, 2012)
-
Nhóm nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ âm nhạc học:
- GS. Trần Văn Khê trong luận án tiến sĩ dân tộc nhạc học và tác phẩm Du ngoạn trong Âm nhạc truyền thống Việt Nam (2004), cùng GS. Nguyễn Thuyết Phong trong bài viết "Bản sắc Lễ nhạc Phật giáo Việt Nam" in trong Nghệ thuật Phật giáo trong đời sống hôm nay (2010), đã phác thảo vị trí của âm nhạc Phật giáo trong tổng thể âm nhạc dân tộc; chỉ ra các thể loại mang tính vùng miền ở miền Trung và miền Nam như Hương huê thỉnh, Dương chi, Tịnh thủy, Nguyên tiêu, Nguyện sanh.
- Nhóm tác giả tại Huế gồm Nguyễn Hữu Thông (chủ biên) trong Nhạc lễ Phật giáo xứ Huế (2008) và Phạm Hồng Lĩnh trong luận văn thạc sĩ Góp phần tìm hiểu Lễ nhạc Phật giáo xứ Huế (2009) đã phân tích diện mạo, hệ thống thang âm, bài bản, nhạc khí và mối liên hệ giữa âm nhạc Phật giáo Huế với âm nhạc truyền thống bản địa.
- Bùi Trọng Hiền với bài viết "Nhạc Phật giáo" trong 1000 năm âm nhạc Thăng Long - Hà Nội (quyển 2, 2010) và bài viết về hát văn (2007) bước đầu khảo sát bài bản nhạc khí, các thể loại diễn xướng như Xướng lễ, Bạch, Kể hạnh và kết cấu bài bản gắn với khái niệm "Đận" tại Hà Nội.
- Lê Toàn (2008) khảo sát bước đầu âm nhạc Phật giáo tại Bắc Ninh trong trường hợp lễ cầu siêu. PGS. Nguyễn Thụy Loan đóng góp các công trình lý luận về thang âm, điệu thức và giáo trình lịch sử âm nhạc cổ truyền (1993, 2006, 2007).
- Tác giả Nguyễn Đình Lâm đã công bố các bài báo chuyên ngành từ năm 2008 đến 2012 trên các tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Nghiên cứu Tôn giáo, Nghiên cứu Đông Nam Á, và Nhân lực khoa học xã hội, bước đầu phân tích diễn xướng thanh nhạc, tổ chức dàn nhạc trong lễ cầu siêu và sự biến đổi của âm nhạc tang lễ tại Bắc Ninh.
-
Nhóm nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ Sử học và Phật giáo:
- GS. Lê Mạnh Thát với Lịch sử âm nhạc Việt Nam - từ thời Hùng Vương đến thời Lý Nam Đế (2001), Lịch sử Phật giáo Việt Nam (2005) và Tổng tập văn học Việt Nam, đã xác lập niên đại xuất hiện của âm nhạc Phật giáo tại Giao Chỉ - Việt Nam từ thời kỳ đầu Công nguyên; ghi nhận các thể loại "ca - Tán - Tụng - Vịnh" và hành vi "gảy đàn đốt hương".
- Tác giả Thích Giác Duyên (Tiến sĩ Tôn giáo học, trụ trì tại Gia Lai) khảo cứu cổ sử Trung Quốc để xác định thời điểm xuất hiện và ý nghĩa của ba pháp khí: chuông, trống và mõ.
- Tác giả Nguyễn Lang với bộ sách Việt Nam Phật giáo sử luận (1994) ghi nhận giai đoạn hưng thịnh thời Trần, trong đó Thiền sư Trần Nhân Tông và Huyền Quang đã Việt hóa các nghi thức từ bộ Thủy Lục chư khoa thành các bản văn nghi lễ như Phật giáo Pháp sự Đạo tràng công Văn cách thức, Lục thời Sám hối Khoa nghi và Bình đẳng Lễ Sám văn, đưa âm nhạc thâm nhập vào đời sống nghi lễ dân gian.
- PGS. Nguyễn Hùng Hậu trong Đại cương Triết học Việt Nam (2000) cũng cung cấp các cứ liệu lịch sử liên quan đến sự dung hợp tư tưởng Tam giáo và tín ngưỡng dân gian.
-
Nguồn tài liệu phương Tây và khảo sát thứ cấp:
- Luận án tham khảo các ghi chép lịch sử của William Dampier (1688, bản dịch 2007), Léopold Cadière (1997), tư liệu Hội Đô thành Hiếu cổ (B.A.V.H, 1917, dịch 1998), Pierre Huard và Maurice Durand (1993), Luc Benoist (2006), Mario Sica (2013) và công trình của Georges Condominas để có thêm góc nhìn so sánh về văn hóa và tôn giáo truyền thống người Việt.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tình hình nghiên cứu khẳng định:
- Về mặt lý luận, các công trình âm nhạc học thuần túy chưa đi sâu vào "tính chất tôn giáo" của âm nhạc, chưa làm rõ chức năng, ý nghĩa tôn giáo và mối quan hệ hữu cơ giữa âm nhạc với cấu trúc nghi lễ Phật giáo. Các nghiên cứu lịch sử chưa khảo sát cụ thể các tham số âm nhạc học trong các sự kiện được trích dẫn.
- Về mặt thực tiễn, các bài viết trước đây về âm nhạc Phật giáo Hà Nội mới dừng ở mức giới thiệu, miêu tả một số mảng bài bản riêng lẻ, chưa khái quát được diện mạo tổng thể, chưa hệ thống hóa các đặc trưng bản chất của phong cách Hà Nội trong tương quan với vùng văn hóa đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Luận án lựa chọn giải quyết trực tiếp khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết liên ngành nhằm xử lý các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra. Khung phân tích lý thuyết của luận án được tóm tắt qua bảng sau:
| Thành tố nghiên cứu | Câu hỏi 1 | Câu hỏi 2 | Câu hỏi 3 |
|---|---|---|---|
| Vấn đề cần làm rõ | Âm nhạc Phật giáo xuất hiện và phát triển như thế nào trong lịch sử? | Âm nhạc có chức năng gì trong nghi lễ Phật giáo? | Âm nhạc Phật giáo Hà Nội có quan hệ thế nào với âm nhạc truyền thống và âm nhạc Phật giáo địa phương khác? |
| Lý thuyết vận dụng | Chủ nghĩa duy vật lịch sử (triết học Mác - Lênin) | Lý thuyết chức năng (Karl Marx, Herbert Spencer, Emile Durkheim, Talcott Parsons) | - Lý thuyết vùng văn hóa (Ngô Đức Thịnh) - Lý thuyết tính nhiều tầng, nhiều lớp trong âm nhạc cổ truyền (Nguyễn Thụy Loan) - Lý thuyết âm nhạc phương Tây |
| Giả thuyết khoa học | Âm nhạc Phật giáo Việt Nam và Hà Nội xuất hiện cùng với quá trình du nhập Phật giáo Việt Nam | Âm nhạc đảm nhận các chức năng riêng biệt, không thể thay thế trong cấu trúc nghi lễ | Âm nhạc Phật giáo Hà Nội có tính nhiều tầng, nhiều lớp; mang đặc trưng riêng của phong cách Hà Nội; là bộ phận cấu thành nền âm nhạc truyền thống Việt Nam |
| Kết quả thể hiện | Chương 2 | Chương 3 | Chương 2, Chương 3, một phần Chương 4 và Kết luận |
Nội dung cụ thể của các lý thuyết chính:
- Chủ nghĩa duy vật lịch sử: Đặt âm nhạc Phật giáo trong tiến trình phát triển biện chứng của lịch sử xã hội; xem những thăng trầm của âm nhạc nghi lễ là phản ánh tồn tại xã hội qua từng biến cố lịch sử của dân tộc và tôn giáo; đồng thời làm cơ sở dự báo xu hướng vận động tại Chương 4.
- Lý thuyết chức năng: Dựa trên quan điểm của Emile Durkheim, Herbert Spencer và Talcott Parsons về cấu trúc xã hội để giải mã vai trò của từng thành tố âm nhạc (thanh nhạc, pháp khí, nhịp trống) trong một chỉnh thể nghi lễ. Luận án phân tích cả chức năng tích cực củng cố nghi lễ lẫn hiện tượng phản chức năng khi các yếu tố âm nhạc làm suy giảm tính thích ứng của cấu trúc tôn giáo.
- Lý thuyết vùng văn hóa và tính nhiều tầng nhiều lớp: Tiếp thu lý thuyết của GS. Ngô Đức Thịnh (Vùng Văn hóa và Phân vùng Văn hóa ở Việt Nam, 2004) và PGS. Nguyễn Thụy Loan để xác định sự tương tác giữa âm nhạc Phật giáo với các thể loại âm nhạc dân gian vùng châu thổ Bắc Bộ, chỉ ra các lớp trầm tích văn hóa đan xen qua các giai đoạn lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án phối hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản học: Khai thác, xử lý các từ khóa, thuật ngữ và khái niệm âm nhạc trong kinh điển Phật giáo và các bộ quốc sử để làm rõ ngữ nghĩa, bối cảnh ra đời và bằng chứng ghi chép về âm nhạc Phật giáo.
- Phương pháp điền dã:
- Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp các tăng ni, chức sắc Giáo hội Phật giáo, các vị trụ trì, cư sĩ tại gia và các Phật tử có trình độ hiểu biết chuyên sâu về nghi lễ tại Hà Nội theo danh mục câu hỏi chủ đề.
- Quan sát tham dự: Trực tiếp khảo sát trong quá trình diễn ra các khóa lễ tại các chùa, kết hợp phương tiện ghi âm, ghi hình, quay phim tư liệu thực địa.
- Phương pháp so sánh đối chiếu:
- So sánh theo chiều ngang: Đối chiếu âm nhạc Phật giáo với các thể loại âm nhạc truyền thống bản địa châu thổ Bắc Bộ (như ca trù, hát chèo, hát văn).
- So sánh theo chiều dọc: Khảo sát các điểm tương đồng và dị biệt giữa âm nhạc Phật giáo Hà Nội với âm nhạc Phật giáo ở Thái Bình và âm nhạc Phật giáo xứ Huế, qua đó xác lập ranh giới phong cách vùng miền.
- Phương pháp phân tích âm nhạc học: Ký âm, khảo sát giai điệu, cấu trúc bài bản thanh nhạc, hệ thống định danh nhạc cụ và chức năng của từng nhịp trống trong các bước hành lễ.
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Kết hợp phương pháp lịch đại (tiến trình hình thành qua các triều đại) và đồng đại (trạng thái tồn tại đương đại) để xác định tính kế thừa của âm nhạc nghi lễ.
- Phương pháp tâm lý học tôn giáo: Phân tích niềm tin tôn giáo và trạng thái tâm lý của người thực hành và tín đồ khi tiếp nhận âm nhạc trong không gian đền đài, chùa cảnh.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu
Luận án xây dựng luận cứ dựa trên bốn nhóm tư liệu gốc có độ tin cậy cao:
- Kinh điển Phật giáo: Các bộ kinh, luật liên quan trực tiếp đến nghi thức và ca từ tụng niệm: Giới luật Thiết yếu hội tập (quyển 5), Hội Giải giới bổn Bồ Tát trong kinh Phạm Võng (Nxb. Tôn giáo, 2008), Kinh A Di Đà (bản in của Tổ đình Viên Minh, Quang Lãng, Phú Xuyên, Hà Nội), Kinh Cứu khổ (Nxb. TP. Hồ Chí Minh), Kinh Địa Tạng (Nxb. Tôn giáo, 2005), Kinh Phạm Võng, Phẩm Bồ Tát Tâm Địa (Nxb. Tôn giáo, 2011), cùng các bộ Vãng sinh Tịnh độ, Lương hoàng Sám, Pháp hoa, Báo Ân.
- Các bộ quốc sử: An Nam chí lược (Lê Tắc), Thiền Uyển Tập Anh (bản dịch Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thúy Nga, 1990), Đại Việt Sử ký Toàn thư (bản khắc Chính Hòa thứ 18 - 1679, Nxb. Khoa học Xã hội, 1998), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú, Viện Sử học phiên dịch).
- Tư liệu khảo cổ học và mỹ thuật:
- Văn bia chùa Đọi (Hà Nam).
- Nhạc cụ chạm khắc trên bệ đá hoa sen chùa Vạn Phúc (chùa Phật Tích, Tiên Du, Bắc Ninh, thế kỷ 11 - 12).
- Điêu khắc gỗ vì nóc thượng điện chùa Thái Lạc (Văn Lâm, Hưng Yên, thế kỷ 13 - 14) mô tả cảnh người tấu nhạc với đàn tỳ bà, đàn nguyệt, đàn tranh, sáo, tiêu, nhị và các hoạt cảnh vũ điệu dâng hoa.
- Chạm khắc gỗ vũ điệu dâng hoa tại chùa Dâu (Bắc Ninh) và chùa Cổn Chè (Nam Định).
- Tượng Bát bộ Kim Cương Bồ Tát cầm đàn Tam và đàn Nhị tại chùa Nôm (Hưng Yên).
- Tượng Bồ Tát Chuẩn Đề cầm chuông - linh tại chùa Đào Xuyên và chùa Kiêu Kỵ (Gia Lâm, Hà Nội).
- Tượng Tứ Linh Thiên Vương cầm đàn tại chùa Linh Đàm (Hoàng Mai, Hà Nội).
- Tư liệu điền dã thực tế: Các bản ghi âm, biên bản phỏng vấn sâu nhân chứng và tư liệu hình ảnh thu thập trực tiếp tại các trung tâm Phật giáo Hà Nội và phụ cận châu thổ Bắc Bộ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án
Chương này dành cho việc xác lập cơ sở học thuật, hệ thống hóa nguồn tư liệu và phân tích các khái niệm công cụ. Tác giả phân tích các nguồn tư liệu gốc từ kinh điển, quốc sử, khảo cổ học và tài liệu thứ cấp; tổng thuật lịch sử nghiên cứu theo hai trục: âm nhạc học và sử học - Phật giáo học.
Về phương diện khái niệm và thuật ngữ, chương 1 phân tích và định nghĩa các khái niệm ranh giới: "nghi lễ Phật giáo", "âm nhạc Phật giáo", "diễn xướng tôn giáo", các thuật ngữ chỉ hình thức thanh nhạc như Tán, Tụng, Niệm, Thỉnh. Tác giả chỉ ra rằng Tán và Tụng đã được ghi nhận trong thư tịch cổ từ thế kỷ thứ V - VI. Đặc biệt, chương này làm rõ các thuật ngữ mang tính chuyên môn cao trong thực hành âm nhạc Phật giáo Hà Nội:
- Khái niệm "Đận": đơn vị cấu trúc bài bản âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo miền Bắc.
- Khái niệm "Lò canh": chỉ các trung tâm đào tạo, truyền nghề diễn xướng âm nhạc Phật giáo truyền thống tại Hà Nội. Luận án xác định hai lò canh tiêu biểu trong lịch sử Phật giáo Hà Nội là lò canh chùa Bộc (gắn với khu vực Quảng Bá - Tây Hồ) và lò canh chùa Thanh Nhàn.
- Hệ thống 13 thể loại Canh đặc thù của Hà Nội: Canh Ai, Giả tổ, Lô hương, Chí tâm, Canh Phú, Hoàng kim, Canh Thống, Canh Hãm, Giới định, Tả thủ, Canh Đông ba (Ba đông - Ba tây), Bảo đỉnh và Canh Đàn thượng.
Chương 2: Đặc điểm nghi lễ Phật giáo và nguồn gốc, diện mạo của âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Chương 2 trình bày các đặc điểm cốt lõi của hệ thống nghi lễ Phật giáo Bắc truyền tại châu thổ Bắc Bộ và truy nguyên nguồn gốc lịch sử của âm nhạc Phật giáo Hà Nội.
- Nguồn gốc âm nhạc Phật giáo Hà Nội: Dựa trên chứng tích khảo cổ và thư tịch cổ, tác giả chứng minh âm nhạc nghi lễ đã song hành cùng Phật giáo từ giai đoạn Giao Chỉ qua các trung tâm Luy Lâu và Thăng Long. Quá trình bản địa hóa âm nhạc diễn ra qua sự tích hợp Tam giáo (Nho - Phật - Đạo) và tín ngưỡng dân gian. Đặc biệt dưới thời Trần, sự nghiệp trước tác của Trần Nhân Tông và Huyền Quang đã chuẩn hóa các khoa nghi tiếng Việt mang tính cấu trúc chặt chẽ.
- Diện mạo âm nhạc Phật giáo Hà Nội: Được khảo sát thông qua hai không gian nghi lễ điển hình:
- Lễ Thường nhật: Các khóa tụng niệm hàng ngày (công phu sớm, chiều), âm nhạc mang tính tiết chế, chủ yếu sử dụng thanh nhạc tụng niệm kết hợp chuông Gia trì và mõ để giữ nhịp, phục vụ việc nhiếp tâm thanh tịnh.
- Lễ Trai đàn chẩn tế: Không gian nghi lễ quy mô lớn, có sự tham gia của ban kinh sư và dàn nhạc cụ hoàn chỉnh. Âm nhạc trong Trai đàn chẩn tế mang tính kịch nghệ nghi lễ, kết hợp đa dạng các thể loại diễn xướng (tán, tụng, xướng lễ, bạch, kể hạnh) cùng dàn nhạc gõ và nhạc dây, nhạc hơi.
- Hệ thống nhạc khí sử dụng:
- Nhạc khí tôn giáo chuyên dụng: Chuông (gồm Đại hồng chung đánh thức, định giờ và chuông Gia trì dùng khi tụng kinh), Khánh, Mõ.
- Nhạc cụ dân gian phối thuộc: Nhị, Sáo, Tiêu, Kèn, Thanh la, Não bạt, Kiểng và các loại trống (trống bản, trống cơm, trống đại). Luận án khảo sát các bài bản nhịp trống riêng biệt dùng làm hiệu lệnh điều khiển các bước hành lễ.
Chương 3: Chức năng và một số đặc trưng của âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Chương này là phần nội dung trọng tâm về mặt lý luận tôn giáo học, giải quyết câu hỏi nghiên cứu thứ hai và thứ ba.
- Chức năng của âm nhạc trong nghi lễ:
- Chức năng giao tiếp và phụng sự tôn giáo: Âm nhạc đóng vai trò phương tiện kết nối cõi thực và cõi thiêng, dâng cúng phẩm vật âm thanh (thanh hương cúng dàng) lên chư Phật, Bồ Tát.
- Chức năng hoằng pháp và hóa giải: Âm nhạc chuyển tải nội dung giáo lý kinh điển, kinh văn sám hối nhằm cứu độ vong linh, hóa giải nghiệp chướng trong các đàn tràng cầu siêu, chẩn tế cô hồn.
- Chức năng tổ chức và điều hành nghi lễ: Tiếng mõ, tiếng chuông và các hồi trống đóng vai trò phân định cấu trúc, báo hiệu chuyển bước hành lễ, điều phối động tác bái lạy của kinh sư và sự hòa niệm của đại chúng.
- Chức năng tâm lý - xã hội: Tạo lập trạng thái tâm linh trang nghiêm, giải tỏa sang chấn tâm lý cho thân nhân người đã khuất và củng cố tình gắn kết cộng đồng tín đồ.
- Một số đặc trưng cơ bản của âm nhạc Phật giáo Hà Nội:
- Quan hệ ca từ và giai điệu: Do ca từ kinh điển đa phần là thể văn vần Hán - Việt hoặc thơ lục bát, song thất lục bát, đường luật, giai điệu âm nhạc được uốn lượn sát theo thanh điệu tiếng Việt (trầm bổng theo hệ thống thanh điệu Bắc Bộ).
- Tính dung hợp đa tầng: Thể hiện sự đan xen giữa âm điệu Phật giáo truyền thống với các điệu hát chèo, ca trù và hát văn đồng bằng Bắc Bộ, phản ánh tính chất nhập thế sâu sắc của Phật giáo Thăng Long - Hà Nội.
- Tính quy chuẩn của phong cách Hà Nội: So với âm nhạc Phật giáo ở Thái Bình hay Huế, phong cách Hà Nội giữ được lối tán đĩnh đạc, khoan thai, nhả chữ mực thước, tiết chế tính bi lụy, nhấn mạnh sự thanh thoát và trang nghiêm.
Chương 4: Vấn đề bảo tồn và phát huy âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo Hà Nội hiện nay
Chương 4 tiếp cận thực trạng biến đổi của âm nhạc nghi lễ trong bối cảnh xã hội đương đại từ sau thời kỳ Đổi mới.
- Xu hướng biến đổi:
- Xu hướng tích cực: Nghi lễ Phật giáo được phục hồi mạnh mẽ; nhu cầu tổ chức các trai đàn, lễ cầu siêu tăng cao; sự tham gia đông đảo của tăng ni trẻ và Phật tử vào các khóa tu; việc ghi âm, số hóa bài bản âm nhạc nghi lễ được thực hiện thuận lợi hơn nhờ công nghệ hiện đại.
- Xu hướng hạn chế và nguy cơ: Sự mai một của các nghệ nhân kinh sư am hiểu bài bản cổ; các "lò canh" truyền thống như chùa Bộc, Thanh Nhàn không còn duy trì hình thức truyền khẩu khắt khe như trước; xuất hiện xu hướng giản lược hoặc làm sai lệch bài bản cổ; sự pha tạp của các yếu tố âm nhạc thế tục và âm nhạc sân khấu hóa thiếu kiểm soát trong các đàn tràng chẩn tế.
- Một số đề xuất và nhóm giải pháp:
- Về phía Giáo hội Phật giáo: Cần tổ chức các lớp tập huấn, truyền dạy khoa nghi và âm nhạc nghi lễ bài bản cho tăng ni trẻ; khôi phục và duy trì mô hình các trường lang, lò canh truyền thống có kiểm định chuyên môn.
- Về phía các cơ quan quản lý văn hóa và viện nghiên cứu: Đẩy mạnh công tác điền dã, ký âm, thu âm, ghi hình lưu trữ toàn bộ các bài bản âm nhạc Phật giáo Hà Nội cổ truyền; tổ chức hội thảo khoa học và xuất bản ấn phẩm tư liệu hóa di sản.
- Về phương diện xã hội hóa và đào tạo: Phối hợp giữa các cơ sở nghiên cứu âm nhạc dân tộc với Giáo hội trong việc thẩm định và bảo tồn tính nguyên vẹn của âm nhạc nghi lễ Phật giáo, tránh xu hướng thương mại hóa nghi lễ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án là công trình khoa học đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận âm nhạc Phật giáo Hà Nội một cách có hệ thống dưới góc độ liên ngành giữa Tôn giáo học, Xã hội học và Âm nhạc học.
- Luận án đã vận dụng thành công lý thuyết chức năng của xã hội học tôn giáo để làm sáng tỏ bản chất, ý nghĩa và vị trí cấu thành của âm nhạc trong hệ thống nghi lễ Phật giáo, khắc phục hạn chế của các nghiên cứu âm nhạc học thuần túy trước đây vốn chỉ chú trọng cấu trúc giai điệu hay miêu tả hình thức.
- Xác lập cơ sở lý thuyết chứng minh âm nhạc Phật giáo là kết quả của quá trình tích hợp văn hóa liên tục, mang tính vùng miền sâu sắc nhưng vẫn duy trì tính thống nhất của tư tưởng Phật giáo Đại thừa.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên về nguồn gốc, diện mạo và chức năng của âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo Hà Nội, giải mã cụ thể hai trường hợp điển hình: lễ Thường nhật và lễ Trai đàn chẩn tế ở châu thổ Bắc Bộ.
- Khai thác và hệ thống hóa nguồn tư liệu lịch sử xác thực từ kinh điển Phật giáo, các bộ chính sử kết hợp với hệ thống cứ liệu khảo cổ học - mỹ thuật (bệ đá chùa Phật Tích, chạm khắc gỗ chùa Thái Lạc, chùa Dâu, tượng pháp tại các chùa Hà Nội).
- Phát hiện, phục dựng và ghi nhận có hệ thống về sự tồn tại của các "lò canh" truyền thống tại Hà Nội (lò canh chùa Bộc, lò canh chùa Thanh Nhàn), danh mục 13 thể loại Canh và các bài bản nhịp trống nghi lễ đặc thù đang có nguy cơ mai một.
- Cung cấp nguồn tư liệu khoa học có độ tin cậy cao, có thể kiểm chứng, phục vụ trực tiếp cho công tác đào tạo chuyên ngành tôn giáo học, âm nhạc học dân tộc và công tác quản lý văn hóa, bảo tồn di sản tôn giáo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế từ phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Luận án giới hạn khảo sát ở phong cách âm nhạc Phật giáo Hà Nội (tập trung tại khu vực Hà Nội cũ trước năm 2008 và một số chùa phụ cận thực hành phong cách này). Các phong cách âm nhạc Phật giáo của các địa phương khác (như phong cách miền Trung, Nam Bộ hoặc phong cách các tỉnh phía Bắc mới sáp nhập) hiện diện trên địa bàn Hà Nội chưa được đưa vào khảo sát.
- Phạm vi nghi lễ: Nghiên cứu mới chỉ tập trung phân tích sâu hai loại hình nghi lễ tiêu biểu là lễ Thường nhật và lễ Trai đàn chẩn tế, chưa thể bao quát toàn bộ các khóa lễ, đàn tràng khác trong hệ thống nghi lễ phong phú của Phật giáo Bắc tông.
- Phương diện âm nhạc học: Luận án ưu tiên giải quyết các vấn đề tôn giáo học; do đó các tham số chuyên sâu của âm nhạc học như ký âm toàn bộ hệ thống bài bản, phân tích chi tiết các biến thể thang âm ngũ cung chỉ dừng lại ở các bài bản và cấu trúc cơ bản tiêu biểu.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh giữa phong cách âm nhạc Phật giáo Hà Nội với âm nhạc Phật giáo của các trung tâm Phật giáo khác trên cả nước (như Huế, Nam Bộ) và các vùng lân cận ở Đông Bắc, Tây Bắc.
- Tiếp tục nghiên cứu điền dã, ghi âm, ký âm trọn vẹn toàn bộ 13 thể loại Canh và hệ thống bài bản nhạc khí tại các lò canh cổ truyền nhằm xây dựng kho lưu trữ số hóa hoàn chỉnh phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa tôn giáo phi vật thể.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị học thuật và thực tiễn thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên:
- Chuyên ngành Tôn giáo học: Cung cấp khung lý thuyết liên ngành mẫu mực trong việc vận dụng lý thuyết chức năng để khảo sát các hiện tượng nghệ thuật tôn giáo.
- Chuyên ngành Văn hóa học và Dân tộc học: Cung cấp góc nhìn phân tích về tính dung hợp văn hóa, cơ chế nhập thế của tôn giáo thông qua thực hành âm nhạc truyền thống.
- Chuyên ngành Âm nhạc học dân tộc: Cung cấp hệ thống tư liệu thực địa, danh mục thuật ngữ (Đận, Canh, Lò canh), bài bản thanh nhạc và biên chế nhạc khí nghi lễ tại châu thổ Bắc Bộ.
- Đối với các cơ quan quản lý văn hóa và hoạch định chính sách:
- Cung cấp luận cứ thực tiễn giúp Sở Văn hóa - Thể thao, Ban Tôn giáo và các cơ quan bảo tồn di sản nhận diện giá trị văn hóa phi vật thể của âm nhạc nghi lễ Phật giáo Hà Nội, từ đó ban hành các chính sách kiểm kê, vinh danh nghệ nhân kinh sư và quản lý lễ hội tôn giáo phù hợp.
- Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam:
- Làm tài liệu tham khảo cho các học viện Phật giáo, các trường trung cấp Phật học trong việc chuẩn hóa giảng dạy khoa nghi, khôi phục nét trang nghiêm, thanh thoát của phong cách nghi lễ Phật giáo Hà Nội truyền thống.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định âm nhạc xuất hiện trong Phật giáo Việt Nam và Hà Nội từ thời điểm nào?
Căn cứ vào các bộ quốc sử (Thiền Uyển Tập Anh, An Nam chí lược, Đại Việt Sử ký Toàn thư) và các nghiên cứu của GS. Lê Mạnh Thát, tác giả chỉ ra rằng âm nhạc Phật giáo đã xuất hiện tại Giao Chỉ - Việt Nam ngay từ những thế kỷ đầu Công nguyên cùng với quá trình du nhập của Phật giáo. Trong thư tịch cổ thế kỷ V - VI, các thể loại diễn xướng như "ca, Tán, Tụng, Vịnh" và hành vi "gảy đàn đốt hương" đã được ghi nhận. Riêng tại Hà Nội (Thăng Long), âm nhạc Phật giáo phát triển liên tục, đặc biệt định hình rõ nét từ thời Lý - Trần qua các di vật điêu khắc nhạc cụ và hệ thống khoa nghi sám hối được Việt hóa.
2. Hai không gian nghi lễ nào được luận án lựa chọn khảo sát chuyên sâu và có đặc điểm âm nhạc ra sao?
Luận án tập trung khảo sát hai không gian nghi lễ:
- Lễ Thường nhật: Gồm các thời khóa tụng niệm hàng ngày (sớm, tối), mang tính tu niệm nội tại, âm nhạc chủ yếu là thanh nhạc tụng kinh giữ nhịp bằng mõ và điểm chuông Gia trì, âm hưởng trang nghiêm, tĩnh lặng.
- Lễ Trai đàn chẩn tế: Khóa lễ mang quy mô lớn nhằm chẩn tế cô hồn, cầu siêu độ. Âm nhạc mang tính kịch nghệ tôn giáo, phối hợp nhiều thể loại thanh nhạc (tán, tụng, xướng lễ, bạch, kể hạnh) cùng dàn nhạc hoàn chỉnh (chuông, khánh, mõ, trống, nhị, sáo, tiêu, thanh la, não bạt) để dẫn dắt cấu trúc nghi lễ.
3. Khái niệm "lò canh" và hệ thống 13 thể loại Canh tại Hà Nội được tác giả ghi nhận gồm những gì?
"Lò canh" là thuật ngữ chỉ các trung tâm truyền dạy kỹ năng diễn xướng, tán tụng kinh nghiệm của giới kinh sư Phật giáo tại Hà Nội. Luận án ghi nhận hai lò canh lịch sử tiêu biểu: lò canh chùa Bộc (gắn với khu vực Quảng Bá - Tây Hồ) và lò canh chùa Thanh Nhàn. Đi kèm với truyền thống này là hệ thống 13 thể loại Canh (tán canh) đặc thù của Hà Nội: Canh Ai, Giả tổ, Lô hương, Chí tâm, Canh Phú, Hoàng kim, Canh Thống, Canh Hãm, Giới định, Tả thủ, Canh Đông ba (Ba đông - Ba tây), Bảo đỉnh và Canh Đàn thượng.
4. Những chứng tích khảo cổ và mỹ thuật nào chứng minh cho sự hiện diện của nhạc khí trong chùa cổ miền Bắc?
Tác giả đã dẫn xuất nhiều cứ liệu vật chất có niên đại lịch sử rõ ràng:
- Văn bia chùa Đọi (Hà Nam).
- Chạm khắc các nhạc công cầm nhạc cụ trên bệ đá hoa sen chùa Vạn Phúc (chùa Phật Tích, Bắc Ninh, thế kỷ 11 - 12).
- Điêu khắc gỗ thế kỷ 13 - 14 ở vì nóc chùa Thái Lạc (Hưng Yên) miêu tả các nhạc cụ đàn tỳ bà, đàn nguyệt, đàn tranh, sáo, tiêu, nhị và vũ điệu dâng hoa.
- Chạm khắc vũ điệu dâng hoa ở chùa Dâu (Bắc Ninh) và chùa Cổn Chè (Nam Định).
- Hệ thống tượng Bát bộ Kim Cương Bồ Tát cầm đàn Tam và Nhị tại chùa Nôm (Hưng Yên); tượng Bồ Tát Chuẩn Đề cầm chuông - linh tại chùa Đào Xuyên, Kiêu Kỵ (Gia Lâm, Hà Nội); tượng Tứ Linh Thiên Vương cầm đàn tại chùa Linh Đàm (Hà Nội).
5. Khung phân tích lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên các lý thuyết nền tảng nào?
Khung phân tích lý thuyết của luận án được cấu thành từ ba trục lý thuyết chính:
- Chủ nghĩa duy vật lịch sử (Mác - Lênin): Đặt âm nhạc nghi lễ trong tiến trình phát triển biện chứng của lịch sử xã hội và lịch sử Phật giáo Việt Nam.
- Lý thuyết chức năng (Durkheim, Spencer, Parsons): Giải mã chức năng tôn giáo, chức năng nghi lễ, chức năng tổ chức và chức năng tâm lý của âm nhạc trong chỉnh thể cấu trúc đàn tràng.
- Lý thuyết vùng văn hóa (Ngô Đức Thịnh) và tính nhiều tầng, nhiều lớp trong âm nhạc dân tộc (Nguyễn Thụy Loan): Xác định các đặc trưng phong cách bản địa của âm nhạc Phật giáo Hà Nội trong mối quan hệ hữu cơ với âm nhạc truyền thống châu thổ Bắc Bộ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Tôn giáo học "Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội" của nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Lâm là một công trình học thuật chuyên khảo, giải quyết trọn vẹn các câu hỏi nghiên cứu về nguồn gốc, diện mạo và chức năng của âm nhạc Phật giáo tại Thăng Long - Hà Nội. Bằng việc kết hợp phương pháp luận duy vật lịch sử, lý thuyết chức năng xã hội học và các phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn bản học, khảo cổ học, âm nhạc học và điền dã thực tế), tác giả đã chứng minh âm nhạc nghi lễ là thành tố cấu thành hữu cơ, đảm nhiệm các chức năng tôn giáo chuyên biệt không thể thay thế trong Phật giáo Đại thừa. Các phát hiện thực tế về hệ thống bài bản 13 thể loại Canh, hai lò canh truyền thống và cấu trúc âm nhạc trong lễ Thường nhật và Trai đàn chẩn tế đóng góp nguồn tư liệu khoa học có độ tin cậy cao, xác lập giá trị tham khảo bền vững cho nghiên cứu tôn giáo và bảo tồn di sản âm nhạc truyền thống Việt Nam.