Tổng quan nghiên cứu
Phát triển du lịch bền vững gắn liền với bảo tồn di sản là định hướng chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Tại tỉnh An Giang, giai đoạn 2002 - 2012 ghi nhận sự chuyển dịch mạnh mẽ của ngành du lịch với mục tiêu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, căn cứ theo tinh thần Chỉ thị 46-CT/TW năm 1994 của Ban Bí thư và các định hướng tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và X. Nằm ở trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long, An Giang sở hữu kho tàng di sản văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Chăm theo đạo Hồi (Chăm Islam) với hơn hàng chục nghìn nhân khẩu sinh sống tập trung ven các nhánh sông Tiền và sông Hậu.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ sự mất cân đối giữa nguồn tài nguyên di sản văn hóa Chăm phong phú và thực trạng khai thác du lịch còn nhiều hạn chế, manh mún tại địa phương. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch văn hóa, khảo sát toàn diện thực trạng hoạt động du lịch văn hóa Chăm trong 10 năm từ năm 2002 đến năm 2012, và đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên này đến sau năm 2013. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Du lịch do học viên Nguyễn Hoài Nhân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Triệu Thế Việt tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội mang ý nghĩa thực tiễn lớn, đóng góp khung giải pháp giúp nâng cao thu nhập cộng đồng bản địa và bảo tồn nguyên vẹn các giá trị văn hóa độc bản.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển du lịch bền vững được Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) công bố tại Hội nghị Môi trường và Phát triển năm 1992 ở Rio de Janeiro, khẳng định hoạt động du lịch phải thỏa mãn nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến nguồn tài nguyên di sản tương lai. Đồng thời, tác giả kết hợp khung lý thuyết văn hóa của UNESCO hình thành qua các kỳ hội nghị quốc tế năm 1970 tại Venice và năm 1982 tại Mexico, cùng mô hình định nghĩa văn hóa hệ thống của Giáo sư Trần Ngọc Thêm năm 1996. Khung phân tích này chia tách và liên kết chặt chẽ bốn khái niệm cốt lõi:
- Tài nguyên du lịch nhân văn: Bao gồm toàn bộ các thiết chế thánh đường Hồi giáo, di tích lịch sử, lễ hội tôn giáo, trường ca và làng nghề truyền thống.
- Du lịch văn hóa: Loại hình du lịch dựa trên bản sắc dân tộc có sự tham gia của cộng đồng bản địa theo quy định tại Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005.
- Sản phẩm du lịch: Cấu thành theo công thức tổng hòa giữa hàng hóa, dịch vụ du lịch và nguồn tài nguyên văn hóa gốc.
- Cộng đồng sở tại (Host Community): Chủ thể trực tiếp tạo ra không gian văn hóa, hưởng lợi kinh tế và chịu tác động xã hội từ dòng khách tham quan.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng quy trình nghiên cứu liên ngành giữa Du lịch học, Xã hội học và Dân tộc học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập có hệ thống từ các báo cáo thống kê giai đoạn 2002 - 2012 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch An Giang, Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm và Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang.
Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa bằng bảng hỏi với tổng quy mô cỡ mẫu gồm 100 phiếu, phân bổ cụ thể cho 45 người dân địa phương Chăm và 55 khách du lịch nội địa lẫn quốc tế. Phương pháp chọn mẫu có chủ định (purposive sampling) được lựa chọn nhằm tiếp cận trực tiếp các đối tượng có trải nghiệm sâu về văn hóa bản địa và các nghệ nhân, trưởng xóm Chăm am tường phong tục. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tổng hợp định tính kết hợp định lượng là để đo lường chính xác mức độ hài lòng của du khách, đánh giá thực chất năng lực cung ứng dịch vụ của cộng đồng và bảo đảm tính khách quan khi đề xuất giải pháp chính sách.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
- Kho tàng tài nguyên văn hóa Chăm Islam có sức hấp dẫn vượt trội: An Giang lưu giữ hệ thống di sản độc đáo gồm các thánh đường Hồi giáo vòm tháp uy nghiêm (như Mubarak, Jamiul Azhar), trường ca Ariya, hai điệu múa truyền thống đặc trưng là múa quạt Pi diễn và múa đạp lửa Juak apui, cùng làng nghề dệt thổ cẩm nổi tiếng Châu Phong và Đa Phước.
- Tăng trưởng lượng khách chưa tương xứng với tiềm năng di sản: Giai đoạn 2002 - 2012 ghi nhận tổng lượng khách đến An Giang tăng trưởng với tốc độ bình quân ước tính trên 12%/năm, nhưng tỷ trọng khách tham gia trải nghiệm tour văn hóa Chăm chỉ chiếm khoảng 15% đến 20% tổng lượng khách toàn tỉnh.
- Nguồn nhân lực du lịch bản địa thiếu hụt nghiêm trọng: Báo cáo nhân lực giai đoạn 2008 - 2012 cho thấy tỷ lệ lao động người Chăm được đào tạo bài bản tham gia trực tiếp vào chuỗi lữ hành và hướng dẫn viên chuyên nghiệp đạt dưới 10%.
- Nguồn thu du lịch văn hóa chưa tối ưu hóa cho cộng đồng: Dù tổng doanh thu du lịch tỉnh An Giang tăng liên tục qua 10 năm theo dõi, cơ cấu chi tiêu của khách dành cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và ẩm thực Chăm chỉ chiếm dưới 8% tổng mức chi tiêu của một chuyến đi.
Thảo luận kết quả
Thực trạng trên bắt nguồn từ việc các tuyến điểm du lịch Chăm tại An Giang chủ yếu phát triển tự phát, thiếu sản phẩm bổ trợ và chưa hình thành tour liên hoàn hấp dẫn. Du khách đến các làng Chăm phần lớn chỉ dừng lại ở hoạt động tham quan nhanh từ 30 đến 45 phút, chụp ảnh thánh đường rồi rời đi, khiến mức chi tiêu và thời gian lưu trú tại chỗ rất thấp.
Dữ liệu thực trạng trong luận văn được trực quan hóa qua Bảng 1 (Hiện trạng khách du lịch đến An Giang giai đoạn 2002 - 2012), Bảng 2 (Thu nhập du lịch tỉnh An Giang giai đoạn 2002 - 2012) và Biểu đồ 1 (So sánh cơ cấu khách quốc tế và nội địa). Các bảng biểu này minh chứng cho thấy sự lệch pha lớn giữa tốc độ tăng trưởng lượng khách đại trà và giá trị kinh tế thu được từ phân khúc du lịch văn hóa di sản.
So sánh với các công trình nghiên cứu dân tộc học thuần túy của tác giả Phan Xuân Biên năm 1991, Ngô Văn Doanh năm 1994 hay nghiên cứu nghệ thuật của Bố Xuân Hổ năm 2003, luận văn của Nguyễn Hoài Nhân đã tạo ra bước tiến quan trọng: chuyển dịch góc nhìn từ khảo cứu lý thuyết sang mô hình hóa kinh tế di sản. Nghiên cứu khẳng định văn hóa Chăm không thể chỉ "bảo tồn tĩnh" trong bảo tàng mà phải "bảo tồn động" thông qua chuỗi sản phẩm du lịch có giá trị gia tăng cao.
Đề xuất và khuyến nghị
Hệ thống giải pháp đồng bộ được luận văn xây dựng dựa trên 5 trụ cột hành động cụ thể:
- Nâng cấp hạ tầng và không gian kết nối điểm đến: Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang cùng Sở Giao thông Vận tải phê duyệt quy hoạch nâng cấp 100% hệ thống bến thuyền du lịch ven sông Hậu và các tuyến đường liên ấp nối liền Châu Phong, Đa Phước, Châu Giang trong giai đoạn 2014 - 2018 nhằm bảo đảm việc tiếp cận an toàn cho các đoàn xe du lịch lớn.
- Xây dựng chuỗi sản phẩm du lịch đặc thù: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang chủ trì liên kết với các doanh nghiệp lữ hành xây dựng 3 gói tour văn hóa trải nghiệm chuyên sâu (thời lượng từ 1 đến 2 ngày), đặt mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách tại vùng đồng bào Chăm từ 1,2 ngày lên mức 2,5 ngày trước năm 2020.
- Chuẩn hóa và nâng cao năng lực nhân lực Chăm: Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh mở các khóa đào tạo nghiệp vụ thuyết minh viên di sản và kỹ năng vận hành homestay cho ít nhất 150 thanh niên người Chăm trong giai đoạn 2 đến 3 năm, nâng tỷ lệ lao động bản địa qua đào tạo lên trên 50%.
- Tăng cường quảng bá và số hóa thông tin: Trung tâm Xúc tiến Du lịch An Giang triển khai chiến dịch truyền thông đa kênh, tham gia tối thiểu 5 hội chợ du lịch quốc tế thường niên, đặt mục tiêu nâng mức độ nhận diện thương hiệu du lịch Chăm An Giang đối với khách quốc tế lên trên 40% vào năm 2020.
- Hoàn thiện cơ chế bảo tồn gắn với chia sẻ lợi ích: Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Chăm tỉnh An Giang phối hợp với chính quyền cơ sở thành lập Quỹ Phát triển Du lịch Cộng đồng, trích tối thiểu 15% doanh thu từ các hoạt động dịch vụ làng nghề để trực tiếp bảo dưỡng thánh đường và hỗ trợ các nghệ nhân truyền dạy dệt thổ cẩm.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và văn hóa: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang cùng các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long sử dụng luận văn làm căn cứ hoạch định chính sách phân bổ ngân sách hạ tầng, bảo tồn di tích và quản lý điểm đến bền vững.
- Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư dịch vụ: Các công ty du lịch tham khảo hệ thống dữ liệu để thiết kế các tour chuyên đề văn hóa Chăm Islam, định giá dịch vụ và kết nối chuỗi cung ứng homestay, ẩm thực Halal đạt chuẩn quốc tế.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Các cơ sở đào tạo chuyên ngành Du lịch, Văn hóa học, Dân tộc học khai thác công trình như một tài liệu học thuật giá trị về phương pháp khảo sát thực địa và chuyển hóa tài nguyên nhân văn thành sản phẩm kinh tế.
- Cộng đồng người Chăm và các tổ chức phát triển xã hội: Ban quản trị các thánh đường và hộ gia đình làng nghề tiếp cận các mô hình phát triển sinh kế du lịch cộng đồng, nâng cao năng lực tự chủ kinh tế mà vẫn giữ gìn nguyên vẹn phong tục truyền thống.
Câu hỏi thường gặp
Điểm khác biệt lớn nhất giữa văn hóa Chăm An Giang và văn hóa Chăm Nam Trung Bộ là gì?
Văn hóa Chăm tại An Giang gắn liền với Hồi giáo Islam chính thống giáo luật nghiêm ngặt, sử dụng thánh đường vòm tròn trắng đặc trưng và không có tháp gạch như vùng Ninh Thuận hay Bình Thuận. Đời sống cư dân gắn liền sông nước Đồng bằng sông Cửu Long, tạo nên phong tục tập quán, trang phục khăn Mat’ra và ẩm thực Halal mang bản sắc riêng biệt.
Luận văn sử dụng cỡ mẫu và phương pháp điều tra nào để đánh giá thực trạng?
Nghiên cứu khảo sát 100 bảng hỏi thực địa theo phương pháp chọn mẫu có chủ định, phân bổ khoa học cho 45 người dân Chăm địa phương và 55 du khách đang trải nghiệm thực tế tại An Giang. Cách chọn mẫu này bảo đảm thu thập chính xác nhận định của chủ thể văn hóa lẫn nhu cầu chi tiêu của khách hàng.
Những giá trị văn hóa Chăm phi vật thể nào tại An Giang có sức hút du lịch cao nhất?
Nổi bật nhất là nghệ thuật múa quạt Pi diễn, múa đạp lửa Juak apui, các làn điệu dân ca trường ca Ariya và hai đại lễ tôn giáo Roya Haji cùng sinh hoạt lễ hội cộng đồng. Kỹ nghệ dệt thổ cẩm Châu Phong với hoa văn tinh xảo cũng là sản phẩm lưu niệm có sức cạnh tranh rất lớn trên thị trường du lịch.
Rào cản lớn nhất trong phát triển du lịch văn hóa Chăm An Giang giai đoạn 2002 - 2012 là gì?
Rào cản lớn nhất là tỷ lệ nhân lực người Chăm trực tiếp tham gia chuỗi cung ứng đạt dưới 10%, hạ tầng tiếp cận bến thuyền hạn chế và thiếu các tour trải nghiệm chuyên sâu kéo dài trên 1 ngày. Điều này khiến hoạt động tham quan mang tính ghé ngang, đóng góp dưới 8% vào cơ cấu chi tiêu của khách.
Làm thế nào để cân bằng giữa khai thác kinh tế và bảo tồn tính linh thiêng của thánh đường Hồi giáo?
Luận văn khuyến nghị áp dụng quy chuẩn du lịch có trách nhiệm của UNWTO: thiết lập nội quy tham quan thánh đường nghiêm ngặt, giới hạn số lượng đoàn khách cùng thời điểm, trích tối thiểu 15% doanh thu dịch vụ tái thiết di sản và để người Chăm bản địa trực tiếp làm người thuyết minh dẫn đoàn.
Kết luận
- Khẳng định văn hóa Chăm An Giang là nguồn tài nguyên nhân văn vô giá, mang tính nhận diện độc nhất cho du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
- Đánh giá toàn diện 10 năm thực trạng từ năm 2002 đến năm 2012, chỉ ra nút thắt về nhân lực dưới 10% và sự thiếu vắng chuỗi sản phẩm lưu trú trải nghiệm sâu.
- Xác lập khung lý thuyết hệ thống kết hợp chuẩn mực du lịch bền vững của UNWTO năm 1992 và Luật Du lịch năm 2005 vào bài toán di sản địa phương.
- Cung cấp 5 nhóm giải pháp hành động với lộ trình rõ ràng, hướng tới nâng thời gian lưu trú của khách lên 2,5 ngày và nâng tỷ lệ hưởng lợi kinh tế của cộng đồng bản địa.
- Đóng vai trò cẩm nang tham khảo học thuật và thực tiễn cho các nhà quản lý, doanh nghiệp lữ hành cùng cộng đồng người Chăm trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Để hiện thực hóa tiềm năng to lớn này, các nhà quản lý điểm đến và doanh nghiệp lữ hành cần nhanh chóng bắt tay cùng cộng đồng bản địa xây dựng chuỗi sản phẩm du lịch di sản Chăm chất lượng cao ngay hôm nay.