Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái quát về hạn hán và hoang mạc hóa 1. Khái quát về hạn hán !l. Khái niệm Hạn là một hiện tượng tự nhiên, được xem là thiên tai.
Hạn được tạo thành bởi sự thiểu hụt nghiêm trọng của lượng mưa so với chuẩn trong điều kiện nhiệt độ không khí cao, kéo đài, làm suy giảm hàm lượng âm trong không khí, làm suy kiệt dòng chảy của các sông. suôi, hạ thấp mực nước ao, hỗ, mực nước trong các tang chứa dưới đất. gây bất lợi cho sự phát triển bình thường của cây trồng, làm mùa màng bị giảm năng suất hoặc mắt trang. Nên hạn hán thường gây hại nhiều cho sản xuất, đời sống và cả môi trường.
Hạn han có thể xảy ra ở vùng mưa it hoặc vùng mưa nhiều, năm mưa it hoặc năm mưa nhiều, trong mùa khô và đôi khi ngay trong mùa mưa lũ. Mức độ gay gắt của hạn hán khó dự đoán và xác định trước. Một số chỉ tiêu dựa vào lượng mưa đê xác định hạn hán - Lượng mưa trong một thời gian nào đó thâm hụt nhiều so với mức trung bình nhiều năm hoặc cùng thời kỳ, có thể được xác định là thời ky có tổng lượng mưa < 80% tổng lượng mưa chuẩn của thời kỳ.75% lượng mưa trung bình nhiều năm - Khi P - E (lượng bốc hơi năm) là âm. Nếu P - E < - 300mm thì tình hình hạn là khắc nghiệt.
- Lượng mưa thiếu hụt <60% trong 2 năm liên tục với hơn 50% điện tích khu vực; hoặc thời kỳ có 3 tháng liên tục có lượng mưa trung bình tháng dưới 30mm/tháng). - Mua không ít lắm nhưng trong một thời gian nhất định trước đỏ hoặc không mưa. hoặc lượng mưa it. chỉ đủ đáp ứng yêu cầu của sản xuất hoặc môi trường ngoại cảnh.
- Mưa không it lắm nhưng không phan phối đồng đều hoặc không thích hợp với yêu cầu của cây trồng. Thông thường. hạn được xác định bởi sự thiếu hụt do sự mat cân bang giữa cung và câu nước. Để đánh giá sự khắc nghiệt và tác hại của hạn hán có thể căn cứ vào các yếu tố sau: - Thời gian hạn hán kéo dai - Cường độ khô hạn tang nhanh - Phạm vi hạn hán lan rộng Tuy nhiên cũng cần phải xem xét đến nhu cầu dùng nước của con người, cây trồng, vật nuôi, môi trường, xã hội.
tại vùng bị hạn hán.112 Phan loại Hạn hán chia làm 3 loại chính: hạn khí tượng, hạn thủy văn. hạn nông nghiệp và chúng có mối liên quan mật thiết với nhau. Hạn khí tượng được đặc trưng bởi sự thiểu hụt nước do sự mat căn bằng giữa lượng mưa và bếc hoi, do sự thiếu hụt lượng mưa.hạn khí tượng chủ yếu được phân định theo trạng thái không bình thường về mưa cụ thé là lượng mưa giảm thấp so với mức trung bình nhiều năm cùng kỷ. Hạn thủy văn được đặc trưng bởi sự thiếu hụt nước do sự mat cân bằng giữa dự trữ nước bề mặt và nước ngầm chủ yếu chịu tác động của các yếu tố thủy văn khác như lượng nước chảy, mực nước ngam.Cy thẻ: hạn thủy văn xuất hiện khi mực nước sông ngòi, hồ ao và mực nước ngằm giảm thấp so với trung bình nhiều năm cùng kỳ.
Hạn nông nghiệp là do tình trạng thiếu hụt nước bởi sự mắt cân bằng giữa nước chứa trong đất và nước cần thiết cho quá trình làm hạt, bốc hơi.Cụ thẻ: khí đất không cung cấp đủ lượng nước can thiết để cây phát triển một cách bình thường. Mức độ không tương ứng giữa nhu cầu của cây cối về am và sự xâm nhập của nó từ đất là tiêu chuẩn chính của cường độ hạn hán. Ngoài ra, bên cạnh các loại trên thì han hán còn có thể được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau. tùy theo mối quan tâm vả yêu cầu xem xét: Đối với con người vả vật nuôi thì hạn hán xảy ra khi nguồn nước không cung cấp đủ lượng nước dùng toi thiểu trong ngày.
Đối với môi trường sinh thái, hạn hán xảy ra khi lượng nước trong không khi vả trong đất giảm thấp. pha vỡ sự cân bằng sinh thai bền vững tự 10 nhiên của môi trường. Đối với thuỷ văn sông ngòi va thuỷ văn địa chất, han han xuất hiện khi mực nước sông ngòi. hỗ, ao và mực nước ngằm giảm thấp dưới mực nước trung bình nhiều năm cùng kỳ.
Các loại hạn hán có liên quan chặt chẽ với nhau, vào những năm mưa ít hơn lượng mưa trung bình nhiều năm (hạn khí tượng) thì hậu quả sẽ gây ra hạn thuỷ văn, hạn địa chất thuỷ văn, nguồn nước mặt và nước dưới đất đều giảm sẽ gây han đối với cây trồng. vật nuôi và thiếu cả nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của con người. Trong khuôn khô đề tài, sẽ đi sâu vào 3 loại hạn chính như đã nêu. Các chỉ tiêu đánh giá Dé đánh giá mức độ khô hạn.
trên Thẻ giới cũng như ở Việt Nam thường áp dụng nhiều chỉ số tính toán khô hạn như: chỉ sô SI (Severity Index); SPDI (Palmer Drought Seveiry Index); CMI (Crop Moisture Index); SPI (Standardizet Precipitation Index); SWSI (Surface Water Supply Index), chỉ số gió mùa GMI, chi số Sazônov (Sa 1), chỉ số cán cân nước K của GS.TS Nguyễn Trọng Hiéu.1: Một số chỉ tiêu tinh toán khô hạn và ngưỡng giá trị của chỉ tiêu im Tên chỉ tiêu tính Công thức tính SI =E(X- Xe)/EX SI ( Severity Index) R: Lượng mưa thời đoạn tính. R »: Lượng mưa trung bình thời đoạn tinh.0 : Hạn nghiêm trọng 0.74: Hạn vừa Ngưỡng của các chỉ tiêu 0.24: Không hạn SPI =(R-RyVo Chỉ số chuẩn hóa lượng R: Lượng mưa thời đoạn tính. mua ( SPI ) Rw: Lượng mưa trung bình thời đoạn tính. ơ: Độ lệch chuẩn lượng mưa thời đoạn tính.49: Am vừa phải Ngưỡng của các chỉ tiêu - 0.99: Gần trung bình - 1.99: Khô khắc nghiệt <-2.00: Khô quá khắc nghiệt H=PETR PET: Bốc thoát hơi tiềm năng thời đoạn tinh R: Lượng mưa thời đoạn tính Ngườỡng của các chỉ tiêu SAI; = (AT/øT;) - (AR/ơR,) AT:Chuẩn sai nhiệt độ thời ky i Chi số Sazonov( SA I ) oT: Độ lệch chuẩn nhiệt độ thời ky i AR: Chuẩn sai lượng mưa thời kỳ i oR: Chuan sai lượng mưa thời kỳ i Ngưỡng của các chỉ tiều 12 Trọng Hiệu) Ngưỡng các chỉ tiêu 1,0 + 2,0: Hơi khô 2,0 + 4.0: Khô >4,0: Rat khé (Nguôn: Trung tâm khí tượng thủy văn Ninh Thuận) Qua quá trình thu thập, nghiên cứu tài liệu có được của các ban ngành trong tinh thì hau như đều sử dụng chỉ số khô hạn của GS.TS Nguyễn Trọng Hiệu, bởi chúng được xem là phù hợp nhất với tình hình khô hạn của địa phương.
Các nguyên nhân gây nên hạn han - Lượng mưa trung bình năm ít hơn so với lượng mưa trung bình nhiều năm, không đủ nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt. - Mùa khô kéo dài, đôi khi có mưa nhưng với lượng mưa rit ít hoặc không mưa - Không mưa hoặc mưa rit ít trong một thời gian dài đáng kể 1. Khái quát về hoang mạc hóa 1. Khải niệm Hoang mạc là vùng đặc trưng bởi khí hậu rất khô hạn với nhiệt độ cao.
thường trên 20°C và lượng mưa ít thường không đến 200mm/năm. Trong tài liệu của lớp tập huấn biến đổi khí hậu tại Ninh Thuận, tháng X1/2006 có nêu: “Hoang mạc hóa, thoái hóa đất là sự mat di một phan hoặc toàn bộ khả năng sản xuất của đất. Hoang mạc hóa là quá trình làm cho những vùng đất trồng trọt biển thành hoang mạc. Quá trình hoang mạc hóa chủ yếu là quá trình thoái hóa của đất khô căn.
bao gdm đất canh tác nông nghiệp, đất chan tha gia súc l3 và dat lâm nghiệp. Thoái hóa dat dẫn đến sự suy giảm, thậm chí làm mat di năng suất sinh học va năng suất kinh tế của sản xuất nông lâm nghiệp. Thoái hóa đất bắt nguồn từ khí hậu khô hạn thiếu nước, hạn hán và hạn kéo dải dẫn đến khô kiệt, đất dần dần bị thoái hoá vả trở thành hoang mạc”. Theo định nghĩa của FAO (Té chức Nông lương Thế giới) thì: “Hoang mạc hỏa là quá trình tự nhiên và xã hội phá vỡ cân bằng sinh thái của đắt, thảm thực vat, không khí và nước ở các vùng khô hạn và bán dm ướt.Hoang mạc hóa là một quá trình xảy ra liên tục, qua nhiều giai đoạn, dẫn đến giảm sút hoặc hủy hoại hoàn toàn khả năng định dưỡng của đất trồng, giảm thiểu các điều kiện sinh sống và làm gia tăng sinh cảnh hoang tàn".
Trong “Công ước chỗng sa mạc hóa” có đề cập đến chỉ tiêu quan trọng dé xác định độ hoang mạc hóa là tỉ lệ lượng mưa hang năm so với lượng bếc hơi nước tiềm năng trong giới hạn từ 0,05 - 0,65. Hiện nay hoang mạc hóa thể hiện rd nhất trên dat trống, đi núi troc, nơi không còn lớp phủ thực vật, địa hình dốc chia cắt, hoặc nơi có lượng mưa thắp, đặc biệt là nơi xảy ra han hán nặng và kéo dai. Hoang mạc hóa là một dạng mức độ thấp của sa mạc hóa. Các loại hình hoang mạc hoá Hoang mạc cất (cát bay, cát nhảy, cát trượt lở): hiện tượng hoang mạc cát phân bố dọc theo bờ biển dưới dạng gò đồi cát cao từ 19 - 20m đến 50 - 100m.
Loại hình hoang mạc này hình thành do nguồn gốc phong thành, đang có xu hướng lan rộng, sâu vào nội địa dưới tác dụng thổi mòn của gió, ảnh hưởng nghiêm trong đến canh tác nông nghiệp va giao thông. Thảm thực vật nguyên sinh là trang cây bụi thường xanh chịu hạn trên cát. Hoang mạc mudi: xảy ra do xâm nhập nước biển vào các đồng bang thêm biển trẻ. Loại hình này chưa phé biến, chi gặp vào mùa khô.
khi nguồn nước ngọt tang nông bị nhiễm mặn nang, chất lượng nước không đáp ứng được nhu câu sinh hoạt và nước tưới cho cây trồng. Hoang mạc đất cần: loại hình hoang mạc này phát triển trên các thém đất xám, đất cát xám căn cdi trên các địa hình có nguồn gốc khác nhau như thềm sông biển cổ. các sườn tích tụ deluvi va chủ yếu phân bố ở các khu vực có nhịp điệu l4 mưa mùa thu đông, lượng mưa thắp trong 3 tháng mia mưa (dưới 800mm), han từ 4 - 5 tháng và nhiệt độ trung bình năm trên 25°C. Hoang mạc đá: loại hình này phát triển trên các loại đất bị xói mòn trơ sỏi đá, đất xói mòn tro đá tảng hoặc các loại đất xám trên sườn núi bị xói mòn tro đá tảng.
Các nguyên nhân gây nên tình trạng hoang mac hoá - Hạn hán là nguyên nhân quan trọng hàng đầu, hạn hán thường xuyên và kéo dai làm đất khô cứng, thiếu nước.