Chương 1: MOT SÓ VAN DE LÝ LUẬN VE GIAO KET HỢP DONG LAO DONG VA PHAP LUAT VE GIAO KET HOP DONG LAO DONG 1. Giao kết hợp đồng ho động 1. Khái niệm giao kết hợp đồng lao động Hop đồng lao đông (HDLD) là công cụ pháp lý quan trong dé xác lập môi QHLD giữa NSDLD va NLD. Giao két HDLD được coi là van đề trung tâm trong mối QHLĐ.
Việc giao kết HDLD không chỉ được thừa nhận bang pháp luật trong nước, ma còn ghi nhận trong hệ thông pháp luật của các nước trên thê giới Nước Pháp cũng coi HDLD thuận túy tương tự như một loại hợp đông dich vụ dân sự. Án lệ của Pháp ghi nhận “HDLD là sự théa thuân, theo dé một người cam kết tiến hành một hoạt động theo sư chỉ đạo của người khác, lệ thuộc vào người đó và được trả công” (Ban án ngày 02/7/1954). Khoản 1 Điêu 1779 Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 về hợp đẳng thuê dich vụ và công nghệ quy định: “Hợp đồng thué người lao động dé phục vụ một người nào đó" và Điều 1780 về hop dong thuê mướn gia nhân và công nhân quy dinky "Chi được cam kết phục vu theo thời gian hoặc cho một công việc nhất đình" Pháp luật Đức quan niệm, HDLD là một dang thức đặc biệt của hợp đông dich vụ, hợp đẳng này thiết lập nên mỗi QHLĐ, NLD sẽ thực hiện công việc cho NSDLD và được nhận thù lao. HĐLĐ chịu sự điệu chỉnh của pháp luật dân sự nói chung và một số luật chuyên ngành.
Điều 611 Bồ luật Dân sự Đức 1896 quy định: “thông qua hop đồng bên đã cam kết thực hiện một hoat động thì phải thực hiện hoạt động đó, còn bén kia có ngiãa vu trả thi: lao theo théa thuận” Như vậy, hệ thống pháp luật của Pháp và Đức chỉ ghi nhận HĐLĐ như là một dang hợp đông dân sự Ưu điểm của khái niệm này là da chỉ ra một phần nội dung của HĐLĐ và sự lệ thuộc pháp ly của NLD đối với NSDLĐ. Nhược điểm là chưa xác định được van dé chủ thé và nội dung hợp đồng Ở Mỹ, bắt ky ai làm việc tại Mỹ, đủ theo thị thực lao đông hay là công din My đều được bảo vệ thông qua Luật lao đông của Mỹ (The U. Department of Labor - DOL). DOL của Mỹ ghi nhận, khi mọi người bat đầu làm việc, hau hết sẽ luôn có một HĐLĐ điều chỉnh moi quan hệ của NLD va đơn vi sử dụng lao đông (thường là mt pháp nhân hoặc là một cá nhân).
“HDLD là sự thỏa thuần giữa NSDLD va NLD về thời han làm việc của NLD. Nó có thé được ngụ ý. bằng miệng hoặc bằng văn bản, liền quan đến một hợp đồng mà NLD hy’. Các đều khoản được đưa ra trong hop đồng phụ thuốc vào những gì đã được théa thuận kit NLD xác nhân rằng ho sẽ nhận một vị trí làm vide Ưu điểm của khái tiệm HĐLĐ nay là các quyền lợi và nghĩa vụ đã được xác định rõ ràng (HDLD xác định trách nhiệm đối với công việc và các quyên lợi được bao gồm trong công việc, NSDLĐ có thé sử dụng nó dé xác đính các tiêu chuẩn về liệu suất của nhan viên và lý do ma việc cham đứt hợp đông 1a chính đáng), bảo vệ quyên lợi của cả hai bên và co giá trị rang buộc về mat pháp ly.
Nhược điểm là hạn chế tinh linh hoạt của NSDLĐ. Tại Nga, Trung Quốc hay Hàn Quốc, HĐLĐ cũng được đính ngiĩa trong bộ Luật Lao động riêng (không coi là hop dong dân sw). Điều 27 Bộ luật Lao động Liên bang CHXHCN Xô Việt Nga 1922 quy dinly “HDLD là théa thuận giữa hai hoặc trên hai người, trong dé một bên (người được thuê mướn) cưng cấp sức lao đồng của minh cho bên kia (người thuế mướn) dé được trả công”. Điều 16 Luật Lao động của Trung Quốc quy định: “ĐLĐ là sự hiệp nghỉ (théa thuận) và xác lấp QHLĐ, quyển lợi vànglña vụ của NLD và NSDLD.
Xây dung QHLĐ phải lap HĐLĐ”. Đạo luật sô 6974 ngày 15/09/2003 của Hàn Quốc quy đính: “Thuật ngữ HDLD trong luật nay có ngiữa là hop động được ký: kết dé ghi nhận rằng NLD làm việc cho NSDLD và NSDLD trả lương cho việc làm đỏ”. Các khái niém nay có tinh khái quát, phan anh được bản. chat của HĐLĐ nói chung.
Tổ chức Lao động Quốc té (ILO) định nghĩa HDLD là: “Một thỏa thuận ràng buộc pháp Ij: giữa mốt NSDLD và một công nhân, trong đó xác lập các điều kiện và ché độ việc lam”. Khái niệm này vô hình chung đã thu hẹp nhóm chủ thé/ddi tương thuộc điện NLD và chưa nêu rõ được bản chat của HDLD do chỉ xác đình một bên của quan hệ là công nhân. Ở Việt Nam, thời kỳ đầu HDLD được thể biện dưới hình thức “Khé ước làm công” bang việc được ghi nhân trong Sắc lệnh số 29/SL (12/3/1947) quy định về việc tuyển chọn, quyền và ng†ĩa vụ của giới chủ và người lam công. Có thé thay HDLD của nước ta lúc này bị anh hưởng bởi hệ thống pháp luật La Mã - Đức (Civil Law) do Việt Nam trong thời ky Pháp thuộc.
Thời gian sau trải qua từng thời ky phát triển. kinh tê - xã hồi, khái tiệm HĐLĐ ngày cảng được nhà nước ta hoàn thiện va thể chế hóa cụ thể theo luật định. Năm 1990, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh HDLD ngày 30/8/1990 quy định: “HDLD là sự thõa thuận giữa NLD với người sử cing thuê mướn Ìao đồng (goi chimg là NSDLĐ) về việc làm có trả công mà hai bên cam kết với nhan về điều kiên sử dung lao động và diéu kiên lao đồng. về quyén và ngliia vụ của mỗi bên trong QHLĐ” Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước CHXHCN Việt nam ban hành BLLD và có liệu lực thi hành từ 01/01/1995 (được sửa đôi, bô sung ngày 2/4/2002, có hiệu lực ngày 01/01/2003), từ đây, các QHLD không còn là loai quan hệ chiu su điệu chỉnh của luật dân sự mà sẽ chiu sự điệu chỉnh của pháp luật lao động.
Noi cách khác, QHLD được xác lập thông qua HĐLĐ, là đối tương điều chỉnh chủ yêu của pháp luật lao động- một ngành luật trong hệ thông pháp luật Việt Nam. Điêu 26 BLLĐ 1994 đính nghia: “HDLD là sư thôa thuận giữa NLD và NSDLĐ về việc làm có trả công đều kiện lao đồng quyên và nghĩa vụ của mỗi bên trong QHLĐ“. Điều 15 BLLD 2012 quy định: “HDLD là sự théa thuận giữa NLD và NSDLD vé việc làm có trả lương. điều kiện làm việc, quyền và ngÌĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” (Điều 15, BLLĐ 2012).
Khái niệm đã thé hiện tính khái quát hơn va phần ánh được ban chất của HDLD, các yêu tổ cơ bản câu thành nên HDLD Đến nay, kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu với kinh tê thé giới thông qua việc tham gia các hiệp định thương mai tự do (FTA) thé hệ mới, trong đó có các quy đính về lao động nhằm tạo ra sân chơi bình đẳng trên TTLD toàn cầu. Các quy định về lao động trong các FTA thê hệ moi yêu cầu việc hình thành các thể chế hỗ tro QHLD, thúc day các công cụ đối thoai và thương lượng trên TTLĐ, cho phép NLD thành lap tô chức đại điện của minh dé tạo thé cân bằng với NSDLD nhằm tiên hành đổi thoại và thương lương một cách thực su giữa hai bên NSDLĐ cũng có quyên thành lập các tổ chức đại điện mới của minh dé tham gia thương lượng và đôi thoạiở cấp cao hơn cap doanh nghiệp, Thực trạng này đời hỏi Việt Nam cântiếp tục phát triển TTLĐ theo hướng hiện đại dé nắm bất các cơ hôi mới, điều chỉnh hiệu quả các QHLĐ mới phét sinh, đẳng thời thể chế hóa mục tiêu, quan điểm, định hướng xây dung dat nước của Dang và Nhà nước. Nhà nước cân sữa doi pháp luật lao động và thể chế lao đông nhằm giúp cho TTLĐ vận hành linh hoạt hơn và có khả năng “dan hồi” tốt hon trước các biển động của nên kinh tê, ví dụ như đại dich COVID-19 thời gian qua. Dé đáp ứng thực tế nay, BLLĐ 2019 da được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2019, Bộ luật gồm 17 Chương, 220 Điều va có hiệu lực vào ngày 01/01/2021, thay thé BLLD 2012, có mở rộng thêm đối tương áp dụng là “người làm việc không có QHLD” cùng một số tiêu chuẩn riêng và một số ché định mới về giao kết HDLD.
Khoản 1 Điều 13 BLLĐ 2019 quy định: “HDLD là sự théa thuận giữa NLD và NSDLD về việc làm có trả công tién lương điều kiện lao động quyền và ngiấa vụ của mỗi bên trong QHLD. Trường hop hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thé hiện về việc làm có trả công. tiển lương và sự quan ly, diéu hành, giám sát của một bên thì được coi là HĐLĐ”. QHLD là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dung lao động, trả lương giữa NLD, NSDLD, các tổ chức đại điện của các bên, co quan nhà nude có thẩm quyền QHLĐ bao gồm QHLĐ cá nhân và QHLĐ tập thé (Khoản5 Điều3 BLLĐ 2019).
Khái niệm HĐLĐ 2019 đã chỉ ra được chủ thé, nội dung của HĐLĐ, từ đó có thé phân biệt được so với hợp đồng dân sự. Như vậy, có thể nhận thây rang, khái niêm HĐLĐ được nhiều nước trên thé giới nhìn nhận chưa hoàn toàn giống nhau, nguyên nhân do sự khác nhau về lí luận khoa học lao động, khác nhau về truyền thông pháp lí, điều kiện kinh té - xã hồi. Đôi với các nước phân chia hệ thong pháp luật thành luật công và luật tư đều xép quan hệ HĐLĐ thuộc lĩnh vực luật tư (như Đức, Phép. Hệ thống pháp luật Việt Nam tuy không phân chia theo hệ thống luật công và luật tu (ma chia theo hệ thông ngành luật) song quan hệ HĐLĐ ngày cảng được nhìn nhận theo đúng bản chat của nó.
Thực té có nhiêu cách tiép cân khác nhau, tuy nhiên, tựu chung “HDLD là kết quả của sự thôa thuận giữa NSDLD với NLD, là sự thống nhất ý: chí của các bên về nội ding của hợp đồng mà các bên muốn dat được ”. Trước khi nhận NLD vào lam việc thi NSDLD phải giao két HDLD với NLD. HĐLĐ được giao kết bởi các bên có thể là pháp nhân hoặc cá nhân, xuất hiện những cặp chủ thể tương ứng là người có quyền và người có ngiĩa vụ. Một NSDLD có thé ký HĐLĐ với nhiéu NLD và ngược lại.
Các bên trong HĐLĐ có sự thỏa thuận y chí và su thỏa thuận này phải tạo lập ruột hệ quả pháp lý. Hệ quả pháp ly được luệu là sư tạo lập, thay đổi hay châm đút một quyên.