MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trung tâm Nƣớc sạch và Vệ sinh Môi trƣờng Nông thôn tỉnh Vĩnh Long hiện có 103 Trạm cấp nƣớc tập trung phục vụ nƣớc sinh hoạt cho các bà con vùng nông thôn của cả 7 huyện thị thuộc tỉnh Vĩnh Long. Nƣớc sạch là một trong những tiêu chí quan trọng trong xây dựng Nông thôn mới tại tỉnh Vĩnh Long. Đầu tƣ xây dựng các nhà máy cấp nƣớc cho sinh hoạt nông thôn là một việc làm mang lại rất nhiều lợi ích cho xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa bàn dân cƣ.
Tuy nhiên, đầu tƣ cho cấp nƣớc nông thôn đòi hỏi phải có nguồn lực về tài chính lớn vì chi phí đầu tƣ cao và thời gian thu hồi vốn chậm hơn so với đầu tƣ vào khu vực thị trấn, thành thị. Địa phận huyện Long Hồ có 5 tổ chức cung cấp nƣớc phục vụ cho sinh hoạt đó là Công ty TNHH MTV Cấp nƣớc Vĩnh Long, Trung tâm Nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng nông thôn tỉnh Vĩnh Long, DNTN Trƣơng Vách, nhà máy nƣớc Thăng Long, DNTN Huỳnh Yên. Ngoại trừ cty cấp nƣớc và TT Nƣớc có địa bàn hoạt động rộng rãi thì 2 tổ chức còn lại phục cho một bộ phận nhỏ ngƣời dân nông thôn. Đa phần do Trung tâm Nƣớc cung cấp nƣớc cho sinh hoạt các hộ dân.
công ty Cấp nƣớc chủ yếu phục vụ tại Thị trấn Long Hồ và cụm khu công nghiệp Hòa Phú. Long Hồ là một trong tám huyện thị của tỉnh Vĩnh Long, Long Hồ có tốc độ tăng trƣởng kinh tế khá so với các huyện khác trực thuộc tỉnh. Bên cạnh đó, Long Hồ tiếp giáp với TP. Vĩnh Long nên đời sống của ngƣời dân tƣơng đối khá.
Xã Hòa Phú thuộc huyện Long Hồ có khu công nghiệp, trƣờng Đại học, trƣờng Trung cấp nghề. Do đó, đòi hỏi về nguồn nƣớc cho sinh hoạt thƣờng xuyên và đảm bảo không chỉ cho ngƣời dân địa phƣơng mà còn những ngƣời đang tạm trú để hoặc tập và làm việc. Do ngƣời dân có tâm lý muốn cái tốt nhất mà khu vực này có vị trí địa lý khá đặc biệt là giao thoa giữa 3 đơn vị cung cấp nƣớc. Vì vậy, nƣớc cung cấp phục vụ cho sinh hoạt không chỉ đơn giản là có nƣớc sử dụng và nƣớc trong mà ngƣời dân 2 đòi hỏi phải có nƣớc trong, có mùi clo, phục vụ thƣờng xuyên… Ngƣời dân tại đây muốn đƣợc phục vụ chất lƣợng nƣớc nhƣ công ty Cấp nƣớc cung cấp.
Với tình hình công ty Cấp nƣớc vừa tiến hành dự án xây dựng mở rộng hệ thống cấp nƣớc TP. Vĩnh Long vào tháng 6 năm 2013. Công trình sau khi hoàn thành và đƣa vào sử dụng sẽ cung cấp nƣớc sạch cho ngƣời dân sinh sống tại thị trấn Long Hồ, khu đô thị Phú Quới, khu dân cƣ các xã vùng ven thành phố Vĩnh Long nhƣ Lộc Hòa, Phƣớc Hậu, Tân Hạnh. Vì vậy, với việc công ty Cấp nƣớc mở rộng quy mô sẽ khiến cho Trung tâm Nƣớc mất đi những khách hàng tiềm năng sắp tới đồng thời cũng có nguy cơ mất đi những khách hiện tại nếu phục vụ họ không tốt.
Vậy Trung tâm Nƣớc cần phải làm gì để giữ vững những khách hàng đang có và tìm kiếm thêm những khách hàng mới? Từ những yếu tố trên đã thôi thúc bản thân thực hiện đề tài “Giải pháp mở rộng thị phần cung cấp nước sạch của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường nông thôn tại huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long”. Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu tổng quát Xác định thị phần cung cấp nƣớc sạch của Trung tâm Nƣớc tại huyện Long Hồ từ đó đề xuất các giải pháp giúp Trung tâm Nƣớc mở rộng thị phần cung cấp nƣớc sạch tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.2 Mục tiêu cụ thể Đề tài này nhằm giải quyết ba mục tiêu cụ thể sau: - Phân tích, xác định thị phần cung cấp nƣớc sạch của Trung tâm Nƣớc tại huyện Long Hồ; - Tập trung phân tích điểm mạnh, điểm yếu 4P hiện nay của Trung tâm Nƣớc so với đối thủ cạnh tranh tại thị trƣờng huyện Long Hồ; - Đề xuất các giải pháp nhằm giúp Trung tâm Nƣớc mở rộng thị phần cung cấp nƣớc sạch tại huyện Long Hồ. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu chính trong đề tài này là thị phần và mở rộng thị phần cung cấp nƣớc sạch tại Trung tâm Nƣớc sạch và Vệ sinh Môi trƣờng nông thôn.2 Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: huyện Long Hồ có 14 xã và 01 Thị trấn phân bổ trên diện tích khá rộng do đó đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những ngƣời dân sinh sống trên địa bàn 03 xã là Lộc Hòa, Hòa Phú và Phú Quới thuộc Long Hồ tỉnh Vĩnh Long. - Phạm vi thời gian: Đề tài đƣợc thực hiện từ tháng 4/2015 đến tháng 12/2015.
Số liệu đƣợc lấy trong vòng 03 năm 2012 – 2014. Phƣơng pháp nghiên cứu 4.1 Phương pháp thu thập số liệu - Số liệu thứ cấp: đƣợc thu thập từ các báo cáo tình hình hoạt động 5 năm từ 2010 – 2014 và 6 tháng đầu năm 2015 của các tổ chức cung cấp nƣớc sạch tại huyện Long Hồ nhƣ Trung tâm Nƣớc, công ty Cấp nƣớc, DNTN Trƣơng Vách, DNTN Huỳnh Yên, các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long và huyện Long Hồ, các bài báo, tin tức. - Số liệu sơ cấp: thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi từ hai nhóm đối tƣợng sau: Nhóm 1: số liệu sơ cấp đƣợc thu thập theo phƣơng pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng thông qua việc phỏng vấn trực tiếp ngƣời dân trên địa bàn 03 xã Lộc Hòa, Hòa Phú và Phú Quới. Đặc điểm mẫu: phỏng vấn hộ dân tất cả các hộ dân sinh sống tại khu vực nghiên cứu bào gồm những hộ đang sử dụng nƣớc từ các tổ chức cung cấp nƣớc và những hộ dân hiện sử dụng nƣớc sạch.
Hộ dân bao gồm những khách hàng sử dụng nƣớc cho sinh hoạt hằng ngày, hộ kinh doanh, chủ nhà trọ, cơ quan, công ty trên địa bàn 03 xã. Mỗi một hộ, công ty, cơ quan, nhà trọ chỉ phỏng vấn một cá nhân đại 4 diện với một bản câu hỏi. Những đối tƣợng không phỏng vấn là các cá nhân tạm trú để làm việc và học tập tại địa phƣơng. Phƣơng pháp tiếp cận: phỏng vấn cá nhân từng hộ gia đình bằng bản câu hỏi đã soạn trƣớc.
Phƣơng pháp chọn mẫu: sử dụng phƣơng pháp ngẫu nhiên phân tầng. Ƣu điểm của phƣơng pháp này là chính xác dễ tiếp cận, có thể chia thành nhiều tầng có liên quan, chi phí tƣơng đối thấp và mẫu sẽ đại diện hơn. Nhƣợc điểm cần phải nhận biết và có thể dễ dàng phân biệt các tầng có ý nghĩa trong khung mẫu. Ngoài ra, giai đoạn bổ sung trong thủ tục lấy mẫu có nghĩa rằng việc giải thích sẽ mất nhiều thời gian, tốn kém hơn và khó khăn hơn so với kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên đơn hay hệ thống.
Do trong một hộ gia đình sẽ có nhiều ngƣời cùng chung sống, sinh hoạt và sử dụng nƣớc sẽ có những cảm nhận khác nhau về chất lƣợng nƣớc đang sử dụng và mức độ nhận thức/nhu cầu sử dụng nƣớc sạch. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các cá nhân trong cùng một hộ gia đình sẽ không khác nhau quá xa. Do đó, để hạn chế sự trùng lắp ý kiến của các thành viên trong cùng một gia đình mà không bao quát đƣợc tổng thể thì bài đề tài này chọn tổng thể có đơn vị tính là hộ dân. Cỡ mẫu dùng cho nghiên cứu là 160 quan sát đƣợc phân bố theo bảng 1 nhƣ sau: Bảng 1: Bảng phân phối mẫu điều tra Hộ dân Số hộ điều tra TT Tên xã Tổng số Tỷ lệ % Tổng số Tỷ lệ % 1 Phú Quới 2.266 100 160 100 Nguồn: tác giả tự tính toán.
Tác giả tiến hành phỏng vấn khách hàng tại các xã với số lƣợng quan sát nhƣ bảng 1. Tại các xã, tác giả phỏng vấn tiến hành phỏng vấn tại tất cả các ấp thuộc xã, 5 các hộ dân sử dụng nƣớc từ các tổ chức cung cấp nƣớc, không phân biệt khách hàng của tổ chức nào. Sau khi thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi ta tiến hành xử lý, sắp xếp lại dữ liệu, tiến hành phân tích và đƣa ra những lý giải về dữ liệu nhận đƣợc. Nhóm 2: phỏng vấn sâu các chuyên gia, dự kiến phỏng vấn 10 chuyên gia là cán bộ quản lý, cán bộ chuyên về quản lý chất lƣợng nƣớc, công nghệ nhà máy.
Từ kết quả thu thập đƣợc để thực hiện ma trận xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ - ma trận SWOT.2 Phương pháp phân tích Phƣơng pháp phân tích đối với mục tiêu 1: tác giả sử dụng phƣơng pháp thống kê để tính thị phần của Trung tâm Nƣớc qua các năm Phƣơng pháp phân tích đối với mục tiêu 2: tác giả thực hiện thông qua hai giai đoạn chính là: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lƣợng. - Nghiên cứu định lƣợng: đƣợc sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu bằng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp khách hàng, phỏng vấn các chuyên gia thông qua bảng câu hỏi chi tiết. Dữ liệu sau khi thu thập sẽ đƣợc xử lý bằng phƣơng pháp thống kê. Từ đó các thông tin này sẽ dùng làm cơ sở để đánh các chỉ tiêu đánh giá 4P hiện nay của Trung tâm Nƣớc.
- Nghiên cứu định tính: Bảng câu hỏi dành cho khách hàng: đƣợc sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu sơ bộ đƣa ra mô hình các yếu tố ảnh hƣởng đến nhu cầu sử dụng nƣớc và các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của hộ dân khi sử dụng nƣớc do các tổ chức cung cấp nƣớc cung cấp. Thông qua thảo luận với cán bộ Trung tâm Nƣớc, nhân viên tại nhà máy và một số khách hàng hiện đang sử dụng nƣớc để xây dựng, bổ sung và hoàn thiện bảng câu hỏi. Bảng câu hỏi dành cho chuyên gia đƣợc thực hiện qua các bƣớc sau: + Bƣớc 1: Chọn 2 nhóm chuyên gia. + Bƣớc 2: Xây dựng các bảng câu hỏi điều tra lần đầu gửi đến các chuyên gia.
6 + Bƣớc 3: Phân tích phiếu trả lời của các chuyên gia, tổng hợp và viết lại bảng câu hỏi. + Bƣớc 4: Soạn thảo lại bảng câu hỏi lần hai và tiếp tục gửi đến các chuyên gia. + Bƣớc 5: Thu thập, phân tích các phiếu trả lời lần thứ hai. + Bƣớc 6: Tiếp tục viết lại bảng câu hỏi, gửi đi và thu thập, phân tích kết quả điều tra.