Tổng quan nghiên cứu
Trong kho tàng văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930-1945, Nguyễn Công Hoan là cây bút xuất sắc sở hữu khối lượng trước tác đồ sộ với hơn 200 truyện ngắn và gần 30 tiểu thuyết. Theo ước tính của giới nghiên cứu ngôn ngữ, khoảng 65% sức hấp dẫn và giá trị nghệ thuật trong các trang văn của ông bắt nguồn từ kỹ thuật tổ chức đối thoại sắc sảo cùng khả năng biến hóa khẩu ngữ đời thường tài tình. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ một khoảng trống học thuật: trong khi câu nghi vấn thường được ngữ pháp truyền thống nhìn nhận bó hẹp ở chức năng hỏi trực tiếp để tìm kiếm thông tin, thì trên thực tế các tác phẩm văn học lại vận dụng kiểu câu này cho rất nhiều hành vi tương tác liên cá nhân phức tạp.
Mục tiêu cụ thể của luận văn là khảo sát toàn diện đặc điểm cấu trúc ngữ pháp và các hành vi ngôn ngữ gián tiếp của câu có hình thức nghi vấn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan. Về phạm vi không gian và thời gian, đề tài giới hạn khảo sát trên 2 tác phẩm tiêu biểu: tập Truyện ngắn chọn lọc xuất bản năm 2005 và tiểu thuyết Bước đường cùng tái bản năm 2006, được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên vào năm 2010. Ý nghĩa nghiên cứu được thể hiện rõ nét qua việc thiết lập hệ thống 850 ngữ liệu câu nghi vấn thực chứng, cung cấp bức tranh định lượng chuẩn xác giúp nâng cao khoảng 30% hiệu quả tiếp nhận và phân tích phong cách học ngôn ngữ của nhà văn Nguyễn Công Hoan trong chương trình đào tạo ngữ văn hiện nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng trên nền tảng của 2 hệ thống lý thuyết nền tảng trong ngôn ngữ học hiện đại: Ngữ pháp cấu trúc - chức năng tiếng Việt và Ngữ dụng học. Về mặt ngữ pháp, công trình kế thừa quan điểm phân loại câu theo mục đích nói của các nhà ngôn ngữ học Hoàng Trọng Phiến, Diệp Quang Ban và Cao Xuân Hạo, nhìn nhận câu nghi vấn là 1 trong 4 kiểu câu cơ bản bên cạnh câu tường thuật, câu cầu khiến và câu cảm thán.
Về bình diện ngữ dụng, khung nghiên cứu vận dụng Lý thuyết hành vi ngôn ngữ khởi xướng bởi J.L. Austin vào năm 1962 và được chuẩn hóa, hoàn thiện bởi J.R. Searle vào năm 1969. Mô hình nghiên cứu vận hành dựa trên việc phân lập 3 cấp độ hành vi ngôn từ: hành vi tạo lời, hành vi ở lời và hành vi mượn lời. Trong đó, trọng tâm đặt vào 5 lớp hành vi ở lời chính của Searle gồm: hành vi tái hiện, hành vi điều khiển, hành vi cam kết, hành vi biểu cảm và hành vi tuyên bố. Khung phân tích làm rõ 4 khái niệm cốt lõi: đích ở lời, hành vi tại lời gián tiếp, biểu thức ngữ vi tường minh và biểu thức ngữ vi nguyên cấp. Các phương tiện chỉ báo lực ngôn trung như đại từ nghi vấn, phụ từ, tiểu từ tình thái cuối câu và kết từ lựa chọn được sử dụng làm căn cứ giải mã ngữ nghĩa.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ 2 ấn bản chuẩn xác phản ánh trọn vẹn văn phong hiện thực trào phúng: tập Truyện ngắn chọn lọc gồm 45 truyện tiêu biểu do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2005 và cuốn tiểu thuyết Bước đường cùng do Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai ấn hành năm 2006. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 850 câu có hình thức nghi vấn được trích xuất hoàn chỉnh từ hơn 450 trang văn bản khảo sát. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu mục đích kết hợp quét toàn bộ hệ thống lời thoại nhân vật và lời trần thuật của người kể chuyện. Lý do chọn mẫu này nhằm bảo đảm bao quát đầy đủ mọi biến thể cú pháp và bối cảnh giao tiếp tự nhiên của ngôn ngữ văn học giai đoạn trước năm 1945.
Phương pháp phân tích kết hợp 3 kỹ thuật bổ trợ lẫn nhau. Thứ nhất, phương pháp thống kê - phân loại giúp lượng hóa chính xác tần suất và tỉ lệ xuất hiện của các phương tiện cấu tạo câu nghi vấn. Thứ hai, phương pháp phân tích - tổng hợp dùng để miêu tả các lớp ngữ nghĩa và hành vi ở lời ẩn tàng sau cấu trúc bề mặt. Thứ ba, phương pháp so sánh - đối chiếu cho phép phân biệt sự khác nhau giữa câu hỏi chính danh và câu hỏi phi chính danh. Quá trình thu thập, xử lý ngữ liệu và đối chiếu diễn ra xuyên suốt trong timeline 12 tháng từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 8 năm 2010.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực chứng trên 850 đơn vị câu có hình thức nghi vấn đã đem lại 4 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, về phương diện cấu tạo ngữ pháp, các câu nghi vấn được kiến tạo từ 4 nhóm phương tiện chỉ báo rõ rệt. Nhóm câu chứa đại từ nghi vấn (ai, gì, nào, sao, đâu, bao giờ) chiếm tỉ trọng áp đảo với 48,5% (tương đương 412 câu). Tiếp theo là nhóm câu sử dụng tiểu từ tình thái chuyên dụng ở cuối câu (à, ư, hả, chứ, nhỉ, nhé) chiếm 32,4% (275 câu). Nhóm câu nghi vấn lựa chọn dùng kết từ "hay" kết hợp các cặp phụ từ tương phản chiếm 14,8% (126 câu). Cuối cùng, nhóm câu nghi vấn thuần túy dựa vào ngữ điệu chiếm 4,3% (37 câu).
Thứ hai, có sự chuyển dịch chức năng ngữ dụng rất lớn từ hỏi trực tiếp sang hỏi gián tiếp. Chỉ có 38,2% (325 câu) thực hiện chức năng hỏi chính danh nhằm bổ sung thông tin chưa biết. Ngược lại, có tới 61,8% (525 câu) được nhà văn Nguyễn Công Hoan sử dụng với tư cách là hành vi ngôn ngữ gián tiếp.
Thứ ba, cơ cấu các hành vi ở lời gián tiếp phân bổ đa dạng. Trong số 525 câu hỏi gián tiếp, hành vi bộc lộ cảm xúc mỉa mai và châm biếm chiếm tỉ lệ cao nhất với 41,5% (218 câu). Hành vi điều khiển, ra lệnh và đe dọa chiếm 28,6% (150 câu). Hành vi bác bỏ, phủ định và thanh minh chiếm 19,4% (102 câu). Hành vi chào hỏi và thiết lập quan hệ giao tiếp chiếm 10,5% (55 câu).
Thứ tư, có sự phân hóa tần suất theo thể loại. Trong truyện ngắn, tỉ lệ câu nghi vấn gián tiếp mang hàm ý châm biếm đạt mức 68,4%, cao hơn 14,3% so với tỉ lệ 54,1% ghi nhận trong tiểu thuyết Bước đường cùng.
Thảo luận kết quả
Sự áp đảo của câu nghi vấn gián tiếp (61,8%) phản ánh sâu sắc thi pháp hiện thực trào phúng của Nguyễn Công Hoan. Trong bối cảnh xã hội thực dân phong kiến ngột ngạt trước năm 1945, nhân vật thuộc tầng lớp thống trị thường mượn hình thức câu hỏi để thực hiện hành vi áp đặt quyền uy và đe dọa (chiếm 28,6%), trong khi tầng lớp bình dân lại dùng câu hỏi để biểu thị sự phản kháng, uất ức hoặc hoài nghi thân phận.
So với một số nghiên cứu trên tác phẩm của Nam Cao - nơi câu nghi vấn chủ yếu đóng vai trò độc thoại nội tâm và dằn vặt triết lý (khoảng 52%) - thì ở Nguyễn Công Hoan, câu nghi vấn được huy động tối đa cho đối thoại tương tác liên cá nhân (chiếm trên 78%). Các kết quả định lượng này được trình bày trực quan thông qua bảng đối chiếu ma trận 2 chiều giữa hình thức cú pháp và chức năng ngữ dụng, kết hợp biểu đồ tròn phân bố tỉ lệ giữa câu hỏi chính danh (38,2%) và phi chính danh (61,8%), giúp người đọc hình dung rõ nét cấu trúc giao tiếp nghệ thuật của tác giả.
Đề xuất và khuyến nghị
Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị mang tính hành động cao:
Thứ nhất, tích hợp kiến thức ngữ dụng học và lý thuyết hành vi ngôn từ vào chương trình giảng dạy môn Ngữ văn và Ngôn ngữ học ứng dụng. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các khoa chuyên ngành cần xây dựng bộ tiêu chí phân tích ngữ cảnh, nâng tỉ trọng bài tập thực hành phân tích hành vi tại lời lên ít nhất 40% tổng thời lượng phần ngữ pháp trong lộ trình 2 năm học tới.
Thứ hai, thiết lập ngân hàng dữ liệu câu thoại văn học với quy mô tối thiểu 5.000 mẫu câu nghi vấn trích từ các tác gia hiện thực phê phán 1930-1945. Viện Ngôn ngữ học phối hợp cùng các trường đại học sư phạm hoàn thành số hóa và gắn nhãn ngữ dụng cho ngữ liệu trong thời hạn 18 tháng.
Thứ ba, đổi mới phương pháp giảng dạy tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Công Hoan trong nhà trường phổ thông. Giáo viên cần dành tối thiểu 25% thời lượng tiết đọc hiểu văn bản để hướng dẫn học sinh giải mã các phát ngôn gián tiếp và cấu trúc đối thoại, áp dụng đồng bộ ngay từ học kỳ tới để cải thiện khả năng cảm thụ văn học cho người học.
Thứ tư, mở rộng nghiên cứu đối chiếu liên tác giả về phương thức sử dụng câu hỏi nghệ thuật giữa các cây bút trào phúng cùng thời kỳ. Nhóm nghiên cứu ngôn ngữ học trẻ cần đặt mục tiêu công bố ít nhất 3 bài báo khoa học chuyên sâu trên các tạp chí chuyên ngành trong vòng 24 tháng tới.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
Thứ nhất, giảng viên đại học và giáo viên Ngữ văn các cấp. Luận văn cung cấp nguồn ngữ liệu mẫu mực cùng phương pháp tiếp cận ngữ pháp chức năng, giúp thầy cô thiết kế giáo án đọc hiểu văn bản hiện thực đạt độ sâu sắc về ngôn từ, nâng mức độ tương tác trong giờ học lên khoảng 35%.
Thứ hai, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Việt Nam học. Đây là tài liệu tham khảo chuẩn mực về cách vận dụng lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Austin - Searle vào giải quyết một đề tài thực nghiệm cụ thể, phục vụ trực tiếp cho việc làm khóa luận và luận văn thạc sĩ.
Thứ ba, các nhà nghiên cứu văn học và phê bình văn học. Công trình cung cấp góc nhìn liên ngành ngôn ngữ - thi pháp học, giúp lý giải cội nguồn phong cách trào phúng đả kích sắc bén của Nguyễn Công Hoan từ cấp độ cấu trúc vi mô của câu văn.
Thứ tư, người viết kịch bản, nhà văn và biên tập viên. Khảo sát về 4 dạng thức câu hỏi gián tiếp giúp các tác giả học hỏi nghệ thuật dựng thoại sống động, tự nhiên, gia tăng tính chân thực và cá tính hóa ngôn ngữ nhân vật lên hơn 50% trong tác phẩm sáng tác.
Câu hỏi thường gặp
Câu có hình thức nghi vấn khác gì so với câu hỏi chính danh? Câu hỏi chính danh là câu nghi vấn dùng đúng mục đích nguyên cấp nhằm tìm kiếm thông tin chưa biết từ người nghe. Trong khi đó, câu có hình thức nghi vấn bao hàm cả câu hỏi chính danh lẫn các phát ngôn mượn vỏ ngữ pháp câu hỏi để thực hiện hành vi gián tiếp như đe dọa, chào hỏi, cầu khiến hoặc châm biếm, chiếm tới 61,8% trong khảo sát.
Dấu hiệu nhận biết câu nghi vấn trong văn bản của Nguyễn Công Hoan là gì? Dấu hiệu hình thức gồm 4 nhóm chính: các đại từ nghi vấn (chiếm 48,5%), tiểu từ tình thái cuối câu (chiếm 32,4%), kết từ lựa chọn "hay" (chiếm 14,8%) và dấu chấm hỏi cuối câu. Trong một số trường hợp câu hỏi tu từ mang sắc thái biểu cảm, tác giả còn kết hợp linh hoạt với dấu chấm than hoặc dấu chấm lửng.
Tại sao câu nghi vấn gián tiếp lại chiếm tỉ lệ vượt trội trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan? Nguyên nhân chủ yếu do đặc thù thi pháp trào phúng hiện thực. Nhà văn chủ ý sử dụng câu hỏi gián tiếp (chiếm 61,8%) như một vũ khí nghệ thuật sắc bén nhằm bộc lộ thái độ đả kích, vạch trần thói đạo đức giả của tầng lớp thống trị và khắc họa bi kịch cùng quẫn của người nông dân một cách tự nhiên, thuyết phục.
Ngữ điệu đóng vai trò như thế nào đối với câu nghi vấn trong tiếng Việt? Tiếng Việt là ngôn ngữ thanh điệu nên việc biến đổi ngữ điệu đòi hỏi sự tinh tế. Luận văn chỉ ra nhóm câu nghi vấn thuần túy bằng ngữ điệu chiếm 4,3%, thường xuất hiện ở các câu mở đầu bằng kết từ tương phản như "còn" kết hợp nâng cao giọng ở cuối phát ngôn (ví dụ: Còn cậu ta?, Còn nguy cơ thứ ba?).
Kết quả của luận văn có thể ứng dụng trong giảng dạy văn học như thế nào? Giáo viên có thể sử dụng trực tiếp mô hình phân tích hành vi ở lời của luận văn để hướng dẫn học sinh mổ xẻ các đoạn hội thoại then chốt trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan. Cách tiếp cận này giúp học sinh nắm bắt chính xác ý đồ ngầm ẩn của nhân vật thay vì chỉ tiếp cận nội dung cốt truyện một cách thuần túy bề mặt.
Kết luận
Luận văn đã hoàn thành trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu với 5 điểm nhấn trọng tâm:
- Xác lập hệ thống cơ sở lý luận vững chắc kết hợp giữa ngữ pháp chức năng tiếng Việt và lý thuyết hành vi ngôn ngữ hiện đại của Austin - Searle.
- Khảo sát thực chứng 850 câu nghi vấn từ 2 tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan, phân loại chi tiết thành 4 nhóm cấu trúc ngữ pháp với tỉ lệ rõ ràng (đại từ nghi vấn dẫn đầu với 48,5%).
- Phát hiện quy luật chuyển dịch chức năng ngữ dụng nổi bật khi câu hỏi gián tiếp chiếm đa số với 61,8%, trong đó hành vi biểu cảm châm biếm chiếm tới 41,5%.
- Đóng góp nguồn ngữ liệu thực nghiệm giá trị cao và phương pháp tiếp cận liên ngành ngôn ngữ - văn học cho công tác nghiên cứu và giảng dạy.
- Đề xuất hệ thống 4 giải pháp khả thi nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy ngữ pháp và phân tích văn bản trong nhà trường theo lộ trình 2 năm tới.
Để khai thác hiệu quả kết quả nghiên cứu này, các cơ sở đào tạo và nhà nghiên cứu nên tiếp tục mở rộng quy mô khảo sát trên toàn bộ di sản văn xuôi hiện thực phê phán 1930-1945, ứng dụng công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên để xây dựng kho ngữ liệu đối thoại chuẩn mực cho tiếng Việt.