Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài 3.260 km với nguồn tài nguyên hải sản phong phú, tạo tiền đề cho sự phát triển sớm của nghề đóng tàu thuyền thủ công truyền thống. Tại xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, nghề đóng tàu thuyền đã có lịch sử hình thành và phát triển hơn 700 năm, trở thành trụ cột sinh kế của cộng đồng địa phương. Trong bức tranh kinh tế năm 2014, toàn xã Nghi Thiết ghi nhận tổng doanh thu đạt 127,775 tỷ đồng, trong đó hoạt động đóng tàu thuyền đóng góp tới 57 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 44,6% tổng giá trị sản xuất và góp phần đưa tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng của xã lên mức 58,87%.

Mặc dù giữ vai trò kinh tế trọng điểm, các công trình khoa học ven biển trước đây thường tập trung chủ yếu vào ngư dân khai thác hải sản, xem thợ đóng tàu chỉ là nhóm kinh tế phụ trợ. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ diện mạo kinh tế, văn hóa và xã hội của cộng đồng thợ thủ công đóng tàu ven biển, qua đó xác định vị thế độc lập của một nhóm nghề nghiệp đặc thù vừa mang bản sắc thợ thủ công vừa thích ứng sâu sắc với môi trường sinh thái biển.

Mục tiêu cụ thể của công trình gồm ba nội dung: thứ nhất, khảo sát thực trạng đời sống kinh tế và tổ chức sản xuất tại 13 xưởng đóng tàu tư nhân; thứ hai, phân tích cơ chế thích ứng sinh thái nhân văn và mạng lưới xã hội của cư dân; thứ ba, nhận diện những biến đổi kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới. Phạm vi không gian nghiên cứu được xác định tại xã Nghi Thiết với tổng diện tích tự nhiên 612,73 ha gồm 1.603 hộ dân, và phạm vi thời gian tập trung từ năm 1991 (thời điểm giải thể hợp tác xã bao cấp) đến giai đoạn 2014–2015. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài được khẳng định qua việc cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, hỗ trợ địa phương nâng cao mức thu nhập bình quân đầu người từ 19 triệu đồng/năm (năm 2013) và giải quyết việc làm cho hơn 600 lao động.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng kết hợp hai hệ thống lý thuyết cốt lõi trong nhân học và xã hội học phát triển để giải mã đời sống của cư dân đóng tàu thuyền:

Thứ nhất là Khung sinh kế bền vững vùng ven biển (Sustainable Coastal Livelihoods Framework) do tổ chức IMM phát triển năm 2004 trên nền tảng khung DFID (2001) và nghiên cứu của Scoones (1998). Khung phân tích này tiếp cận cộng đồng thông qua việc đánh giá khả năng sở hữu và chuyển hóa 5 nguồn vốn sinh kế: vốn con người (kỹ năng thợ mộc, kinh nghiệm đóng tàu tích lũy qua nhiều thế hệ), vốn tự nhiên (nguồn gỗ quý, địa hình luồng lạch Cửa Lò), vốn tài chính (tiền đặt cọc của ngư dân, vốn vay tín dụng), vốn vật chất (nhà xưởng, máy cưa vòng, máy tời, máy kéo) và vốn xã hội (quan hệ dòng họ, phường thợ, chữ tín với chủ tàu).

Thứ hai là Lý thuyết Sinh thái học văn hóa (Cultural Ecology) khởi xướng bởi Julian Steward (1902–1972). Lý thuyết này luận giải quá trình thích ứng của con người với môi trường tự nhiên và xã hội thông qua văn hóa, coi cư dân địa phương là chủ nhân văn hóa (culture bearer). Các khái niệm then chốt được vận dụng gồm: lõi văn hóa sinh thái biển, sự thích nghi sinh kế, biến đổi văn hóa làng nghề và mạng lưới an sinh xã hội phi chính thức. Mô hình nghiên cứu tổng thể liên kết chặt chẽ giữa môi trường tự nhiên vùng bán đảo ven biển, thể chế kinh tế thị trường và các thiết chế văn hóa gia đình - dòng họ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học chuyên sâu trong thời gian 3 tháng thực địa liên tục (từ tháng 1/2015 đến tháng 4/2015, bao quát thời điểm chuyển giao giữa năm Giáp Ngọ và năm Ất Mùi - giai đoạn các hoạt động kinh tế và nghi lễ tâm linh diễn ra sôi động nhất).

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu được thiết kế chuẩn mực theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích:

  • Quan sát tham dự: Tiến hành tại 13 xưởng đóng tàu tư nhân trên địa bàn, cùng sinh hoạt và làm việc với các gia đình chủ xưởng để theo dõi quy trình kỹ thuật và quan hệ ứng xử.
  • Phỏng vấn sâu phi cấu trúc: Thực hiện với 20 người là chủ xưởng và người quản lý điều hành tại 13 cơ sở đóng tàu.
  • Phỏng vấn bán cấu trúc: Khảo sát 30 thợ thủ công đại diện cho các bậc thợ và 20 khách hàng là ngư dân đặt tàu đến từ các tỉnh như Kiên Giang, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Hải Phòng, Thanh Hóa và Nghệ An.
  • Thảo luận nhóm tập trung (FGD): Tổ chức 6 cuộc thảo luận nhóm phân theo 3 nhóm tuổi (dưới 35 tuổi, từ 35 đến 50 tuổi, trên 50 tuổi) và 2 nhóm giới tính nam - nữ.

Lý do lựa chọn phương pháp định tính kết hợp khảo sát thống kê mô tả là nhằm thấu triệt cấu trúc đời sống nội tâm, tri thức bản địa và các mối quan hệ lao động phức tạp mà các phương pháp định lượng đơn thuần không thể bộc lộ hết.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hoạt động đóng tàu thuyền tại Nghi Thiết chuyển đổi thành công từ mô hình Hợp tác xã tàu thuyền Trung Kiên (giải thể năm 1990) sang hệ thống 13 xưởng tư nhân hộ gia đình. Năm 2014, địa phương đã đóng mới và bàn giao thành công 83 con tàu công suất lớn, tăng 2 chiếc so với năm 2013, mang lại nguồn doanh thu 57 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên và thời vụ cho 600 lao động.

Thứ hai, lực lượng lao động tại 13 xưởng ghi nhận tổng cộng 391 nhân sự trực tiếp (352 nam và 39 nữ), nhưng đang đối mặt với sự già hóa nghiêm trọng. Cơ cấu độ tuổi thợ thuyền phân bố mất cân đối: nhóm thợ trẻ dưới 31 tuổi chỉ chiếm 5,1% (20 người); nhóm lao động trụ cột từ 31 đến 50 tuổi chiếm tỷ lệ áp đảo 68,7% (269 người); nhóm thợ cao tuổi trên 51 tuổi chiếm 26,2% (102 người). Có tới 19 trên tổng số 20 lao động trẻ được phỏng vấn từng rời quê hương đi làm ăn xa hoặc xuất khẩu lao động.

Thứ ba, sự phân hóa thu nhập và bất cập trong quan hệ lao động thể hiện rõ rệt. Thợ cả có mức thu nhập từ 350.000 đến 450.000 đồng/ngày (tương đương 10–15 triệu đồng/tháng), trong khi thợ phụ và lao động nữ làm công việc xẻ gỗ, dọn dẹp nhận mức 180.000 đến 220.000 đồng/ngày. Đáng chú ý, 100% người lao động không có hợp đồng lao động bằng văn bản và không được tham gia các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hay bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp.

Thứ tư, điều kiện mặt bằng và nguồn lực tài chính bị hạn chế nghiêm trọng. Diện tích bình quân mỗi xưởng chỉ đạt khoảng 1.000 m2 (xưởng lớn nhất 1.500 m2, xưởng nhỏ nhất 250 m2), thấp hơn nhiều so với chuẩn mặt bằng tối thiểu 3.000–4.000 m2. Trong khi chi phí mua một lô gỗ nguyên liệu lên đến 5 tỷ đồng và giá trị một con tàu dao động từ 3 đến 5 tỷ đồng, hạn mức vay vốn ngân hàng thương mại có thế chấp tài sản chỉ đạt vài trăm triệu đồng mỗi hộ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng thiếu hụt thợ trẻ kế cận bắt nguồn từ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thị trường, khi lao động phổ thông có xu hướng lựa chọn công việc nhàn hạ hơn tại các khu đô thị lớn thay vì nghề mộc tàu nặng nhọc và chịu nhiều rủi ro thời tiết. Khi so sánh với các công trình nghiên cứu ngư dân của Nguyễn Duy Thiệu (2002) hay nghiên cứu cư dân mặt nước của Lê Duy Đại (2004), cộng đồng đóng tàu Nghi Thiết có sự khác biệt rõ rệt: họ là cư dân cư trú ổn định trên bờ, sở hữu thiết chế gia đình bền vững giúp con cái ít sa vào tệ nạn xã hội, nhưng lại mang ý thức bảo tồn làng nghề yếu hơn do tính chất phi tập trung của các xưởng tư nhân.

Hơn nữa, chính sách tín dụng từ Nghị định 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ tập trung ưu tiên đóng tàu vỏ thép đã gián tiếp làm sụt giảm lượng đơn hàng đóng tàu vỏ gỗ truyền thống, khiến nhiều xưởng sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài hơn một tháng vẫn chưa có đơn đặt hàng mới. Về mặt biểu diễn dữ liệu, tương quan giữa các nhóm tuổi thợ thuyền và giá trị sản lượng có thể được trực quan hóa tối ưu qua biểu đồ cơ cấu lao động hình tròn và bảng đối chiếu 5 nguồn vốn sinh kế, làm nổi bật điểm nghẽn về vốn vật chất và an sinh xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch không gian cụm công nghiệp làng nghề tập trung: Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An và Ủy ban nhân dân huyện Nghi Lộc phê duyệt đề án di dời, mở rộng 13 xưởng đóng tàu ra khỏi khu dân cư sang bờ nam sông Cửa Lò, nâng diện tích mặt bằng sản xuất lên tối thiểu 3.500 m2/xưởng, hoàn thành trước quý IV năm 2018.

Thứ hai, nạo vét và nâng cấp hạ tầng luồng lạch giao thông thủy: Ủy ban nhân dân huyện Nghi Lộc cần cấp ngân sách định kỳ khoảng 1,5 đến 2 tỷ đồng mỗi năm để duy tu, nạo vét luồng lạch cửa sông Cấm và nâng cấp tuyến đường giao thông liên xã dài 4 km phục vụ vận chuyển nguyên liệu gỗ khổ lớn trước năm 2017.

Thứ ba, chuẩn hóa thể chế lao động và bảo trợ an sinh: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nghi Lộc phối hợp với Liên đoàn Lao động hướng dẫn 13 chủ xưởng ký kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc không xác định thời hạn, phấn đấu đạt mục tiêu 100% thợ thường xuyên được đóng bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm xã hội tự nguyện trong giai đoạn 2016–2018.

Thứ tư, mở rộng cơ chế tín dụng ưu đãi cho chuỗi giá trị tàu vỏ gỗ: Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Nghệ An chỉ đạo các ngân hàng thương mại nâng hạn mức cho vay tín chấp theo chuỗi giá trị đơn hàng từ vài trăm triệu đồng lên 2 đến 3 tỷ đồng/xưởng, đồng thời kiến nghị sửa đổi cơ chế hỗ trợ đóng mới tàu cá vỏ gỗ có công suất lớn.

Thứ năm, thành lập Hiệp hội Làng nghề đóng tàu Trung Kiên: Sở Công Thương Nghệ An hỗ trợ thành lập tổ chức nghề nghiệp nhằm liên kết tìm kiếm nguồn gỗ nhập khẩu hợp pháp từ Lào, thống nhất bảng giá gia công và mở lớp truyền dạy kỹ thuật đóng tàu truyền thống cho 50 lao động trẻ mỗi năm, hoàn thành trong giai đoạn 2016–2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm nghiên cứu học thuật Nhân học, Xã hội học và Văn hóa học: Sử dụng nguồn tư liệu điền dã nguyên bản để phân tích biến đổi văn hóa làng nghề ven biển miền Trung và vận dụng khung sinh thái nhân văn vào các nghiên cứu thực chứng.

Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Vận dụng số liệu khảo sát thực tế tại Nghệ An để rà soát, điều chỉnh chính sách phát triển thủy hải sản, quy hoạch mặt bằng làng nghề tiểu thủ công nghiệp và hoàn thiện chính sách hỗ trợ tín dụng nghề cá.

Chủ cơ sở sản xuất và hiệp hội doanh nghiệp đóng tàu: Tham khảo các phân tích về mô hình quản trị xưởng hộ gia đình, tối ưu hóa dòng tiền nguyên liệu gỗ và thiết lập mối quan hệ lao động gắn kết, bền vững nhằm phòng ngừa rủi ro pháp lý.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Xã hội: Sử dụng công trình như một bài mẫu điển hình về thiết kế nghiên cứu điền dã kết hợp phương pháp phỏng vấn sâu, quan sát tham dự và ứng dụng khung sinh kế bền vững DFID/IMM.

Câu hỏi thường gặp

Nghề đóng tàu thuyền tại xã Nghi Thiết có lịch sử hình thành và đóng góp lịch sử như thế nào? Nghề đóng tàu Hoàng Lao (xã Nghi Thiết) có lịch sử hơn 700 năm từ thời Lý - Trần do Thái tổ Nguyễn Biện Thông và danh nhân Nguyễn Chí Đức gầy dựng. Trong kháng chiến chống Mỹ, Hợp tác xã tàu thuyền Trung Kiên với 500 thợ giỏi đã vinh dự đóng các con tàu không số phục vụ tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển, đóng góp to lớn cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Thực trạng cơ cấu tuổi của lao động đóng tàu tại địa phương hiện nay ra sao? Cơ cấu 391 thợ thuyền đang bị già hóa rõ nét: nhóm tuổi 31–50 chiếm 68,7%, nhóm trên 51 tuổi chiếm 26,2%, trong khi thợ trẻ dưới 31 tuổi chỉ chiếm vỏn vẹn 5,1%. Xu hướng thanh niên đi làm ăn xa hoặc xuất khẩu lao động (19/20 người được hỏi) đang tạo ra nguy cơ đứt gãy thế hệ thợ lành nghề kế cận.

Mô hình tổ chức quản lý tại 13 xưởng đóng tàu tư nhân có đặc thù gì? Các cơ sở đều vận hành theo mô hình hộ gia đình. Người chồng làm chủ xưởng quyết định toàn bộ hoạt động kỹ thuật, tìm kiếm khách hàng và thu mua nguyên liệu; người vợ đảm nhận công tác kế toán tài chính. Quản lý thi công trực tiếp dựa vào thợ cả giàu kinh nghiệm chỉ đạo kỹ thuật cho 10 đến 70 thợ tùy quy mô đơn hàng.

Những rào cản lớn nhất về mặt bằng và vốn đầu tư của các xưởng là gì? Mặt bằng các xưởng quá chật hẹp, trung bình chỉ đạt 1.000 m2 nằm xen kẽ trong khu dân cư, không đáp ứng chuẩn 3.000–4.000 m2. Về tài chính, mỗi xưởng cần hàng chục tỷ đồng để nhập gỗ và trang bị máy móc, nhưng thế chấp quyền sử dụng đất chỉ vay được vài trăm triệu đồng, buộc chủ xưởng phải huy động vốn tín dụng ngoài với chi phí cao.

Chính sách phát triển tàu vỏ thép tác động như thế nào đến các xưởng đóng tàu vỏ gỗ? Nghị định 67/2014/NĐ-CP ưu tiên vốn vay cho tàu vỏ thép khiến ngư dân chuyển dịch nhu cầu, dẫn đến các đơn đặt hàng đóng mới tàu vỏ gỗ sụt giảm đáng kể. Các xưởng tại Nghi Thiết gặp khó khăn trong việc xoay vòng vốn dự trữ gỗ nguyên liệu (trị giá khoảng 5 tỷ đồng/lô), khiến nhiều cơ sở đình trệ sản xuất sau mùa Tết.

Kết luận

  • Khẳng định giá trị kinh tế cốt lõi của nghề đóng tàu truyền thống 700 năm tại Nghi Thiết, đóng góp 57 tỷ đồng (44,6% tổng doanh thu toàn xã) và giải quyết việc làm cho gần 400 thợ trực tiếp năm 2014.
  • Ứng dụng thành công Khung sinh kế bền vững (DFID/IMM) và Lý thuyết Sinh thái học văn hóa của Julian Steward để chứng minh vị thế cộng đồng nghề nghiệp ven biển độc lập, giàu bản sắc.
  • Nhận diện toàn diện các điểm nghẽn cấp bách: sự già hóa lực lượng lao động (thợ trẻ chỉ chiếm 5,1%), thiếu hụt mặt bằng sản xuất (trung bình 1.000 m2/xưởng) và tính phi chính thức của 100% quan hệ lao động.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp liên ngành đồng bộ gồm quy hoạch cụm công nghiệp bên sông Cửa Lò, nạo vét luồng lạch, mở rộng gói tín dụng 2–3 tỷ đồng và thành lập Hiệp hội Làng nghề giai đoạn 2016–2020.
  • Cung cấp nguồn tư liệu dân tộc học giá trị cao cho ngành Nhân học Việt Nam; các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý được khuyến khích tiếp cận toàn văn luận văn để triển khai ứng dụng các chính sách bảo tồn làng nghề biển hiệu quả.