Luận văn thạc sĩ về cư dân đóng tàu thuyền ở xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu về cư dân đóng tàu thuyền tại xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, khám phá văn hóa và kinh tế địa phương.

Chuyên ngành

Nhân Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2016

123
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Tiếp cận lý thuyết

1.3. Phương pháp nghiên cứu

1.4. Khái quát địa bàn nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT

2.1. Sự ra đời của nghề đóng tàu thuyền

2.2. Vai trò của nghề đóng tàu trong đời sống kinh tế Nghi Thiết

2.3. Hoạt động đóng tàu thuyền ở xã Nghi Thiết

2.4. Biến đổi của nghề đóng tàu và bảo tồn, phát huy nghề trong điều kiện hiện nay

3. CHƯƠNG 3: ĐỜI SỐNG TINH THẦN VÀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT

3.1. Nghi lễ liên quan đến nghề đóng tàu

3.2. Đời sống xã hội của cư dân đóng tàu, thuyền

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về cư dân đóng tàu thuyền tại xã Nghi Thiết

Cư dân đóng tàu thuyền tại xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, là một cộng đồng có lịch sử lâu đời và đặc trưng văn hóa riêng biệt. Nghề đóng tàu không chỉ là một hoạt động kinh tế mà còn là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa của cư dân nơi đây. Nghi Thiết nằm ven biển, nơi có nguồn tài nguyên biển phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho nghề đóng tàu phát triển. Nghiên cứu này sẽ làm rõ những đặc điểm nổi bật của cư dân đóng tàu thuyền tại đây.

1.1. Đặc điểm địa lý và văn hóa của xã Nghi Thiết

Xã Nghi Thiết có vị trí địa lý thuận lợi, nằm gần bờ biển, tạo điều kiện cho việc phát triển nghề đóng tàu. Văn hóa của cư dân nơi đây mang đậm bản sắc biển, với nhiều phong tục tập quán liên quan đến nghề biển.

1.2. Lịch sử hình thành nghề đóng tàu tại Nghi Thiết

Nghề đóng tàu tại Nghi Thiết đã có từ hàng trăm năm trước, gắn liền với sự phát triển của cộng đồng cư dân ven biển. Nghề này không chỉ đáp ứng nhu cầu vận tải mà còn phục vụ cho hoạt động đánh bắt hải sản.

II. Vấn đề và thách thức của cư dân đóng tàu thuyền

Cư dân đóng tàu thuyền tại xã Nghi Thiết đang đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh hiện đại. Biến đổi khí hậu, sự cạnh tranh từ các phương tiện hiện đại và chính sách phát triển kinh tế biển là những vấn đề cần được giải quyết. Nghiên cứu này sẽ chỉ ra những khó khăn mà cư dân gặp phải và cách họ thích nghi với những thay đổi này.

2.1. Biến đổi khí hậu và tác động đến nghề đóng tàu

Biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên biển, làm giảm sản lượng hải sản và ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng tàu thuyền. Cư dân cần tìm ra các giải pháp để thích ứng với tình hình này.

2.2. Sự cạnh tranh từ các phương tiện hiện đại

Sự phát triển của các phương tiện vận tải hiện đại đã tạo ra áp lực lớn đối với nghề đóng tàu truyền thống. Cư dân cần nâng cao chất lượng sản phẩm và cải tiến kỹ thuật để cạnh tranh.

III. Phương pháp nghiên cứu về cư dân đóng tàu thuyền

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính và định lượng để thu thập dữ liệu về đời sống của cư dân đóng tàu thuyền. Các cuộc phỏng vấn sâu và khảo sát sẽ được thực hiện để hiểu rõ hơn về thực trạng và nhu cầu của cộng đồng.

3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu sẽ được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp với cư dân, tham gia vào các hoạt động sản xuất và sinh hoạt văn hóa của họ.

3.2. Phân tích dữ liệu và kết quả

Dữ liệu thu thập sẽ được phân tích để đưa ra những kết luận về tình hình hiện tại của cư dân đóng tàu thuyền tại Nghi Thiết.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu cư dân đóng tàu thuyền

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho các chính sách phát triển kinh tế biển tại Nghệ An. Việc hiểu rõ nhu cầu và nguyện vọng của cư dân sẽ giúp chính quyền địa phương đưa ra các giải pháp hỗ trợ hiệu quả.

4.1. Đề xuất chính sách hỗ trợ cư dân

Nghiên cứu sẽ đề xuất các chính sách hỗ trợ cho cư dân đóng tàu, bao gồm đào tạo nghề, hỗ trợ tài chính và phát triển cơ sở hạ tầng.

4.2. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nghề đóng tàu

Cần có các biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của nghề đóng tàu, nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa của cư dân Nghi Thiết.

V. Kết luận và tương lai của cư dân đóng tàu thuyền

Nghiên cứu về cư dân đóng tàu thuyền tại xã Nghi Thiết không chỉ giúp hiểu rõ hơn về đời sống của họ mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội trong tương lai. Cần có sự quan tâm từ chính quyền và cộng đồng để phát triển bền vững nghề này.

5.1. Tương lai của nghề đóng tàu tại Nghi Thiết

Nghề đóng tàu có thể phát triển mạnh mẽ nếu được hỗ trợ đúng mức từ chính quyền và cộng đồng. Cần có các chương trình đào tạo và phát triển kỹ thuật.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong việc phát triển nghề

Cộng đồng cư dân đóng tàu cần đoàn kết và hợp tác để vượt qua khó khăn, bảo tồn nghề truyền thống và phát triển kinh tế địa phương.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh cư dân đóng tàu thuyền ở xã nghi thiết huyện nghi lộc tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phƣơng pháp và địa bàn nghiên cứu. Đời sống kinh tế của cƣ dân đóng tàu, thuyền ở xã Nghi Thiết. Đời sống tinh thần và các vấn đề xã hội của cƣ dân đóng tàu, thuyền ở xã Nghi Thiết 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƢƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.

Tổng quan tình hình nghiên cứu Cƣ dân ven biển đã sớm đƣợc các nhà khoa học quan tâm tới, nhiều công trình nghiên cứu quy mô đã đƣợc thực hiện. Đầu tiên phải kể đến cuốn sách của tác giả Nguyễn Duy Thiệu “Cộng đồng ngư dân Việt Nam” (Fishers communities in Vietnam), đây là cuốn sách nghiên cứu một cách tổng thể nhất về cộng đồng ngƣ dân ở nƣớc ta. Cuốn sách giới thiệu những nét khái quát của cộng đồng ngƣ dân Việt Nam bao gồm quá trình hình thành các nhóm ngƣ dân và sự hình thành cộng đồng ngƣ dân ở Việt Nam, cơ cấu tổ chức xã hội của các cộng đồng nghề cá ở Việt Nam, đồng thời tác giả so sánh với các làng xã nông nghiệp cổ truyền, ngoài ra tác giả còn đề cập đến đời sống tín ngƣỡng trong cộng đồng ngƣ dân Việt Nam. Cuốn sách là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về địa bàn dân cƣ vùng biển1.

Cƣ dân đóng tàu thuyền đƣợc đề cập trong cuốn sách với vai trò là những ngƣời tham gia hoạt động kinh tế phụ2, không có các giá trị văn hóa đặc sắc [36]. Cuốn sách “Cư dân mặt nước ở sông Hương và đầm phá Tam Giang- Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế” của tác giả Lê Duy Đại, có sự nghiên cứu một cách chi tiết về một cộng đồng dân cƣ sinh sống và mƣu sinh trên mặt nƣớc. Cuốn sách tập trung trình bày chi tiết về đời sống kinh tế, đời sống xã hội và đời sống văn hóa của cƣ dân mặt nƣớc, họ có một con thuyền vừa làm chỗ ở vừa là phƣơng tiên mƣu sinh, cuộc sống lênh đênh trên mặt nƣớc. Đây là công trình nghiên cứu có đầu tƣ công phu về một cộng đồng ngƣ dân tại một địa bàn cụ thể, đi sâu vào những khía cạnh nhỏ nhất trong đời sống 1 Khác với các nghiên cứu dân tộc học trƣớc đó, tập trung chủ yếu vào cộng đồng dân cƣ ở khu vực miền núi.

2 Kinh tế chính là ngƣ nghiệp. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời dân [8]. Các cuốn sách trên đều đề cập đến cƣ dân ven biển từ nghiên cứu mang tính tổng quát đến nghiên cứu một địa bàn cụ thể, tuy nhiên, ngƣ dân là cƣ dân đƣợc tập trung tìm hiểu, ngƣời làm nghề đóng tàu chƣa đƣợc đề cập đến trong các công trình này. Một nghiên cứu về cƣ dân ven biển thuộc lĩnh vực dân tộc học là luận án tiến sĩ “Lối sống người dân làng chài hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thụy và phường Ngọc Sơn, quận Kiến An, Hải Phòng)” của Vũ Thị Hạnh, nêu lên những đặc điểm nổi bật trong lối sống của cƣ dân làng chài về phƣơng diện mƣu sinh, phƣơng diện xã hội và đời sống văn hóa, đặc biệt luận án cũng chỉ ra những biến đổi trong quan niệm về cách tổ chức cuộc sống của cộng đồng cƣ dân [13].

Chuyên ngành văn hóa học có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa của cƣ dân ven biển. Luận án tiến sĩ “Lễ hội cổ truyền cư dân ven biển Hải Phòng và sự biến đổi trong giai đoạn hiện nay” của Lê Thanh Tùng, trình bày một cách tổng thể về các nhóm lễ hội tiêu biểu, đặc trƣng của lễ hội cổ truyền cƣ dân ven biển Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay. Luận án đã mô tả rất đầy đủ về các lễ hội của cƣ dân ven biển đồng thời đặt ra vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị lễ hội cổ truyền trong đời sống văn hóa, xã hội đƣơng đại của cƣ dân ven biển [48]. Bên cạnh đó còn có một số luận án khác cũng đề cập đến khía cạnh văn hóa của cƣ dân ven biển nhƣ “Văn hóa dân gian của cư dân ven biển Quảng Ngãi” của Nguyễn Đăng Vũ, “Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam- Đà Nẵng: hình thái, đặc trưng, giá trị” của Nguyễn Xuân Hƣơng.

Cƣ dân ven biển đƣợc mặc định là ngƣ dân, trong khi đó, thợ đóng tàu thuyền cũng cƣ trú ven biển nhƣng các công trình nghiên cứu đều không đề cập đến [48], [54]. Bài viết “Các loại hình làng ven biển ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa” của Phạm Văn Tuấn, đề cập đến các loại làng ven biển phân theo nhiều tiêu chí khác nhau. Làng ven biển đƣợc phân loại ở đây là làng của ngƣ dân, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làng của thợ đóng tàu đƣợc đặt nằm trong cộng đồng làng của ngƣ dân [47]. Trong cuốn “Cộng đồng ngư dân ở Nam Bộ” của Trần Hồng Liên, ngoài việc đề cập đến đối tƣợng chính là cộng đồng ngƣ dân, tác giả đã nhắc tới nhóm cƣ dân đóng tàu thuyền, tuy nhiên họ đƣợc nêu ra với vị thế là những ngƣời tham gia các hoạt động kinh tế phụ3 [22].

Các nghiên cứu về cƣ dân ven biển chỉ tập trung vào ngƣ dân, chƣa có những trình bày về cộng đồng ngƣời làm nghề đóng tàu, thuyền trong các đề tài này. Trong lĩnh vực kinh tế học, cuốn sách “Đổi mới và phát triển kinh tế ven biển” của Lê Cao Đoàn, đã đề cập đến các đặc điểm tự nhiên và tiềm năng phát triển kinh tế xã hội vùng bồi tụ nƣớc lợ ven biển tỉnh Thái Bình. Trong cuốn sách, tác giả đề cập đến nhiều ngành kinh tế ven biển nhƣ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp ven biển, nghề đóng và sửa chữa tàu thuyền không đƣợc tác giả đề cập tới [9]. Luận án tiến sĩ “Giải pháp chính sách phát triển kinh tế ven biển của tỉnh Thanh Hóa” của Lê Minh Thông, đề cập đến nhiều ngành nghề kinh tế ven biển trong đó nghề đóng và sửa chữa tàu biển đƣợc xếp vào nhóm các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác và sử dụng tài nguyên biển [42].

Ở cách tiếp cận kinh tế học, khi nghiên cứu về cộng đồng ven biển, các tác giả tập trung chủ yếu vào ngành kinh tế chính là đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, đóng tàu thuyền là một hoạt động kinh tế phụ bổ trợ cho nghề đi biển của ngƣ dân. Khóa luận tốt nghiệp đại học “Bảo tồn và phát triển làng nghề đóng tàu, thuyền làng Cống Mương (khu 8, phường Long Hải, đảo Hà Nam, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh)” của Khiếu Thị Mai Lan, đã khảo sát nghề đóng tàu thuyền ở khía cạnh làng nghề. Tác giả khóa luận tập trung trình bày về hoạt động đóng tàu thuyền từ truyền thống đến biến đổi và đặt ra vấn đề bảo tồn làng nghề nhƣ thế nào [20]? Ngoài ra, còn rất nhiều bài báo, bài viết 3 Cho nghề đi biển. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trên các mạng internet đề cập đến hoạt động kinh tế đóng và sửa chữa tàu thuyền.

Có thể thấy, nghiên cứu về cộng đồng cƣ dân ven biển đã đƣợc quan tâm trên nhiều lĩnh vực nhƣ dân tộc học, văn hóa học, kinh tế học,… Các công trình khi lựa chọn địa bàn nghiên cứu này tập trung nhiều vào ngƣ dân trên mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội. Bộ phận dân cƣ đóng tàu thuyền ven biển chƣa đƣợc nhắc đến trong các nghiên cứu với vị trí trung tâm, chƣa đƣợc khảo sát một cách có hệ thống. Tiếp cận lý thuyết Nghiên cứu về một cộng đồng luôn là một vấn đề rộng, đòi hỏi nhà nghiên cứu phải xét đến mọi khía cạnh xoay quanh cộng đồng nghiên cứu đó. Vì thế, với đề tài nghiên cứu “Cư dân đóng tàu thuyền ở xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An” tôi cần phải sử dụng rất nhiều lý thuyết để lý giải các phát hiện tại địa bàn nghiên cứu.

Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn Thạc sĩ, tôi chỉ sử dụng hai lý thuyết chủ đạo cho nghiên cứu: Lý thuyết về sinh kế, hƣớng tiếp cận sinh thái học văn hóa. Lý thuyết về sinh kế Hƣớng tiếp cận của lý thuyết sinh kế là hƣớng tiếp cận không thể thiếu trong các nghiên cứu về cộng đồng ở nông thôn. Trong nghiên cứu về nông thôn và giảm nghèo trong hai thập kỷ qua vấn đề sinh kế và sinh kế bền vững đã trở thành mục tiêu phân tích ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô, trong đó khung sinh kế bền vững đƣợc coi là một cách tiếp cận toàn diện về các vấn đề phát triển thông qua việc thảo luận về sinh kế của con ngƣời và đói nghèo trong các bối cảnh khác nhau. Theo quan điểm của khung sinh kế bền vững do bộ phát triển quốc tế Anh (Department for International Development – DFID), khung phân tích này đề cập đến các yếu tố và thành tố hợp thành sinh kế: các ƣu tiên mà con ngƣời có thể nhận biết đƣợc; các chiến lƣợc mà họ lựa 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chọn để theo đuổi các ƣu tiên đó; các thể chế, chính sách và tổ chức quyết định đến sự tiếp cận của họ đối với các loại tài sản hay cơ hội và các kết quả mà họ thu đƣợc; các tiếp cận của họ đối với năm loại vốn và khả năng sử dụng hiệu quả các loại vốn mình có; bối cảnh sống của con ngƣời, bao gồm các xu hƣớng kinh tế, công nghệ, dân số, các cú sốc và mùa vụ.

Năm loại vốn kể trên bao gồm vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con ngƣời và vốn tự nhiên. Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa mà ngƣời sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế. Vốn tài chính ngụ ý về các nguồn lực tài chính mà con ngƣời sử dụng để đạt đƣợc các mục tiêu sinh kế của mình. Vốn xã hội là các nguồn lực xã hội mà con ngƣời sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình, bao gồm quan hệ, mạng lƣới, thành viên nhóm, niềm tin sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phi chính thống quan trọng.

Vốn con ngƣời là những kỹ năng, trí thức, khả năng làm việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo thành những điều kiện giúp con ngƣời theo đuổi các chiến lƣợc sinh kế khác nhau và đạt đƣợc mục tiêu sinh kế. Vốn tự nhiên là tất cả các nguyên vật liệu tự nhiên để tạo dựng sinh kế hộ gia đình hay cộng đồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ