Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) tại Việt Nam được xác định là một trong những trụ cột then chốt của hệ thống an sinh xã hội quốc gia, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng, chia sẻ gánh nặng tài chính cho người dân khi gặp rủi ro ốm đau, bệnh tật. Trong khuôn khổ chính sách đó, bảo hiểm y tế hộ gia đình (BHYT HGĐ) giữ vai trò như một "tấm đỡ cuối cùng", tạo cơ chế tiếp cận dịch vụ y tế cho những đối tượng không thuộc diện tham gia BHYT bắt buộc theo các nhóm quan hệ lao động hoặc được ngân sách nhà nước bảo đảm. Hình thức này được quy định chính thức trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế (Luật số 46/2014/QH13) và triển khai từ năm 2015. Đến năm 2020, cả nước đã vận động được 19,6 triệu người tham gia BHYT HGĐ với số thu đạt gần 10.000 tỷ đồng, khẳng định vị trí công cụ chiến lược để hoàn thành mục tiêu bao phủ BHYT toàn dân.
Tuy nhiên, sau gần một thập kỷ vận hành, quá trình thực thi chính sách BHYT HGĐ bộc lộ nhiều điểm nghẽn về mặt lập pháp lẫn áp dụng thực tiễn tại các cơ sở, cản trở khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của một bộ phận người dân. Nghiên cứu thực tế tại Thị xã Nghi Sơn (tỉnh Thanh Hóa) – đơn vị hành chính thành lập năm 2020 trên cơ sở huyện Tĩnh Gia với mô hình kinh tế tổng hợp kết hợp công nghiệp Khu kinh tế Nghi Sơn, dịch vụ cảng biển, nông - lâm - ngư nghiệp – phản ánh rõ nét sự đan xen giữa kết quả đạt được và những vướng mắc pháp lý phát sinh ở một đô thị công nghiệp đang phát triển.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về BHYT HGĐ và sự điều chỉnh của pháp luật đối với BHYT HGĐ; tìm hiểu kinh nghiệm pháp luật quốc tế liên quan.
- Phân tích thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về BHYT HGĐ (đối tượng, mức đóng, phương thức đóng, chế độ hưởng, thủ tục hành chính).
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật BHYT HGĐ tại địa bàn Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2020 - 2023; chỉ rõ kết quả đạt được, các hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân dẫn đến hạn chế.
- Đề xuất các giải pháp lập pháp và biện pháp tổ chức thực hiện nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành BHYT HGĐ tại địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quy định của pháp luật Việt Nam về BHYT HGĐ (trọng tâm là Luật Bảo hiểm y tế 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 và hệ thống văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành) cùng thực tiễn áp dụng các quy phạm này đối với nhóm đối tượng tham gia theo hộ gia đình.
- Phạm vi không gian: Thực tiễn áp dụng pháp luật BHYT HGĐ trên địa bàn Thị xã Nghi Sơn, Tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát số liệu thực tế giai đoạn 2020 - 2023, có sự liên hệ so sánh với các giai đoạn 2009 - 2014 và 2015 - 2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận cơ sở lý luận về BHYT dưới ba chiều kích:
- Góc độ kinh tế: Viện dẫn định nghĩa của Hugh the Elder Chamberlen (năm 1694) về cơ chế chi trả chi phí rủi ro sức khỏe trên cơ sở cân đối giữa mức phí đóng góp và số tiền chi trả; tiếp cận mô hình bảo hiểm y tế xã hội Bismarck (nước Đức, năm 1883) dựa trên sự đoàn kết và san sẻ rủi ro cộng đồng.
- Góc độ xã hội: Dựa trên định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Tuyên bố Alma-Ata (năm 1987) khẳng định BHYT là loại hình phi lợi nhuận hướng tới bảo đảm quyền con người trong tiếp cận dịch vụ y tế.
- Góc độ pháp lý: Tham chiếu các chuẩn mực quốc tế như Công ước số 102 (năm 1952) về quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội và Công ước số 130 (năm 1969) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về chăm sóc y tế và trợ cấp ốm đau; giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, giáo trình Luật An sinh xã hội (Trường Đại học Luật Hà Nội); định nghĩa trong Từ điển Bách khoa Việt Nam.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật áp dụng:
Khóa luận sử dụng các căn cứ pháp lý thực định: Luật Bảo hiểm y tế năm 2008; Luật số 46/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế; Nghị định số 146/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế; Luật Cư trú năm 2020; Nghị định số 136/2013/NĐ-CP; Thông tư số 04/2017/TT-BYT; Công văn số 3170/BHXH-BT, Quyết định số 595/QĐ-BHXH (được sửa đổi bởi Quyết định số 490/QĐ-BHXH); Quyết định số 2355/QĐ-BHXH ngày 16/09/2022 của BHXH Việt Nam; Nghị quyết số 933/NQ-UBTVQH14 ngày 22/4/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Thị xã Nghi Sơn. Đồng thời, tác giả khảo cứu kinh nghiệm pháp luật của Đức (mô hình bảo hiểm y tế bắt buộc GKV), Hàn Quốc, Nhật Bản (BHYT quốc gia), Hoa Kỳ (chương trình Medicaid và Đạo luật Chăm sóc sức khỏe giá cả phải chăng - ACA).
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về chính sách an sinh xã hội, kết hợp các phương pháp cụ thể:
- Chương 1: Phương pháp lịch sử để truy nguyên nguồn gốc ra đời của BHYT; phương pháp diễn giải - quy nạp để xây dựng các khái niệm, đặc điểm và bản chất pháp lý của BHYT HGĐ.
- Chương 2: Phương pháp liệt kê, điều tra quy phạm để rà soát quy định hiện hành; phương pháp thống kê và so sánh số liệu thực tế qua các mốc thời gian để lượng hóa kết quả và nhận diện các hạn chế trong quản lý đối tượng, số thu và quỹ chi khám chữa bệnh (KCB).
- Chương 3: Phương pháp phân tích - tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để luận chứng các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật.
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được trích xuất từ Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 07/9/2009 của Ban Bí thư của BHXH Thị xã Nghi Sơn; Báo cáo công tác KCB BHYT và số liệu quản lý thu - chi tài chính của BHXH Thị xã Nghi Sơn giai đoạn 2020 - 2023; số liệu thống kê kinh tế - xã hội từ Cổng thông tin điện tử Tỉnh Thanh Hóa và Thị xã Nghi Sơn; Sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo hiểm y tế hộ gia đình và sự điều chỉnh của pháp luật về BHYT hộ gia đình
Chương 1 xây dựng khung lý thuyết toàn diện về BHYT HGĐ:
- Khái niệm và đặc điểm: BHYT HGĐ được xác định là hình thức bảo hiểm y tế do Nhà nước tổ chức, dành cho những thành viên trong hộ gia đình chưa tham gia BHYT theo các nhóm đối tượng khác, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm hỗ trợ chăm sóc sức khỏe. Khóa luận phân tích 3 đặc điểm bản chất: (1) Hướng trọng tâm tới nhóm lao động khu vực phi chính thức và những người phụ thuộc; (2) Mức đóng có sự hỗ trợ của Nhà nước hoặc áp dụng cơ chế giảm trừ lũy thoái; (3) Giữ vai trò then chốt giải quyết độ phủ an sinh tại khu vực phi chính thức.
- Ý nghĩa: Đối với cá nhân, đây là công cụ tiết kiệm, phòng ngừa rủi ro tài chính khi mất sức lao động. Đối với xã hội và Nhà nước, chính sách phân phối lại nguồn lực từ người khỏe sang người ốm, giảm áp lực trợ cấp trực tiếp từ ngân sách quốc gia, củng cố sự bình đẳng xã hội.
- Nội dung điều chỉnh pháp luật: Khóa luận khái quát nội dung pháp lý thành 4 chế định: xác định đối tượng tham gia; quy định mức đóng (tính trên lương cơ sở hoặc thu nhập, chính sách giảm trừ); phương thức đóng phí (định kỳ, trừ lương, nộp trực tiếp hoặc trực tuyến); cơ chế huy động nguồn tài chính thực hiện (chia sẻ giữa người lao động, người sử dụng lao động và ngân sách nhà nước). Chương này đối chiếu kinh nghiệm tại Đức (người phụ thuộc được miễn đóng phí theo gói BHYT của lao động chính), Hàn Quốc và Nhật Bản (cơ chế thành viên gia đình) và Hoa Kỳ (mức hỗ trợ lũy thoái theo chuẩn nghèo liên bang - FPL).
Chương 2: Thực trạng pháp luật về BHYT HGĐ và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế hộ gia đình tại Thị xã Nghi Sơn, Tỉnh Thanh Hóa
Chương 2 chiếm dung lượng lớn nhất, phân tích sự tương tác giữa quy định lập pháp và số liệu vận hành thực tế:
- Thực trạng pháp luật Việt Nam:
- Đối tượng: Được cụ thể hóa từ Điều 5 Nghị định 146/2018/NĐ-CP và sửa đổi căn bản bởi Luật Cư trú năm 2020 (khoản 2 Điều 37 bãi bỏ sổ hộ khẩu/sổ tạm trú, xác lập tư cách tham gia dựa trên việc cùng đăng ký thường trú hoặc tạm trú hợp pháp). Đối tượng mở rộng tới chức sắc, chức việc, nhà tu hành và người sống trong cơ sở bảo trợ xã hội. Khóa luận phát hiện lỗ hổng: pháp luật thiếu quy định cho người nước ngoài cư trú hợp pháp cùng hộ gia đình tham gia theo hình thức này.
- Mức đóng và phương thức đóng: Điểm k khoản 1 Điều 13 Luật BHYT quy định mức đóng tối đa 6% mức lương cơ sở. Điểm e khoản 1 Điều 7 Nghị định 146/2018/NĐ-CP quy định cơ chế giảm trừ: người thứ nhất đóng 4,5% lương cơ sở; các người tiếp theo đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% và 40% của người thứ nhất nếu cùng tham gia trong năm tài chính. Phương thức đóng linh hoạt 03, 06 hoặc 12 tháng qua đại lý thu, trực tiếp hoặc Cổng Dịch vụ công liên thông Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Bảng: Mức đóng BHYT của các thành viên hộ gia đình năm 2024 (căn cứ mức lương cơ sở 1.800.000 đồng/tháng)
| Thứ tự thành viên |
Tỷ lệ đóng so với người thứ nhất |
Mức đóng mỗi tháng (đồng) |
Mức đóng theo năm (đồng) |
| Người thứ nhất |
100% (4,5% lương cơ sở) |
81.000 |
972.000 |
| Người thứ hai |
70% (3,15% lương cơ sở) |
56.700 |
680.400 |
| Người thứ ba |
60% (2,70% lương cơ sở) |
48.600 |
583.200 |
| Người thứ tư |
50% (2,25% lương cơ sở) |
40.500 |
486.000 |
| Từ người thứ năm trở đi |
40% (1,80% lương cơ sở) |
32.400 |
388.800 |
-
Chế độ hưởng: Quy định phạm vi KCB (loại trừ 12 trường hợp tại Điều 23 Luật BHYT; đối tượng HGĐ không được thanh toán chi phí vận chuyển cấp cứu lên tuyến trên). Mức hưởng đúng tuyến đạt 80% - 100%; điều trị nội trú trái tuyến tỉnh hưởng 100%, trái tuyến trung ương hưởng 40%; KCB tại trạm y tế xã giáp ranh tỉnh được thanh toán 100%. Nếu KCB tại cơ sở không ký hợp đồng BHYT, mức thanh toán trực tiếp tối đa từ 0,15 đến 2,5 lần lương cơ sở tùy tuyến.
-
Trình tự, thủ tục: Chuẩn hóa qua 4 bước: Kê khai thông tin (mẫu TK1-TS, Phụ lục thành viên HGĐ hoặc mẫu 01-TK điện tử) -> Nộp hồ sơ -> Nộp tiền phí -> Nhận thẻ BHYT (thời hạn giải quyết không quá 05 ngày).
-
Thực tiễn áp dụng tại Thị xã Nghi Sơn:
- Đặc điểm địa bàn: Diện tích 455,61 km², dân số 307.304 người (năm 2020), gồm 31 đơn vị hành chính (16 phường, 15 xã). Năm 2023, toàn thị xã có 242.788/257.940 người tham gia BHYT (đạt 94,13% dân số); trợ cấp bảo trợ xã hội cho 10.078 người với kinh phí 61 tỷ đồng.
- Kết quả phát triển đối tượng: Giai đoạn 2015 - 2019, bình quân mỗi năm có 4.530 hộ tham gia BHYT HGĐ (chiếm 18,32% tổng số hộ, tăng 10% so với giai đoạn 2009 - 2014). Giai đoạn 2020 - 2023, tỷ lệ hộ tham gia tăng lên 35,02%. Số cá nhân tham gia BHYT HGĐ năm 2021 đạt 44.319 người; năm 2022 tăng lên 75.583 người (tăng 70,54% do ảnh hưởng dịch Covid-19, học sinh - sinh viên và người mất việc làm tại các doanh nghiệp chuyển sang BHYT HGĐ).
Bảng: Tình hình thu BHYT tại Thị xã Nghi Sơn giai đoạn 2020 - 2023
| Chỉ tiêu |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
Năm 2023 |
| Số người tham gia BHYT HGĐ (người) |
18.830 |
44.319 |
75.583 |
65.830 |
| Số thu BHYT HGĐ (triệu đồng) |
8.516 |
20.420 |
34.xxx |
Giảm 6,88% so với 2022 |
| Tổng số thu BHYT toàn thị xã (triệu đồng) |
260.467 |
278.125 |
Tăng 2,2% |
285.467 |
| Tỷ trọng thu BHYT HGĐ trên tổng số thu (%) |
3,20% |
7,35% |
12,41% |
11,30% |
Bảng: Thống kê số lượt KCB và tình hình cân đối quỹ BHYT tại Thị xã Nghi Sơn (2020 - 2023)
| Chỉ tiêu |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
Năm 2023 |
| Tổng số lượt KCB BHYT |
163.133 |
~162.433 |
Tăng đều |
Tăng 46,78% so với 2022 |
| Số lượt KCB diện BHYT HGĐ |
32.645 |
56.438 |
57.285 |
94.421 |
| Tỷ trọng lượt KCB HGĐ / Tổng lượt KCB (%) |
19,99% |
- |
- |
39,32% |
| Tổng số chi KCB BHYT toàn thị xã (triệu đồng) |
- |
- |
55.813 |
176.935 |
| Tỷ lệ tổng chi KCB BHYT so với tổng thu (%) |
21,58% - 25,30% (giai đoạn 2020-2022) |
- |
- |
61,98% |
| Tỷ lệ chi BHYT so với kế hoạch được giao (%) |
- |
- |
- |
109,23% |
Mạng lưới KCB BHYT trên địa bàn đạt 37 cơ sở: 32 cơ sở công lập (01 Bệnh viện đa khoa, 01 Trung tâm y tế, 31 Trạm y tế xã/phường) và 4 cơ sở ngoài công lập (01 Bệnh viện đa khoa quốc tế Hợp Lực - ký hợp đồng BHYT từ năm 2023 giúp giảm tải tuyến huyện, và 03 phòng khám đa khoa).
- Hạn chế và nguyên nhân:
- 5 vướng mắc thực tiễn: (1) Số lượng tham gia không ổn định, biến động giảm sâu vào năm 2023 (xuống còn 52.830 hoặc 65.830 người); (2) Người nước ngoài cư trú cùng hộ gia đình tại Khu kinh tế Nghi Sơn không có cơ chế mua BHYT HGĐ; (3) Chất lượng dịch vụ y tế tuyến xã/phòng khám còn đơn sơ, thiếu bác sĩ vùng sâu, gây dồn ứ lên tuyến huyện và chuyển tuyến sang Nghệ An; (4) Tỷ trọng số thu BHYT HGĐ thấp (chỉ từ 3,2% đến 12,41%) không bảo đảm cân đối mức chi phí điều trị phát sinh lớn của nhóm này; (5) Trục lợi quỹ BHYT (chỉ định khống dịch vụ kỹ thuật, bán giấy nghỉ ốm, quay vòng thẻ BHYT để lấy thuốc bán ra ngoài).
- 5 nguyên nhân: Bất cập quy định luật định; Hạn chế nhận thức pháp lý của người dân; Tâm lý chỉ mua BHYT khi mắc bệnh; Điều kiện kinh tế khó khăn, biến động việc làm và áp lực tăng mức đóng theo lương cơ sở mới; Hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan BHXH chưa bao quát thường xuyên, nhất là giai đoạn dịch bệnh.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về BHYT hộ gia đình tại Thị xã Nghi Sơn, Tỉnh Thanh Hóa
Khóa luận định hình hệ thống giải pháp xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của địa bàn:
- Bổ sung quy định đối tượng tham gia BHYT HGĐ có yếu tố nước ngoài: Sửa đổi, hướng dẫn cụ thể quy định tại Luật Cư trú và Nghị định BHYT nhằm cho phép người nước ngoài (kết hôn với công dân Việt Nam, con mang quốc tịch nước ngoài của công dân Việt Nam, hoặc thân nhân người lao động nước ngoài cư trú hợp pháp tại các dự án thuộc Khu kinh tế Nghi Sơn) được tham gia BHYT HGĐ. Khắc phục triệt để tình trạng hướng dẫn không đồng nhất giữa cơ quan BHXH các địa phương.
- Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế pháp lý về mức đóng, tăng cường kiểm soát chi quỹ KCB và giải pháp tổ chức thực hiện tại Thị xã Nghi Sơn.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa số liệu thực tiễn địa phương: Cung cấp chuỗi số liệu độc lập về sự biến động số người tham gia BHYT HGĐ, tỷ lệ số thu BHYT HGĐ so với tổng thu ngân quỹ (đạt đỉnh 12,41% năm 2022) và tỷ trọng chi trả chi phí KCB (lượt KCB diện HGĐ tăng từ 19,99% năm 2020 lên 39,32% năm 2023) tại một thị xã mới thành lập.
- Phát hiện kẽ hở pháp lý mang tính đặc thù: Chỉ ra xung đột giữa quy định xác định hộ gia đình theo Luật Cư trú năm 2020 và thực tiễn cư trú của người nước ngoài trong các gia đình đa quốc tịch tại các khu kinh tế ven biển, nơi pháp luật BHYT hiện hành chưa có cơ chế tiếp nhận.
- Giá trị khoa học so sánh: Kế thừa các công trình nghiên cứu đi trước của Phùng Thị Cẩm Châu, Nguyễn Thị Thanh Hương, Mai Quỳnh Trang; làm rõ sự dịch chuyển chính sách BHYT HGĐ từ cơ chế xác thực qua "sổ hộ khẩu" sang liên thông "Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư".
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Các số liệu thống kê thu - chi và KCB của tác giả dừng lại ở mốc năm 2023; nội dung giải pháp lập pháp tại phần văn bản khảo sát chủ yếu tập trung sâu vào nhóm đối tượng có yếu tố nước ngoài, chưa phản ánh đầy đủ toàn diện các nhóm giải pháp cải cách tài chính quỹ. Phạm vi nghiên cứu mang tính điển hình tại một thị xã công nghiệp loại IV của miền Trung, chưa so sánh trực tiếp với các mô hình đô thị lớn hoặc miền núi cao.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động của lộ trình cải cách tiền lương và Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi mới nhất đối với khả năng đóng phí của người lao động phi chính thức; nghiên cứu các giải pháp tự cân đối quỹ BHYT HGĐ nhằm ngăn chặn nguy cơ bội chi cục bộ.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học các ngành Luật (Luật An sinh xã hội, Luật Kinh tế, Luật Hành chính), ngành Quản lý công và chuyên ngành Bảo hiểm xã hội.
- Giá trị ứng dụng: Tài liệu tham khảo hữu ích cho cơ quan BHXH cấp huyện/thị xã trong việc quản lý, mở rộng mạng lưới đại lý thu qua các tổ chức chính trị - xã hội (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Bưu điện); cung cấp luận cứ thực tiễn cho các cơ quan tham mưu chính sách khi xây dựng quy chế liên thông dữ liệu cư trú và xử lý hồ sơ BHYT có yếu tố nước ngoài.
Câu hỏi thường gặp
1. Mức đóng BHYT hộ gia đình được tính toán theo cơ chế giảm trừ như thế nào theo Nghị định 146/2018/NĐ-CP?
Mức đóng căn cứ trên mức lương cơ sở: Người thứ nhất đóng bằng 4,5% lương cơ sở; người thứ hai đóng 70% mức đóng của người thứ nhất (3,15% lương cơ sở); người thứ ba đóng 60% (2,7% lương cơ sở); người thứ tư đóng 50% (2,25% lương cơ sở); từ người thứ năm trở đi đóng 40% (1,8% lương cơ sở). Quy định giảm trừ này áp dụng khi các thành viên hộ gia đình cùng tham gia trong năm tài chính.
2. Nguyên nhân nào khiến số lượt KCB diện BHYT hộ gia đình tại Thị xã Nghi Sơn năm 2023 tăng đột biến lên 94.421 lượt?
Nguyên nhân chủ yếu do BHXH Thị xã Nghi Sơn đã ký hợp đồng KCB BHYT với Bệnh viện đa khoa quốc tế Hợp Lực (bệnh viện tư nhân) từ năm 2023. Việc mở rộng cơ sở y tế tư nhân có chất lượng dịch vụ cao tham gia mạng lưới BHYT đã thu hút lượng lớn người dân sử dụng thẻ BHYT HGĐ đi khám chữa bệnh, đồng thời giảm tải trực tiếp cho Bệnh viện Đa khoa khu vực Nghi Sơn.
3. Luật Cư trú năm 2020 đã thay đổi tiêu chí xác định hộ gia đình tham gia BHYT như thế nào?
Luật Cư trú năm 2020 chính thức bãi bỏ sổ hộ khẩu và sổ tạm trú giấy. Tiêu chí xác định thành viên hộ gia đình tham gia BHYT chuyển thành những cá nhân cùng đăng ký thường trú hoặc cùng đăng ký tạm trú tại một chỗ ở hợp pháp theo quy định của pháp luật cư trú (trừ những người đã tham gia theo các nhóm đối tượng BHYT khác), mở rộng điều kiện cho cả những người cùng thuê nhà, mượn nhà, ở nhờ hợp pháp.
4. Báo cáo của tác giả chỉ ra điểm mất cân đối nào trong cơ cấu thu - chi quỹ BHYT tại Thị xã Nghi Sơn giai đoạn 2020 - 2023?
Số thu BHYT HGĐ chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng quỹ thu BHYT toàn thị xã (dao động từ 3,2% đến 12,41%), trong khi tỷ lệ người tham gia chiếm 15% - 31% tổng số người tham gia BHYT và tỷ lệ lượt KCB của nhóm này tăng mạnh lên tới 39,32% năm 2023. Năm 2023, tổng chi KCB BHYT của thị xã lên tới 176.935 triệu đồng (chiếm 61,98% tổng thu và vượt 109,23% kế hoạch giao), cho thấy nhóm HGĐ tạo áp lực chi trả rất lớn lên quỹ chung so với số phí thực đóng.
5. Vướng mắc pháp lý cụ thể đối với người nước ngoài cư trú trên địa bàn Thị xã Nghi Sơn khi tham gia BHYT HGĐ là gì?
Thị xã Nghi Sơn có Khu kinh tế Nghi Sơn tập trung nhiều lao động, chuyên gia nước ngoài sinh sống cùng gia đình. Dù họ đã đăng ký tạm trú hợp pháp, pháp luật BHYT hiện hành chưa có quy định cho phép người mang quốc tịch nước ngoài là thân nhân (vợ/chồng/con) của lao động nước ngoài hoặc thân nhân của công dân Việt Nam được tham gia BHYT theo diện hộ gia đình, dẫn đến việc cơ quan BHXH thiếu cơ sở pháp lý tiếp nhận hồ sơ.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Lê Mai Thảo là công trình nghiên cứu chuyên khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao về pháp luật BHYT hộ gia đình trong giai đoạn chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính cư trú. Bằng việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp phân tích quy phạm pháp lý và xử lý dữ liệu thống kê từ cơ quan BHXH Thị xã Nghi Sơn giai đoạn 2020 - 2023, nghiên cứu đã khắc họa toàn diện bức tranh thi hành BHYT HGĐ ở cấp cơ sở. Những phát hiện về sự chênh lệch thu - chi quỹ và khoảng trống pháp lý đối với công dân nước ngoài cư trú tại địa phương là luận cứ quan trọng, đóng góp thiết thực cho công tác lập pháp và quản lý an sinh xã hội.