i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Huy Dân và sự giúp đỡ của TS Phạm Thị Thanh. Các số liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn đúng với thực nghiệm và không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án hay các công trình nghiên cứu đã công bố. Ngƣời cam đoan Lê Ngọc Ánh ii LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS. Nguyễn Huy Dân người Thầy đã dành cho tôi sự động viên, giúp đỡ tận tình và những định hướng khoa học hiệu quả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin đư c cảm ơn sự cộng tác và giúp đỡ đầy hiệu quả của TS. Phạm Thị Thanh, TS. Nguyễn Hải Yến, ThS. Nguyễn Huy Ngọc trong Viện Khoa học vật liệu - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nơi tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận l i của cơ sở đào tạo Học viện Khoa học và Công nghệ cùng Viện Khoa học vật liệu - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong quá trình tôi thực hiện luận văn. Tôi xin đư c gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo khoa Kĩ thuật Công nghệ, các thầy cô giáo khoa Khoa học tự nhiên và phòng sau đại học của Trường Đại học Hồng Đức đã dạy dỗ, trang bị cho tôi những tri thức khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt hai năm học cao học. Luận văn này đư c hỗ tr kinh phí của đề tài Khoa học Công nghệ cấp Quốc gia, mã số KC. Công việc thực nghiệm của luận văn đư c thực hiện tại Phòng thí nghiệm Trọng điểm Vật liệu và Linh kiện Điện tử, Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu và bạn bè đồng nghiệp tổ Lý - Sinh - TD&QP trường THPT Trần Ân Chiêm, tổ Lý -CN trường THPT Đông Sơn 1, đã tạo điều kiện thuận l i để tôi hoàn thành khóa học cũng như quá trình thực hiện luận văn. Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè nhà trường, đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi khắc phục những khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất. Xin trân trọng cảm ơn! Thanh Hóa, tháng 09 năm 2019 Tác giả Lê Ngọc Ánh iii iv MỤC LỤC Trang MỞ Đ. TỔNG Q AN VỀ NAM CHÂM THIÊ KẾT…….
Lịch sử phát triển của vật liệu từ cứng nền Nd-Fe-B. Cấu trúc và tính chất từ của nam châm thiêu kết Nd-Fe-B. Cấu trúc của nam châm thiêu kết Nd-Fe-B. Tính chất từ của nam châm thiêu kết Nd-Fe-B.
Cơ chế lực kháng từ trong nam châm thiêu kết Nd-Fe-B………. Quá trình từ hoá …………………………………………. Cơ chế đảo từ…………………. Các lý thuyết về lực kháng từ ………………….
Công nghệ chế tạo nam châm thiêu kết Nd-Fe-B. Chế tạo h p kim ban đầu. p tạo viên nam châm ………………. Gia công mẫu và nạp từ.
nh hưởng của các nguyên tố pha tạp Dy lên cấu trúc và tính chất từ của nam châm thiêu kết Nd-Fe-B………………………………… 28 Chƣơng 2. Chế tạo mẫu.1 Quy trình và thiết bị công nghệ chế tạo nam châm thiêu kết Nd-Fe-B 34 2. Thực nghiệm chế tạo mẫu. Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc và tính chất từ của vật liệu 41 2.
Phương pháp nhiễu xạ tia X. Phương pháp đo từ trên hệ đo từ trường xung. KẾT Q Ả VÀ THẢO L ẬN 45 3.1 Cấu trúc của bột các h p chất pha thêm Dy16,5Fe77B6,5, Dy40Nb30Al30 và Dy40Nd30Al30. nh hưởng của bột các h p chất pha thêm Dy16,5Fe77B6,5, Dy40Nb30Al30 và Dy40Nd30Al30 lên tính chất từ của nam châm thiêu kết 49 Nd16,5Fe77B6,5.
58 TÀI LIỆ THAM KHẢO……. Lí do chọn đề tài Vật liệu công nghệ nói chung và vật liệu từ nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống loài người. Chúng rất đa dạng, phong phú và đang không ngừng đư c nghiên cứu để hoàn thiện hơn. Trong xu thế phát triển chung đó thì các vật liệu từ cứng VLTC , cùng với sản ph m ứng dụng của nó mà ta quen gọi là nam châm vĩnh cửu ( NCVC ) đang đư c sử dụng rộng rãi trong thực tế.
Chúng đư c ứng dụng trong các thiết bị quen thuộc không thể thiếu trong cuộc sống h ng ngày như động cơ điện, máy phát điệncho đến các thiết bị trong lĩnh vực k thuật hiện đại như công nghệ thông tin, quân sự, khoa học, y tế. Bắt đầu từ thế k XX, các NCVC đã đư c chế tạo và ứng dụng rất nhiều. Năm 1920 thép cácbon và thép h p kim Volfram Crom trở thành VLTC nhân tạo đầu tiên có tích năng lư ng từ cực đại BH max 1 MGOe. Sau đó các hướng nghiên cứu tập trung vào việc nâng cao biện pháp công nghệ và thay đổi h p phần để tìm kiếm vật liệu mới có BH max cao, có nhiều ứng dụng trong cuộc sống và khoa học k thuật.
Tiến bộ đầu tiên trong nâng cao ph m chất từ đư c đánh dấu b ng việc phát hiện ra h p kim Alnico bởi Mishima Nhật Bản vào năm 1932 [1]. H p kim này đư c chế tạo bởi quá trình h p kim hóa ba nguyên tố Ni, Co và Fe có pha một lư ng nhỏ Al và Cu, lực kháng từ Hc và tích năng lư ng BH max tương ứng đạt khoảng 0,63 kOe và 1 MGOe. Tuy nhiên, bước đột phá về chất lư ng và phạm vi ứng dụng chỉ bắt đầu diễn ra vào giữa thập niên 60 của thế k XX, kể từ khi phát minh h p kim từ cứng nền đất hiếm RE, thành phần 4f và kim loại chuyển tiếp TM, thành phần 3d. Thành phần 3d cho từ độ bão hoà và nhiệt độ chuyển pha Curie TC cao, trong khi thành phần 4f có tính dị hướng từ tinh thể mạnh cho lực kháng từ Hc lớn.
Cho đến nay, hai họ nam châm chứa đất hiếm đư c sử dụng rộng rãi là Sm-Co và Nd-Fe-B. Họ nam châm Sm-Co dựa trên hai pha từ cứng SmCo5 và 2 Sm2Co17 có từ tính khá tốt và nhiệt độ Curie cao Br10 kG, Hc 24 kOe, (BH)max 33 MGOe, TC 820oC) [2]. Tuy nhiên, Co là nguyên tố khá đắt và là vật liệu mang tính chất chiến lư c. Việc phát hiện ra pha từ cứng Nd 2Fe14B bởi Croat và cộng sự M , Sagawa và cộng sự Nhật vào năm 1983 đư c xem là một bước đột phá lớn trong lịch sử nam châm vĩnh cửu không chỉ do tính chất từ rất tốt của nó mà còn do trữ lư ng các nguyên tố Nd và Fe trong vỏ Trái Đất rất lớn so với các nguyên tố đất hiếm và kim loại chuyển tiếp khác.
Hai phương pháp cơ bản chế tạo nam châm vĩnh cửu dựa trên vật liệu từ cứng Nd 2Fe14B là phương pháp thiêu kết và phương pháp kết dính. Trong nam châm kết dính các hạt bột sắt từ Nd-Fe-B đư c liên kết với nhau bởi chất kết dính hữu cơ, BH max có thể đạt trên 10 MGOe, ưu điểm của nam châm loại này là công nghệ chế tạo tương đối đơn giản và dễ dàng tạo dạng phức tạp theo yêu cầu [3]. Trong nam châm thiêu kết các hạt từ có kích thước vài micromet đư c liên kết nhau bởi một pha phi từ giàu Nd ở biên hạt, nam châm này có tính dị hướng cao, tích năng lư ng cực đại BH max khá lớn, đồng thời có khả năng làm việc trong các môi trường từ trường cao. Kỉ lục BH max hiện nay đạt đư c trong phòng thí nghiệm là 59 MGOe [4], đạt 92% giá trị BH max lí thuyết 64 MGOe.
Chính vì vậy, hiện nay nam châm này chiếm một t phần lớn về giá trị trong công nghiệp nam châm. Nam châm thiêu kết Nd-Fe-B là một loại nam châm hiện đại có tích năng lư ng từ BH max cao nhất hiện nay và sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như điện tử, khoa học, y tế, quân sự. Tuy nhiên, nam châm loại này thường đư c sử dụng dưới 100oC do sự suy giảm lực kháng từ khi nhiệt độ tăng [5]. Điều này đã hạn chế những ứng dụng của nam châm trong các thiết bị như động cơ, máy phát điện.
Bởi vì nhiệt độ hoạt động của nam châm cho các thiết bị này vào khoảng 200oC. Chính vì vậy, việc nâng cao lực kháng từ của nam châm thiêu kết Nd-Fe- B nh m mở rộng phạm vi ứng dụng của chúng vẫn luôn đư c các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu [6-9]. 3 Hướng nghiên cứu bổ sung vào thành phần h p kim một số các nguyên tố khác ngoài các thành phần chính Nd, Fe, B nh m thay đổi các tính chất từ nội tại của vật liệu như nhiệt độ Curie TC, tính dị hướng từ tinh thể. đã đư c đưa ra trong các nghiên cứu trước đây.Ví dụ như, pha tạp Dy là phương pháp phổ biến để làm tăng lực kháng từ của nam châm, vì trường dị hướng từ ở nhiệt độ phòng của Dy2Fe14B (µoHA ~ 27,8 T cao hơn khá nhiều so với Nd2Fe14B (µoHA ~ 7,5 T [10], ngoài ra pha tạp Dy còn giúp cho vật liệu ít bị ôxy hóa.
Tuy nhiên, Dy lại làm giảm cả từ dư Br và tích năng lư ng từ BH max. Nghiên cứu gần đây cho thấy việc đưa các chất pha thêm vào biên hạt có thể cho lực kháng từ cao mà vẫn đảm bảo các thông số khác của nam châm không bị ảnh hưởng. Ở Việt Nam, ngay sau khi phát minh vật liệu từ Nd 2Fe14B đư c công bố, nó đã đư c các phòng thí nghiệm quan tâm nghiên cứu về thành phần hoá học cũng như các đặc điểm công nghệ. Ngày nay loại vật liệu này vẫn tiếp tục đư c chú ý và có nhiều công trình nghiên cứu có kết quả rất khả quan.
Điều này đư c thể hiện qua nhiều báo cáo tại các hội nghị chuyên đề và trên các tạp chí của nhiều nhóm tác giả như nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học vật liệu, nhóm nghiên cứu của Đại học Quốc Gia Hà Nội, nhóm của trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Năm 2009, nhóm nghiên cứu do PGS. Nguyễn Huy Dân và các cộng sự đã chế tạo đư c nam châm thiêu kết Nd-Fe-B có lực kháng từ Hc ~ 8 kOe và tích năng lư ng BH max đạt cỡ 33 MGOe b ng công nghệ ép ướt.