CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẬT LIỆU KIẾN TRÚC THẾ KỶ XV-XVIII TẠI KHU VỰC CHÍNH ĐIỆN KÍNH THIÊN QUA CÁC ĐỢT KHAI QUẬT 2017-2019 1. Tổng quan tình hình phát hiện và nghiên cứu vật liệu kiến trúc thế kỷ XV-XVIII 1. Những phát hiện và nghiên cứu trước năm 1954 Năm 1951, trong công trình “Les Seultures royales de la dysastie des Le posterieus (Hậu Lê)”, L.
Bezacier ghi chép lại kết quả chuyến đi khảo sát của ông ở khu vực Lam Kinh (Thanh Hóa) trong năm 1942. Ông có nhắc đến những mảnh ngói bò và ngói cánh sen được lợp nhà bia Lê Thái Tổ. Gạch được sử dụng để xây mộ, xây tường bao quanh lăng mộ và sử dụng kết hợp với đá để xây bệ đặt tượng sư tử. Ông cũng đề cập đến việc phát hiện những mảnh gạch và ngói bò ở lăng Hoàng hậu thuộc làng Quần Đội và một vài mảnh ngói ở gần khu vực mộ vua Lê Dụ Tông [21, tr.
Mecier đã hệ thống hơn 10.000 hiện vật là những phát hiện lẻ tẻ của người Pháp ở Việt Nam thành công trình nghiên cứu “Éléments anciens d’ aechitecture au Nord Viet-nam”. Đây là công trình chuyên sâu nhất về các loại hình vật liệu xây dựng ở miền Bắc Việt Nam mà chủ yếu là ở khu vực Thăng Long (Hà Nội) thời kỳ này. Theo công bố này cho thấy việc phát hiện của người Pháp về gạch ngói thế kỷ 15-18 thực sự bắt đầu năm 1900, trong khi xây dựng sân Quần Ngựa ở phía Tây thành phố Hà Nội gần đường Hoàng Hoa Thám ngày nay đã phát hiện một số lượng lớn những mảnh gạch ngói thời Lê [21, tr. Trong công trình này cũng bao gồm rất nhiều loại hình di vật VLKT thế kỷ XV-XVIII gồm đủ các loại hình gạch, ngói và các bộ phận trang trí khác.
Tuy nhiên, do không có các cuộc điều tra và khai quật khảo cổ học nên 7 các kết quả nghiên cứu chỉ đề cập đến vấn đề nghệ thuật. Do hạn chế về nguồn tài liệu nên các học giả cũng chưa đưa ra được cách thức phân loại và phân kỳ, các đặc trưng và diễn biến của các loại di vật này. Những phát hiện và nghiên cứu sau năm 1954 Đến giai đoạn thập kỷ 70 của thế kỷ XX việc nghiên cứu khảo cổ học mới được bắt đầu với nhiều cuộc thám sát và khai quật tại khu vực nội thành Hà Nội. Năm 1970 - 1971, khoa Lịch Sử - trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tiến hành khai quật với diện tích 28m2 ở khu vực sườn Tây Nam núi Cung của làng Đại Yên, đã tìm được các loại vật liệu kiến trúc như bộ phận trang trí trên ngói ống, diềm ngói nhiều thời kỳ [57, tr.
Năm 1972, BtLSVN khai quật diện tích 300m2 tại khu Đồng Gạch và Đồng Giếng (Ba Đình), tìm được nhiều loại hình di vật của nhiều thời kỳ [57, tr10]. Năm 1978, nhằm mục đích giải phóng mặt bằng ở Cung thiếu nhi trung ương, ba đơn vị là Viện KCH, BtLSVN, Sở VHTT Hà Nội đã tiến hành thám sát và khai quật tại khu Quần Ngựa – tương truyền có chùa Chân Giáo thời Lý. Tại đây đã tìm thấy nhiều di vật gạch, ngói, gốm sứ [57, tr10]. Năm 1992, Viện KCH và Sở VHTT Hà Nội tiến hành thám sát tại địa điểm 5 Hoàng Diệu đã tìm thấy tầng văn hoá dày (4,6m) và nhiều di vật [57, tr.
Năm 1996, khai quật “chữa cháy” địa điểm 11 Lê Hồng Phong với diện tích 30m2 đã tìm thấy nhiều di vật VLKT đất nung thuộc nhiều giai đoạn. Năm 1998 và 1999, Viện KCH tiến hành khai quật 3 địa điểm Hậu Lâu, Bắc Môn và Đoan Môn (Ba Đình, Hà Nội), thu được khá nhiều hiện vật VLKT đất nung có niên đại thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn [33-35]. 8 Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XX việc nghiên cứu và khai quật Khảo cổ học đã được thực hiện nhiều hơn. Các cuộc khai quật được tiến hành ở các vị trí trung tâm của Cấm thành Thăng Long như: Đoan Môn, Bắc Môn, Hậu Lâu, phát hiện được các di tích quan trọng, khẳng định được giá trị và lịch sử của Kinh thành.
Trên cơ sở đó, đã có một số bài viết đề cập đến vị trí của thành Thăng Long. Tại địa điểm Đoan Môn, với các di tích phát hiện được, các nhà nghiên cứu đều cho rằng vị trí trung tâm của thành Thăng Long không thay đổi qua các thời Lý, Trần, Lê [57, tr. Địa điểm 18 Hoàng Diệu được khai quật liên tục từ tháng 12/2002 đến tháng 12/2009, chia thành 5 khu vực (A, B, C, D, E) với tổng diện tích là 33. Đã phát hiện được dày đặc các loại hình di tích và di vật, trong đó các loại hình di vật giai đoạn thế kỷ XV-XVIII [42-43].
Tháng 8 năm 2002, khai quật thăm dò địa điểm 62 – 64 Trần Phú và tiếp tục sau đó đến năm 2008 - 2009 là khai quật mở rộng. Cuộc khai quật đã tìm được dấu tích móng tường thành và đoạn tường hào góc Tây - Nam của thành Hà Nội thời Nguyễn, dấu tích kiến trúc thời Trần – Lê, nhiều di vật từ Đại La đến thời Nguyễn [38, 49]. Cuối năm 2006, khai quật đàn Nam Giao ở địa điểm 114 Mai Hắc Đế với tổng diện tích 1805m2. Kết quả đã phát hiện có nhiều dấu tích kiến trúc và di vật thời Lý, Trần, Lê [40].
Từ tháng 12/2012 đến tháng 5/2014, Viện KCH kết hợp với các cơ quan đơn vị liên quan đã tiến hành khai quật khu vực ngầm của nhà Quốc hội, gọi là Vườn Hồng (khu G) với diện tích hơn 9000m2. Kết quả đã tìm thấy nhiều di tích và di vật của các thời kỳ [55]. Từ năm 2011 đến 2019, TTBTDSTLHN phối hợp với Viện KCH tiến hành khai quật liên tục khu vực chính điện Kính Thiên với tổng diện tích 9 7458m2 đã xác định được khu vực này có tầng văn hóa kéo dài liên tục qua các thời kỳ: Đại La, Đinh – Tiền Lê, Lý – Trần – Lê – Nguyễn, dày trung bình 3 – 3,5m với nhiều loại hình di vật [44-52]. Tình hình phát hiện và nghiên cứu vật liệu kiến trúc thế kỷ XV- XVIII tại khu vực Chính điện Kính Thiên qua các đợt khai quật 1.
Vài nét về tình hình nghiên cứu khu vực trung tâm và Chính điện Kính Thiên Khu vực điện Kính Thiên là một phần thuộc khu di sản thế giới HTTL, có diện tích 47.390m2 trong tổng số 13.865 ha của toàn bộ khu di sản, được giới hạn ở 4 phía: Bắc là di tích Hậu Lâu, phía Nam là cổng Đoan Môn, phía Đông là đường Nguyễn Tri Phương và phía Tây là đường Hoàng Diệu [56: tr16]. Hơn nữa, đây là khu vực có tầm quan trọng bậc nhất của Khu di tích Trung tâm HTTL - nơi có điện Kính Thiên là Chính điện thiết triều của thời Lê Sơ, thời Mạc, thời Lê Trung hưng và tồn tại ở thời Nguyễn với tên gọi là điện Long Thiên mà dấu tích nền móng còn tồn tại đến ngày nay [22, tr87] (sđ 01). Trong khu vực trục trung tâm và khu vực Chính điện Kính Thiên từ năm 1998 đến năm 2019 đã có 10 cuộc khai quật và thám sát ở các địa điểm Đoan Môn, Hậu Lâu, Bắc Môn, điện Kính Thiên… Riêng khu vực Chính điện Kính Thiên từ nền điện Kính Thiên đã khai quật liên tục trong các năm 2008, 2011 đến nay (2021) và hàng năm khu vực này vẫn đang tiếp tục được khai quật. Các cuộc khai quật đều tìm thấy những dấu vết của di tích và di vật các thời kỳ lịch sử từ Đại La đến Lý, Trần, Lê, Nguyễn (Sđ 02).
Địa điểm Hậu Lâu: khai quật thăm dò năm 1998, diện tích 206m2. Kết quả, tìm thấy dấu tích “hồ” hay “bến nước”, vết tích kiến trúc gạch, giếng, bể, móng nền. Di vật có rất nhiều các loại hình và niên đại từ Đại La đến Lý, Trần, Lê. Trong đó VLKT của các thời kỳ: Bắc thuộc như gạch ô trám, Giang 10 Tây quân; vật liệu thời Lý, Trần như gạch lát nền trang trí hoa văn các loại, gạch có in chữ Hán, ngói ống đỏ, đầu ngói ống, lá đề rồng/phượng, tượng uyên ương, chân tảng trang trí hoa sen và các loại gạch thẻ, trang trí khác thời Lê…[57, tr.
Địa điểm Đoan Môn: khai quật thăm dò năm 1999, diện tích 133,2m2, tìm thấy dấu tích sân nền lát gạch vồ thời Lê, đường (hay tường) thời Trần có lát gạch ngói trang trí “hoa chanh” và nhiều dấu vết kiến trúc khác thời Lê. Di vật lớn về số lượng và phong phú về loại hình, trong đó VLKT có 2025 mảnh thuộc nhiều thời kỳ [57, tr. Địa điểm Bắc Môn: khai quật thăm dò năm 1999, diện tích 60,40m2, tìm thấy dấu tích tường thành và nền kiến trúc thời Lê rất kiên cố nằm bên dưới Bắc Môn của thành Hà Nội thời Nguyễn. Di vật bao gồm vật liệu xây dựng và đồ gốm men.
Vật liệu gồm có 3833 mảnh chủ yếu là các mảnh ngói ống thời Lê, đầu ngói trang trí, yếm ngói, diềm ngói [35, 37] (Sđ03). Năm 2008, khai quật phía Nam nhà Cục Tác Chiến, diện tích 50m2 cách thềm rồng điện Kính Thiên khoảng 75m về phía Nam, nằm trên trục trung tâm chạy thẳng từ cửa Đoan Môn vào điện Kính Thiên. Cuộc khai quật đã xuất lộ nền gạch vồ ở phía Đông và phía Tây nằm cách bề mặt hố -1,1m (cao độ mực nước biển là +8,179). Kết cấu của nền được xây dựng bằng gạch vồ màu xám hoặc màu đỏ, gạch còn nguyên hoặc đã bị vỡ, kích thước trung bình 37,5cm x 17cm; giữa 2 nền gạch là khoảng đầm gia cố nền của đường đi.
Di vật tìm được không nhiều, VLKT chủ yếu là các di vật của thời Lê như các loại ngói men xanh, ngói men vàng, gạch vồ và các mảnh gốm sứ có niên đại thế kỷ XVII – XIX [57, tr. Năm 2011, tiến hành đào 5 hố thám sát với tổng diện tích 112m2. Tầng văn hóa: Vị trí khai quật có độ dày mỏng khác nhau nhưng trật tự giữa các lớp 11 văn hóa là khá rõ. Ở đây đã làm rõ được có lớp văn hóa thời hiện đại (22 - 45cm), lớp văn hóa thời Nguyễn và thời Pháp thuộc (40 - 45cm), lớp văn hóa thời Lê (25 - 60cm) [57, tr.
Năm 2012, hố khai quật có diện tích 500m2 nằm ở phía Bắc cổng Đoan Môn theo chiều Đông – Tây, cách mép trong Đoan Môn là 28,8m về phía Bắc. Hố đào ban đầu được chia thành 5 hố, mỗi hố 50m2 chạy thẳng hàng theo hướng Đông - Tây, sau đó được mở rộng thêm 250m2 về phía Bắc trên cơ sở nối liền 3 hố (H3, H4, H5) ở phía Tây.