Tổng quan luận án
Công trình "Văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam" là luận án tiến sĩ văn học thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9 22 01 21), do nghiên cứu sinh Nghiêm Thị Hồ Thu thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Phong Lê và Tiến sĩ Lưu Khánh Thơ tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2018).
Về tính cấp thiết, luận án xuất phát từ bối cảnh văn học Việt Nam thế kỷ XX trải qua hai yêu cầu lớn là hiện đại hóa và cách mạng hóa. Trong đó, giai đoạn 1930-1945 đã định hình một thế hệ tác giả tạo nên diện mạo văn học dân tộc. Ngọc Giao là cây bút quen thuộc, từng giữ vị trí thư ký tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy và tham gia biên tập các ấn phẩm của Nhà xuất bản Tân Dân do Vũ Đình Long sáng lập. Ông sở hữu khối lượng tác phẩm tương đối lớn, viết đều tay qua các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, phóng sự từ trước năm 1945 đến giai đoạn Hà Nội tạm chiếm 1947-1954 và hồi sinh vào thời kỳ sau năm 1986. Tuy nhiên, do những biến động lịch sử và góc nhìn phê bình có phần định kiến ở giai đoạn 1945-1985, sự nghiệp văn chương của ông bị khuất lấp, nhiều tác phẩm bị ngưng trệ tiếp nhận, khiến nhà văn phải gác bút suốt một thời gian dài. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả luận án chỉ ra là: trước thời điểm luận án triển khai, giới nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở các bài viết ngắn, lời tựa xuất bản hoặc nhận định phác thảo từng tác phẩm riêng lẻ, chưa có một công trình nào khảo sát toàn diện, chỉnh thể và có hệ thống về toàn bộ di sản văn xuôi Ngọc Giao. Việc thực hiện luận án là cần thiết nhằm phục dựng một chân dung văn học của tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định rõ ràng:
- Mục tiêu nghiên cứu: Đặt văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình phát triển của văn học hiện đại Việt Nam nhằm nhận diện thành tựu, giới hạn, đánh giá có hệ thống về đặc điểm văn chương, thế giới nghệ thuật, vị trí, vai trò và đóng góp của tác giả. Nghiên cứu tập trung vào hệ thống tác phẩm, các giai đoạn sáng tác, quan niệm văn chương, thể loại chính (truyện ngắn, tiểu thuyết, ký), từ đó đúc kết các phương diện: đề tài, thế giới nhân vật, người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):
- Thứ nhất: Tập hợp, thống kê, phân loại các tác phẩm của Ngọc Giao theo giai đoạn sáng tác và thể loại.
- Thứ hai: Tìm hiểu tình hình chính trị, xã hội, những giao lưu, tiếp biến và tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan đến quá trình sáng tác và đặc trưng bút pháp của nhà văn.
- Thứ ba: Đi sâu phân tích lý giải các khía cạnh giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm văn học cụ thể để rút ra những nhận xét khái quát về từng thể loại chính yếu trong từng giai đoạn sáng tác của tác giả nói riêng và đặc điểm văn xuôi Ngọc Giao nói chung.
- Thứ tư: Khẳng định những nét đặc trưng trong nội dung và nghệ thuật tác phẩm Ngọc Giao; đánh giá về phong cách và vị trí, đóng góp của nhà văn trong tiến trình vận động của lịch sử văn học Việt Nam hiện đại thế kỷ XX.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tác phẩm văn xuôi của nhà văn Ngọc Giao trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào toàn bộ các sáng tác văn xuôi thuộc thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết và ký tiêu biểu của Ngọc Giao đã được xuất bản và tái bản từ tác phẩm đầu tay năm 1929 cho đến những năm cuối đời (thập niên 1990). Về không gian và thời gian, luận án khảo sát các tác phẩm gắn bó với các địa bàn văn hóa tiêu biểu gồm Hà Nội, xứ Kinh Bắc (Bắc Ninh) và Huế; đồng thời sử dụng các sáng tác của các tác giả cùng thời trong văn học hiện đại Việt Nam làm tư liệu đối sánh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tình hình nghiên cứu về tác giả Ngọc Giao được luận án hệ thống hóa qua ba giai đoạn lịch sử cụ thể:
-
Giai đoạn trước năm 1945:
Ngay khi các tập truyện ngắn đầu tay ra đời, văn xuôi Ngọc Giao đã nhận được sự quan tâm của giới văn nghệ đương thời. Năm 1936, trong lời tựa cuốn "Một đêm vui", Phùng Tất Đắc nhấn mạnh đặc tính luân lý, sự thiên về tình cảm và nỗ lực tìm tòi tâm lý của tác giả. Năm 1939, nhà văn Trúc Đường trong bài viết trên báo chí và lời bạt cuốn "Phấn hương" khẳng định văn chương Ngọc Giao êm ái, giàu chất lãng mạn và hiện thực, đề cao tính cao thượng, coi ông là "văn sĩ của Đau khổ, của Tình thương", luôn hành động với tâm niệm "Tôi là một lương tâm". Năm 1942, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong bộ sách "Nhà văn hiện đại" (tập 2) nhận định Ngọc Giao có sở trường về lối văn đạo tình, viết về tình sầu, tình uất và khơi gợi mối thương tâm; song tác giả cũng nhận xét ngòi bút Ngọc Giao đôi khi bi quan và diễn đạt quá gọt giũa làm giảm tính tự nhiên.
-
Giai đoạn 1945 - 1985:
Dưới sự chi phối của yêu cầu phục vụ kháng chiến, tác phẩm của Ngọc Giao phải đối diện với nhiều định kiến. Năm 1950, nhà văn Tam Lang viết lời giới thiệu cho tiểu thuyết "Đất" tại Nhà xuất bản Cây thông (Hà Nội), khẳng định tác phẩm tái hiện cuộc đời gai lửa, nghẹn uất của những người dân mong được sống và bám chặt lấy đất đai quê hương. Ngược lại, năm 1963, trong bài viết "Mấy nét về tình hình văn học trong lòng Hà Nội thời kỳ kháng chiến", Nguyễn Bắc đưa ra những nhận xét có phần quy chụp, nhìn nhận tác phẩm thuần túy dưới lăng kính chính trị đơn thuần. Mặc dù các nhà hoạt động văn hóa như Trần Huy Liệu và Đặng Thai Mai sau khi đọc "Đất" đã nhận xét tác phẩm viết trong lòng địch mang tính sách lược và không gây hại cho cách mạng, nhưng cuốn sách vẫn chịu cảnh "hai án treo" từ chính quyền thực dân lẫn định kiến dư luận, khiến tác giả phải ngưng bút suốt nhiều năm.
-
Giai đoạn sau năm 1986:
Thời kỳ Đổi mới tạo tiền đề cho việc tái đánh giá công bằng văn nghiệp Ngọc Giao. Năm 1989, Nhà xuất bản Văn học tái bản tập truyện ngắn "Cô gái làng Sơn Hạ" và khẳng định sức sáng tạo phong phú của tác giả. Năm 2001, trong bài "Ngọc Giao - Phấn hương còn đó" trên Tạp chí Văn, Hoài Anh khẳng định phẩm chất nhân đạo của ngòi bút Ngọc Giao khi luôn đứng về phía người nghèo khổ, bất hạnh. Đặc biệt, từ năm 1999, Giáo sư Phong Lê công bố loạt bài nghiên cứu (như "Ngọc Giao, người khỏi bị lãng quên vào cuối thế kỷ", lời giới thiệu cuốn "Hà Nội cũ nằm đây" năm 2010 và sách "Trăm năm trong cõi..." năm 2014), đánh giá ngòi bút Ngọc Giao nghiêng về phía hoài cảm, trữ tình, làm nhòa mờ nét thô tục bằng hơi văn suôn sẻ. Lê Văn Ba trong cuốn "Văn nghệ Hà Nội những năm 1947-1954" chỉ ra giá trị ghi chép hiện thực đời sống tạm chiếm của tác giả; nhà nghiên cứu Trần Ngọc Hiếu nhận định tiểu thuyết "Quán gió" là tác phẩm trắc ẩn và can đảm khi thể hiện bi kịch con người trong chiến tranh.
Vị trí của luận án: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên giải quyết khoảng trống nghiên cứu mang tính chỉnh thể về Ngọc Giao. Luận án không chỉ tổng hợp di sản truyện ngắn trước năm 1945 mà còn tập trung làm sáng tỏ mảng tiểu thuyết, phóng sự giai đoạn Hà Nội tạm chiếm (1947-1954) và các sáng tác hồi sinh sau năm 1986, giúp khôi phục đầy đủ diện mạo của một tác gia trong tiến trình văn học hiện đại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án triển khai trên nền tảng các khái niệm và hệ thống lý thuyết văn học hiện đại:
- Hệ thống khái niệm công cụ: "Hiện đại", "hiện đại hóa", "văn học hiện đại", "hiện đại hóa văn học". Tác giả tiếp thu định nghĩa từ Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), quan niệm của Giáo sư Trần Đình Sử về sự chuyển đổi hệ hình tư duy, hệ thống giá trị nghệ thuật; các quan điểm phân kỳ lịch sử văn học của Nguyễn Huệ Chi, Phong Lê, Phạm Thế Ngũ, Trần Đình Hượu, Lê Trí Dũng, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đăng Điệp. Luận án chia quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam thành ba chặng: 1900-1945 (giao lưu văn hóa phương Tây, văn hóa Pháp), 1945-1985 (giao lưu văn hóa Liên Xô, Trung Quốc ở miền Bắc và tiếp nhận văn hóa phương Tây, lối sống Mỹ ở miền Nam), và 1986 đến nay (hội nhập quốc tế đa phương).
- Khung lý thuyết hỗ trợ: Vận dụng thi pháp học hiện đại, lý thuyết tự sự học (người kể chuyện, điểm nhìn, kết cấu), thuyết hiện sinh, văn hóa học, cùng các hướng tiếp cận liên ngành như phê bình sinh thái, nữ quyền luận và lý thuyết hậu thực dân.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm:
- Phương pháp nghiên cứu văn học sử: Đặt tác phẩm Ngọc Giao trong dòng chảy lịch sử văn học để xác định các đặc điểm tương đồng và phân hóa với các nhà văn cùng thời.
- Phương pháp tiếp cận thi pháp: Phân tích kết cấu văn bản, thế giới nhân vật, người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu để làm rõ đặc trưng thể loại và tư tưởng tác giả.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phân tích tác động của lịch sử, văn hóa xã hội và sự giao thoa với hội họa đến phong cách văn xuôi.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu các chặng đường sáng tác của Ngọc Giao và so sánh ông với các nhà văn đương thời như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng.
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Nhìn nhận sự nghiệp sáng tác của tác giả như một chỉnh thể thống nhất từ quan niệm nghệ thuật đến phương thức biểu hiện.
- Các thao tác nghiên cứu bổ trợ: Thao tác thống kê, phân loại văn bản và phương pháp loại hình.
Nguồn tư liệu thực tế của luận án bao gồm: toàn bộ tác phẩm văn xuôi của Ngọc Giao (các tập truyện ngắn "Một đêm vui", "Phấn hương", "Cô gái làng Sơn Hạ"; các tiểu thuyết "Nhà quê", "Đất", "Quán gió", "Xã Bèo người của đất", "Mưa thu", "Cầu sương"; phóng sự "Người Hà Nội"; tập tùy bút "Hà Nội cũ nằm đây"); các ấn phẩm báo chí như Tiểu thuyết thứ Bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Tao Đàn, Ngọ báo, Ích Hữu, Truyền bá, Bạn dân, Lẽ sống, Lên đường, Công tội; cùng các thư từ, hồi ức gia đình và bản Tự bạch năm 1992 của nhà văn gửi Hội Nhà văn Việt Nam.
| Giai đoạn sáng tác |
Tác phẩm tiêu biểu |
Thể loại chính |
Ấn phẩm / Nơi công bố |
| 1929 - 1945 |
"Bến đò rừng" (1929), "Một đêm vui" (1936), "Phấn hương" (1939), "Cô gái làng Sơn Hạ" (1942), "Nhà quê" (1943-1944) |
Truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết |
Ngọ báo, Phổ thông bán nguyệt san, Tiểu thuyết thứ Bảy, NXB Tân Dân |
| 1945 - 1985 |
"Con người" (1947), "Quán gió" (1948-1949), "Đất" (1949-1950), "Người Hà Nội" (1950), "Xã Bèo người của đất" (1951), "Mưa thu" (1952-1953), "Cầu sương" (1952-1953) |
Phóng sự, truyện ngắn, tiểu thuyết |
Báo Bạn dân (Chiến khu XII), báo Lẽ sống, Lên đường, Công tội, NXB Cây thông |
| 1986 - 1997 |
"Hà Nội cũ nằm đây" (viết giai đoạn cuối đời, xuất bản 2010), các bài tự bạch, hồi ức |
Tùy bút, hồi ký, tự truyện |
Bản thảo gia đình, NXB Hà Nội |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 thiết lập khung lý thuyết và bối cảnh văn học sử của đề tài. Tác giả làm rõ nội hàm các khái niệm "hiện đại", "hiện đại hóa văn học", phân tích sự chuyển dịch từ mô hình văn học trung đại mang tính quy phạm, ước lệ, sùng cổ sang mô hình văn học hiện đại đề cao cá tính sáng tạo và cái tôi cá nhân. Tiến trình văn học hiện đại Việt Nam được hệ thống hóa qua ba chặng gắn với các biến chuyển xã hội và giao lưu văn hóa quốc tế.
Chương này đi sâu phân tích các bình diện cấu thành diện mạo văn học mới: sự thay đổi của chủ thể sáng tạo (từ nhà Nho sang trí thức Tây học), sự hình thành công chúng văn học thị dân, sự phát triển của chữ Quốc ngữ, vai trò của kinh tế thị trường trong việc biến tác phẩm thành hàng hóa và nghề văn thành nghề chuyên nghiệp, cảm quan đô thị, cùng sự hình thành ngành lý luận, phê bình văn học. Trong bối cảnh phân hóa nhóm phái văn học giai đoạn 1930-1945, tác giả tập trung khảo sát nhóm Tân Dân của ông chủ Vũ Đình Long. Tân Dân là đối trọng lớn của Tự lực văn đoàn, nơi dung nạp cả hai khuynh hướng lãng mạn và hiện thực qua các cơ quan ngôn luận như Tiểu thuyết thứ Bảy, Tao Đàn, Phổ thông bán nguyệt san, Ích Hữu, Truyền bá. Luận án xác định Ngọc Giao là cây bút nòng cốt trong nhóm Tân Dân, vừa đảm nhiệm công việc tổ chức, biên tập với tư cách thư ký tòa soạn Tiểu thuyết thứ Bảy, vừa là tác giả truyện ngắn sung sức. Phần cuối chương dành dung lượng lớn để tổng thuật chi tiết lịch sử nghiên cứu về Ngọc Giao qua ba giai đoạn trước 1945, 1945-1985 và sau 1986, khẳng định cơ sở thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Văn xuôi Ngọc Giao trong bối cảnh xã hội thế kỉ XX
Chương 2 tập trung lý giải cơ sở hình thành, chặng đường sáng tác và quan niệm nghệ thuật của nhà văn.
- Về cơ sở hình thành: Luận án phân tích nguồn gốc gia đình và nền tảng giáo dục của tác giả. Mẹ ông thuộc dòng dõi quý tộc xứ Huế, truyền cho ông triết lý nhân sinh từ ái: "Không được nghĩ đến điều ác, làm việc ác, nói lời ác"; cha ông được đào tạo ở trường thông ngôn. Bản thân Ngọc Giao học tú tài trường Bưởi, thông thạo tiếng Pháp và tiếp thu văn hóa phương Tây. Văn xuôi Ngọc Giao chịu ảnh hưởng từ ba vùng đất: Huế (chốn thiêng của tình mẹ và lòng khoan dung), Kinh Bắc - làng Nguyệt Đức (nơi lưu giữ thuần phong mỹ tục nông thôn và ký ức tản cư), và Hà Nội (trung tâm đô thị hóa nơi ông sống trọn đời văn). Ngoài ra, quan hệ gắn bó thân thiết với các họa sĩ lớn như Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái, Trịnh Hữu Ngọc, Lưu Văn Sìn, Hoàng Lập Ngôn đã bồi đắp chất hội họa và tạo hình trong văn phong của ông. Ông cũng chịu ảnh hưởng từ việc đọc các tác giả phương Tây như Victor Hugo, Lamartine, Alexandre Dumas, George Sand, Paul Bourget, Stefan Zweig.
- Về quá trình sáng tác:
- Chặng 1929 - 1945: Khởi đầu bằng truyện ngắn "Bến đò rừng" (1929) và bài "Dưới mắt tôi, cái xã hội người" trên Ngọ báo; khẳng định tên tuổi qua ba tập truyện "Một đêm vui" (1936), "Phấn hương" (1939), "Cô gái làng Sơn Hạ" (1942) và tiểu thuyết "Nhà quê" (1943-1944). Ngọc Giao định hình phong cách trữ tình lãng mạn giàu chất hiện thực, đứng cạnh các cây bút như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh.
- Chặng 1945 - 1985: Sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946, ông tản cư về Bắc Ninh, rồi lên Nhã Nam (Yên Thế), tham gia viết bài cho báo Bạn dân của Chiến khu XII. Năm 1948, do hoàn cảnh gia đình éo le ở vùng tề Nguyệt Đức, ông đưa gia đình hồi cư về Hà Nội tạm chiếm. Tại đây, ông liên tục công bố phóng sự "Người Hà Nội" (1950), các tiểu thuyết "Quán gió" (1948), "Đất" (1949), "Xã Bèo người của đất" (1951), "Mưa thu" (1952), "Cầu sương" (1952). Tiểu thuyết "Đất" phản ánh sự cơ cực của nông dân vùng tề, bị gián đoạn công bố do sức ép kiểm duyệt và dư luận. Sau năm 1954, do những ngộ nhận chính trị, ông phải gác bút suốt bốn thập niên.
- Chặng sau năm 1986: Khí quyển Đổi mới giúp ông hồi sinh ngòi bút, công bố các tác phẩm hồi ký, tùy bút mang tính chiêm nghiệm lịch sử như tập "Hà Nội cũ nằm đây" (in năm 2010).
- Về quan niệm nghệ thuật: Ngọc Giao xác định viết văn là thực hiện một thiên chức đạo đức, hướng thiện, bênh vực những con người yếu thế và trung thực với lương tâm nghệ sĩ.
Chương 3: Đề tài và nhân vật văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam
Chương này đi sâu phân tích hệ thống đề tài và thế giới nhân vật trong văn xuôi tác giả:
- Về đề tài:
- Đề tài nông thôn và người nông dân: Xuất hiện sớm từ tiểu thuyết "Nhà quê" (1943) và phát triển đậm nét trong "Đất" (1949), "Xã Bèo người của đất" (1951). Luận án chỉ ra điểm nhìn của tác giả: làng quê là không gian gìn giữ bản sắc tinh thần thanh sạch, đối lập với sự xô bồ của phố thị. Trong chiến tranh, nông thôn vùng tề hiện lên với đầy đủ nỗi đau thương khi người nông dân gắn bó máu thịt với đất đai nhưng bị tước đoạt tư liệu sản xuất, phải thay trâu kéo cày dưới sự đàn áp của giặc Pháp và cường hào.
- Đề tài người thị dân, trí thức và những chấn thương tinh thần trong biến loạn: Thể hiện qua các tiểu thuyết "Quán gió", "Mưa thu", "Cầu sương". Tác phẩm tái hiện đời sống bấp bênh, cô đơn, những mối quan hệ gia đình và tình cảm phức tạp của lớp người tiểu tư sản thành thị sống trong vùng Hà Nội tạm chiếm, chịu sự giằng xé giữa sinh kế đời thường và danh dự nhân phẩm.
- Đề tài người nghèo khổ, số phận phụ nữ và những mảnh đời bất hạnh: Các truyện ngắn giai đoạn 1930-1945 tập trung miêu tả những thân phận nhỏ bé bị chèn ép, những người phụ nữ giàu đức hy sinh nhưng gặp nhiều ngang trái luân lý.
- Về thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật:
- Phân loại nhân vật: Nhân vật người lao động nghèo khổ, nhẫn nhục; nhân vật trí thức mang tâm trạng hoài nghi, trăn trở tìm chốn nương tựa tinh thần (Thái, Diễm, Vĩnh trong "Nhà quê"; Khải, Trâm trong "Quán gió"); nhân vật người nông dân chất phác gắn bó keo sơn với ruộng đồng (vợ chồng Xã Bèo).
- Nghệ thuật xây dựng: Tác giả không tập trung khắc họa ngoại hình chi tiết hay điển hình hóa sắc sảo tính cách theo kiểu hành động xung đột gay gắt, mà chú trọng soi chiếu thế giới nội tâm, dòng cảm xúc và tâm trạng xót xa của nhân vật. Con người trong tác phẩm chịu sự chi phối của hoàn cảnh nhưng luôn giữ nét nhân hậu, mang chiều sâu của tư tưởng hiện sinh và mỹ cảm nhân văn.
Chương 4: Người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam
Chương 4 hoàn thiện bức tranh thi pháp văn xuôi Ngọc Giao trên phương diện hình thức biểu đạt:
- Người kể chuyện: Tác giả sử dụng linh hoạt điểm nhìn trần thuật. Trong truyện ngắn và tùy bút, ông thường sử dụng người kể chuyện xưng "tôi" mang đậm tính chất tự truyện, hồi ức và trải nghiệm đời sống cá nhân, tạo cảm giác chân thành, gần gũi. Trong tiểu thuyết, người kể chuyện ngôi thứ ba đóng vai trò quan sát thấu suốt, dẫn dắt câu chuyện bằng thái độ thấu cảm, bao dung, không áp đặt phán xét đạo đức một chiều, từ đó mở rộng tính chất đối thoại cho văn bản nghệ thuật.
- Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật: Ngôn từ văn xuôi Ngọc Giao giản dị, tự nhiên, thoát khỏi hệ thống điển cố, ước lệ của văn học trung đại. Tác giả vận dụng khéo léo ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ báo chí hiện đại nhưng vẫn giữ được sự gọt giũa mực thước. Câu văn giàu nhạc tính, nhịp điệu êm ả và đậm chất tạo hình hội họa, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa vốn từ ngữ truyền thống của vùng đất Kinh Bắc - xứ Huế với phong vị phố phường Hà Nội.
- Giọng điệu: Giọng điệu bao trùm là trầm buồn, hoài cảm, ngậm ngùi thương xót trước nỗi đau nhân sinh. Bên cạnh âm hưởng trữ tình xót thương, văn xuôi của ông còn có sắc thái mỉa mai, phê phán kín đáo trước những hiện tượng bất công, thói giả dối thị thành và sự tàn bạo của chiến tranh.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự đúc kết các đóng góp khoa học, ý nghĩa lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp mới về khoa học: Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về toàn bộ di sản văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam. Luận án đã kế thừa kết quả của người đi trước, phân tích làm rõ quan niệm nghệ thuật, những giá trị nội dung, dấu ấn sáng tạo thi pháp và xác lập vị trí của văn xuôi Ngọc Giao.
- Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần cung cấp cứ liệu khoa học để đánh giá đầy đủ, công bằng về phong cách tác giả; bổ khuyết nhận thức lý luận về một giai đoạn văn học từng bị đứt quãng trong nghiên cứu là bộ phận văn học đô thị Hà Nội vùng tạm chiếm 1947-1954; minh chứng cho quy luật phát triển đa dạng của văn xuôi lãng mạn - hiện thực Việt Nam thế kỷ XX.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận án trực tiếp phục dựng chân dung văn học của nhà văn Ngọc Giao, cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu văn học sử Việt Nam tại các trường đại học, viện nghiên cứu.
- Đề xuất, kiến nghị: Luận án đề xuất việc tiếp tục nhìn nhận khách quan di sản văn học của các tác giả sống và viết trong vùng tạm chiếm; đề nghị đưa các tác phẩm có giá trị của Ngọc Giao (như "Đất", "Nhà quê", các truyện ngắn trong "Phấn hương", "Cô gái làng Sơn Hạ") vào các tuyển tập văn học sử và chương trình đào tạo chuyên ngành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án xác định phạm vi khảo sát chủ yếu tập trung vào các tác phẩm văn xuôi (truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, tùy bút) đã được xuất bản thành sách hoặc tái bản chính thức. Do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, việc kiểm duyệt gắt gao và điều kiện lưu trữ tư liệu khó khăn trong giai đoạn 1947-1954, nhiều bài viết ngắn, bài báo rời rạc, tư liệu dịch thuật của Ngọc Giao trên các ấn phẩm báo chí đương thời chưa thể sưu tầm và bao quát trọn vẹn.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở:
- Tiếp tục công tác sưu tầm, khảo dị văn bản và tập hợp các bài báo, truyện ngắn của Ngọc Giao còn tản mác trên báo chí trước năm 1945 và giai đoạn 1947-1954 (như các báo Lẽ sống, Lên đường, Công tội, Bạn dân).
- Mở rộng việc nghiên cứu đối sánh văn xuôi Ngọc Giao với các cây bút cùng thời hoạt động trong vùng Hà Nội tạm chiếm (như Vũ Bằng, Lê Văn Trương, Hoàng Công Khanh, Nguyễn Bắc) nhằm phác họa sâu sắc hơn diện mạo của bộ phận văn học đô thị giai đoạn này.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo thiết thực cho các đối tượng và nội dung chuyên môn cụ thể:
- Đối tượng sử dụng: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Lịch sử văn học; các nhà nghiên cứu lịch sử báo chí và văn hóa Hà Nội thế kỷ XX.
- Các phần có giá trị tham khảo trọng tâm:
- Chương 1: Cung cấp khung lý thuyết về hiện đại hóa văn học, sự chuyển đổi hệ hình tư duy nghệ thuật và lịch sử tiếp nhận văn học qua các thời kỳ chính trị - xã hội khác nhau.
- Chương 2: Cung cấp tư liệu tiểu sử, môi trường làm báo tại nhóm Tân Dân và hoàn cảnh sáng tác đặc thù của văn nghệ sĩ vùng tề, vùng tạm chiếm 1947-1954.
- Chương 3 và Chương 4: Cung cấp khung phân tích thi pháp học văn xuôi (nghiên cứu đề tài, loại hình nhân vật, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu) có thể ứng dụng cho việc nghiên cứu các tác gia văn xuôi hiện đại khác có sự giao thoa phong cách.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao sự nghiệp văn xuôi của Ngọc Giao từng bị gián đoạn và chịu định kiến suốt giai đoạn 1945-1985?
Trong hoàn cảnh kháng chiến chống Pháp (1947-1954), do hoàn cảnh gia đình khó khăn ở vùng tề, Ngọc Giao phải trở về sinh sống và viết văn tại Hà Nội tạm chiếm. Các tác phẩm của ông thời kỳ này (tiêu biểu là tiểu thuyết "Đất") dám phản ánh chân thực nỗi khổ của người nông dân vùng tề và bi kịch chiến tranh. Do bối cảnh tư tưởng thời chiến đòi hỏi văn học phục vụ trực tiếp cho mục tiêu chính trị, tác phẩm của ông bị chính quyền thực dân kiểm duyệt, đồng thời bị dư luận lúc bấy giờ phê phán, quy kết là thiếu lập trường cách mạng. Sự mặc cảm cùng những đánh giá phiến diện (như bài viết năm 1963 của Nguyễn Bắc) đã khiến nhà văn phải gác bút suốt nhiều thập niên cho đến thời kỳ Đổi mới.
2. Vai trò của Ngọc Giao trong nhóm Tân Dân và tuần báo "Tiểu thuyết thứ Bảy" được luận án xác định ra sao?
Luận án xác định Ngọc Giao giữ vai trò nòng cốt tại nhóm Tân Dân do Vũ Đình Long chủ trì. Ông đảm nhiệm vị trí thư ký tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy, trực tiếp biên tập, duyệt bài và điều hành ấn phẩm. Đồng thời, ông được giao làm chủ bút hai tờ báo dành cho giới trẻ là "Truyền bá" và "Cậu ấm cô chiêu", trở thành một trong những cây bút truyện ngắn sung sức, định hình diện mạo văn học lãng mạn giàu chất hiện thực cho nhóm Tân Dân đối trọng với Tự lực văn đoàn.
3. Hoàn cảnh sáng tác và số phận văn bản của tiểu thuyết "Đất" (1949) có điểm gì đặc thù?
Tiểu thuyết "Đất" được khởi bút từ thực tế những năm tác giả tản cư và sống tại vùng tề Nguyệt Đức (Bắc Ninh), chứng kiến cảnh dân chúng bám đất giữ làng và chịu sự tàn phá của giặc Pháp. Khi đăng nhiều kỳ trên báo chí Hà Nội tạm chiếm, tác phẩm bị phản ứng từ dư luận khiến các báo ngưng đăng, buộc tác giả phải kết thúc truyện dở dang. Bản thảo phần hai mang tên "Xã Bèo người của đất" đưa vào Sài Gòn nhờ nhà văn Tchya xin kiểm duyệt thì bị từ chối với lý do tuyên truyền cho Việt Minh. Tác phẩm rơi vào tình thế "hai án treo" từ Cao ủy Pháp lẫn dư luận cách mạng, dù các nhà nghiên cứu Trần Huy Liệu và Đặng Thai Mai nhận định nội dung không phương hại đến cách mạng.
4. Những không gian địa lý - văn hóa nào đã định hình nên cảm hứng văn chương của Ngọc Giao?
Văn xuôi Ngọc Giao được hun đúc từ ba không gian văn hóa:
- Xứ Huế: Nơi sinh ra người mẹ quý tộc của ông, biểu trưng cho đạo lý nhân ái, tình mẫu tử và lòng khoan dung.
- Xứ Kinh Bắc (làng Nguyệt Đức, Thuận Thành, Bắc Ninh): Quê nội của ông, nơi lưu giữ nếp sống thôn quê thuần hậu, phong tục cổ truyền và là bối cảnh thực tế cho các tác phẩm viết về nông thôn, vùng tề thời chiến.
- Hà Nội: Nơi ông học tập (trường Bưởi), làm báo, gắn bó trọn đời viết văn, chứng kiến những va đập của văn minh buổi giao thời và hiện thực đời sống thời tạm chiếm.
5. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính nào để khảo sát đối tượng?
Luận án sử dụng kết hợp năm phương pháp nghiên cứu văn học cơ bản: phương pháp nghiên cứu văn học sử (đặt tác phẩm vào bối cảnh lịch sử), phương pháp tiếp cận thi pháp (phân tích thể loại, cấu trúc, người kể chuyện, ngôn ngữ), phương pháp nghiên cứu liên ngành (kết hợp lịch sử, văn hóa và hội họa), phương pháp so sánh (đối chiếu các chặng đường sáng tác và so sánh với các tác giả cùng thời), và phương pháp nghiên cứu hệ thống (nhìn nhận văn nghiệp như một chỉnh thể). Ngoài ra, tác giả kết hợp thao tác thống kê, phân loại văn bản và phương pháp loại hình.
Kết luận
Luận án "Văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam" của nghiên cứu sinh Nghiêm Thị Hồ Thu là công trình khoa học khảo sát toàn diện và có hệ thống về toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà văn Ngọc Giao từ năm 1929 đến những năm cuối thế kỷ XX. Bằng việc kết hợp phương pháp văn học sử, thi pháp học và nghiên cứu liên ngành, luận án đã làm rõ quan niệm nghệ thuật, các hệ đề tài chính, thế giới nhân vật cùng đặc trưng người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu của tác giả qua ba giai đoạn sáng tác. Công trình góp phần bổ khuyết khoảng trống nghiên cứu về mảng văn học đô thị Hà Nội vùng tạm chiếm 1947-1954, khôi phục khách quan chân dung một nhà văn tài hoa, giàu lòng nhân đạo và khẳng định vị trí của ông trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam. Luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu văn học sử nước nhà.