mở đầu như Khảo cứu về tiểu thuyết (1919) của Phạm Quỳnh, các bài báo tranh luận về Truyện Kiều, về thơ Mới, tranh luận giữa hai phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh. đưa đến sự xuất hiện một đội ngũ lý luận, phê bình tài năng. Bộ môn lý luận, phê bình văn học hiện đại đã được xác lập khiến cho đời sống văn chương ngày càng sôi động với các tác giả tiêu biểu như: Dương Quảng Hàm, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Trương Tửu, Trần Thanh Mại, Đinh Gia Trinh, Đặng Thai Mai. Từ sau 1945, lý luận, phê bình văn học ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Do đó, các lý thuyết phê bình mới cùng thực tiễn sáng tác được cập nhật và có sự tác động hai chiều góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học. Giai đoạn 1945 - 1954, lý luận, phê bình ở miền Bắc tập trung nghiên cứu lý luận Mác - Lenin về văn học nghệ thuật, đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng, coi trọng mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và chính trị. Hoạt động lý luận, phê bình một mặt nỗ lực hướng đến chuyên môn mặt khác phải gắn với yêu cầu phục vụ cách mạng. Giai đoạn 1954 - 1975, lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam sôi nổi và phong phú, chịu ảnh hưởng và giao lưu với văn hóa Mỹ và phương Tây.
Một số tư tưởng lý thuyết mới đã được du nhập như thuyết hiện sinh, phân tâm học, cấu trúc luận. Sau 1975, đặc biệt là sau 1986, lý luận phê bình văn học phát triển ngày càng phong phú trong xu thế hội nhập toàn cầu. Nhiều trường phái, lý thuyết mới được giới thiệu như: thi pháp học, kí hiệu học, cấu trúc luận, phân tâm học, văn hóa học, nữ quyền luận, phê bình sinh thái, lý thuyết diễn ngôn, hậu thực dân.Đó là cơ sở cho nhiều hướng nghiên cứu, tiếp cận văn học và cũng là động lực cho các xu hướng sáng tác văn học. Bước sang phạm trù văn học hiện đại, văn học Việt Nam đã vượt thoát ra khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại chịu sự chi phối và ảnh hưởng của văn hóa, văn học Trung quốc và dần bước vào quỹ đạo hòa nhập với nền văn học hiện đại thế giới.
Từ nửa đầu thế kỷ XX, văn học đã bước vào quỹ đạo hiện đại và tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn, hiện đại hơn, cởi mở hơn trong mối giao lưu và đối thoại văn hóa dân chủ 11 với toàn cầu ở nửa sau thế kỷ XX. Văn học ngày càng có điều kiện tiếp cận và biến đổi theo hướng hiện đại và có nhiều cơ hội để hội nhập quốc tế 1. Tiến trình văn học hiện đại Việt Nam và sự xuất hiện của nhà văn Ngọc Giao Nhìn tiến trình văn học hiện đại Việt Nam trong sự thay đổi và bước chuyển hệ hình văn học gắn với các cuộc giao lưu, ảnh hưởng văn hóa, văn học Việt Nam hiện đại có thể hình dung qua ba chặng: 1900 - 1945; 1945 - 1985;1986 - nay. Đồng thời, đặt nhà văn Ngọc Giao trong tiến trình vận động của văn học hiện đại Việt Nam, luận án bước đầu xác định môi trường văn học của tác giả làm cơ sở cho hệ quy chiếu nhằm tiếp tục tìm hiểu văn xuôi của ông trong những chương tiếp theo của luận án.
Văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1900-1945 Trước sự thay đổi của lịch sử, văn hóa, xã hội, tiếp thu, ảnh hưởng tư tưởng học thuật và văn hóa, văn học phương Tây, văn học Việt Nam đã có sự vận động biến đổi từ mô hình văn học trung đại chịu ảnh hưởng văn học Trung Quốc sang mô hình văn học hiện đại chịu ảnh hưởng văn học phương Tây. Dựa trên những nền tảng của văn học truyền thống, kết hợp với luồng gió mới của văn học phương Tây và tâm thế sáng tạo, chủ động của lực lượng sáng tác là những trí thức mới được đào tạo và tiếp thu có bài bản văn hóa, văn học phương Tây, văn học đã chuyển mình hiện đại hóa. Ba mươi năm đầu thế kỷ XX, văn học tồn tại đan xen cái cũ và mới, Đông và Tây, truyền thống và hiện đại. Các nhà văn đã bước đầu có những rung động thẩm mỹ mới nhưng chưa được chuẩn bị đầy đủ về nhận thức, lý luận và học thuật.
Từ những bước đi tiên phong của các nhà Nho chí sĩ yêu nước tiến bộ đến những trí thức trẻ mới được đào tạo ở trường Tây đã tạo cho văn học 1900-1930 một dấu ấn giao thời giữa hình thức cũ và nội dung mới, nội dung cũ và hình thức mới, nội dung và hình thức vừa cũ vừa mới. Trong giai đoạn chuyển đổi hệ hình văn học này, cái cũ có xu hướng ngày càng ít đi và dần được thay thế bằng cái mới. Sang thời kì 1930-1945, văn học đã phát triển khẩn trương mau lẹ theo hướng hiện đại hóa trên các lĩnh vực của đời sống văn học: Quan niệm nghệ thuật thay đổi, văn học trở thành lĩnh vực chuyên biệt, không còn quá chú trọng tính đạo lý giáo huấn mà trở thành phương tiện tự biểu hiện của nhà văn, để nhận thức và khám phá thế giới, đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ và nhận thức của công chúng. Lực lượng sáng tác ngày càng đông đảo và tiến bộ nhất là tác giả trí thức Tây học.
Phương tiện sáng tác được thay đổi từ chữ Hán, Nôm sang chữ Quốc ngữ. Ngôn từ văn học bớt hẳn tính ước lệ tượng trưng, gần hơn với đời sống có khả năng diễn đạt tinh tế mọi phương diện đời sống và con người. Câu văn xuôi mới hình thành nhưng phát triển nhanh chóng và đạt đến trình độ hiện đại với những phong cách độc đáo. Thơ chuyển mạnh từ điệu ngâm sang điệu nói, diễn đạt tinh tế sáng tạo cái tôi trữ tình.
Phương thức lưu 12 hành ngày càng nhanh chóng, tiện lợi với sự ra đời của nhiều nhà xuất bản, nhà in. Công chúng văn học ngày càng đông đảo mở rộng tới các tầng lớp thị dân. Và đặc biệt là sự biến đổi về thi pháp sáng tác để thoát ra khỏi phạm trù văn học trung đại phá vỡ tính quy phạm, sùng cổ, ước lệ, tượng trưng, phi ngã. Văn học mở ra nhiều khả năng mới trong khám phá nghệ thuật.
Quá trình hiện đại hóa diễn ra trên mọi thể loại và phát triển mau lẹ trên các thể loại văn xuôi như tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, ký. Thơ hiện đại hóa sâu sắc với phong trào Thơ Mới, xuất hiện những thể loại mới như kịch nói, phê bình văn học. Trong một thời gian ngắn, văn học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ với nhiều khuynh hướng, trào lưu sáng tác, nhiều cá tính sáng tạo nở rộ. Tiêu biểu là khuynh hướng văn học lãng mạn với phong trào văn xuôi Tự lực văn đoàn và phong trào thơ Mới; khuynh hướng văn học hiện thực với trào lưu văn học hiên thực phê phán 1930-1945 và khuynh hướng văn học yêu nước và cách mạng.
Trong quá trình hiện đại hóa nền văn học 1900-1945, văn học phương Tây có ảnh hưởng và chi phối văn học Việt Nam ở phương diện tư tưởng và hình thức. Nhiều tác phẩm của các tác giả Pháp và phương Tây được dạy trong trường Pháp - Việt, được dịch và lưu truyền trong giới trí thức. Sự tiếp nhận ấy đã làm bừng tỉnh ý thức cá nhân, thay đổi quan niệm thẩm mĩ ngày càng mở rộng, phong phú mang tính hiện đại. Quan niệm về cái đẹp gắn với quan niệm cá nhân, cái đẹp hiện diện mọi nơi, mọi lúc, trong mọi người, nó vừa quen vừa lạ, có sự hài hòa giữa cái đẹp bên trong và cái đẹp bên ngoài.
Tư tưởng khoa học và tinh thần dân chủ của văn hóa phương Tây đã chi phối nhiều mặt của đời sống tinh thần trong đó có văn học. Đó là biểu hiện của thái độ tôn trọng hiện thực khách quan hướng tới khám phá và miêu tả hiện thực. Con người trở thành trung tâm được các nhà văn chú ý khám phá tìm hiểu trong nhiều góc cạnh và tư thế trên nền hiện thực phong phú, đa dạng và chân thực. Đó là cơ sở kết tinh nhiều phong cách sáng tác lớn trong thời kỳ này.
Trước sự thay đổi nhiều mặt của xã hội, văn hóa truyền thống không còn phù hợp để đáp ứng nhu cầu của kết cấu xã hội mới với những tình cảm mới, thị hiếu mới, tư tưởng mới. Sự tác động của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh giai cấp trong đó có phong trào Mặt trận dân chủ (1936-1939) đã hối thúc nhà văn dùng văn học để đấu tranh cho quyền lợi của các giai cấp tầng lớp trong xã hội. Vì thế, bên cạnh nội dung phản ánh là cái tôi cá nhân với những tình cảm mới, nội tâm phong phú, văn học tăng cường chất hiện thực cả ở chiều sâu và chiều rộng. Cũng từ đó những đề tài mới, chủ đề mới và những sắc thái mới trong nghệ thuật sáng tác xuất hiện dưới ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ và lãng mạn của văn hóa tư tưởng phương Tây.
13 Quá trình hiện đại hóa văn học giai đoạn 1900-1945 đã diễn ra khẩn trương, mau lẹ để rồi bắt đầu từ 1930 trở đi, văn học Việt Nam đã vượt qua hệ hình văn học trung đại để bước vào quỹ đạo văn học hiện đại. Sự gặp gỡ và tiếp xúc văn hóa phương Tây và văn hóa Pháp đã tạo nên một sự chuyển đổi toàn diện trong đời sống văn học từ đội ngũ sáng tác đến tư duy nghệ thuật, thi pháp văn học. Và đặc biệt những người làm nên diện mạo mới của văn học hiện đại là đội ngũ các nhà văn, nhà thơ mới với phong cách đa dạng, số lượng không ngừng phát triển. Trên cơ sở đó, sự xuất hiện của các nhóm phái văn học với những tôn chỉ, hướng đi, hoạt động khác nhau đã góp phần làm nên bức tranh sinh động của nền văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945.
Đó là các nhóm văn học bao gồm tập hợp một số nhà văn, nhà thơ, phê bình khảo cứu. hoạt động trong lĩnh vực văn học cùng làm việc với nhau với một mục đích, tư tưởng chung nhằm đưa ra những hướng đi mới cho hoạt động văn học. Với những đặc thù riêng khác với nhóm văn học đã có ở văn học trung đại, sau năm 1932, có nhiều nhóm văn học được thành lập như: Tự lực văn đoàn (1933), Xuân Thu nhã tập (1939), Hàn Thuyên (1941), Thanh Nghị ( 1941), Tri Tân (1941).và nhóm Tân Dân (1934).