đặt vấn đề tìm hiểu văn hóa qua sự phản ánh của văn học. Về hướng nghiên cứu này trên thế giới có thể kể đến trước hết là Hippolyte Taine và trường phái văn hóa - lịch sử. Hippolyte Taine (1828- 1893) là nhà triết học, sử học và phê bình văn học Pháp có ảnh hưởng lớn đối với tư tưởng học thuật thế giới. Trong suốt cuộc đời 17 nghiên cứu của mình H.
Taine đã cho ra đời khá nhiều những tác phẩm lớn, có giá trị. Chẳng hạn: Lịch sử văn học Anh (1864), Triết học nghệ thuật (1880)… Hippolyte Taine là cha đẻ của trường phái văn hóa- lịch sử. Có thể hiểu quan điểm của trường phái này như lời giới thiệu của tác giả Đỗ Lai Thúy cho cuốn sách: “Nếu Sanite- Beuve coi tác phẩm như một tài liệu, trong đó in dấu cá nhân người sáng tạo, thì Taine và trường phái văn hóa - lịch sử của ông nhìn thấy trong đó tài liệu thể hiện một trạng thái xã hội nào đó. Với Taine, văn học chỉ là “một bức ảnh chụp các phong tục tập quán và một dấu hiệu của một trạng thái dân trí nhất định” cho phép người ta có thể “phán xét xem con người của nhiều thế kỷ trước đấy dã cảm xúc và suy nghĩ như thế nào”.
Trường phái văn hóa lịch sử, như vậy, tìm giá trị của văn học không phải ở trong bản thân nó, mà ở cái đối tượng đã in dấu vào nó, tức cái đối tượng tồn tại trước và độc lập với tác phẩm và chỉ “được phản ảnh” trong tác phẩm. Tuy nhiên, tác phẩm không phản ánh một cách thụ động, bởi tác giả của nó không giản đơn là người lập biên bản, mà trong vai trò một chứng nhân có tư tưởng và tình cảm của mình. Tác phẩm văn học là đài tưởng niệm của thời đại nó…” [Đỗ Lai Thúy 2004: 44,45]. Theo Taine viết, tác phẩm văn học không đơn thuần là trò chơi của trí tưởng tượng, một cách kỳ quặc, tùy tiện của một tâm hồn sôi sục mà là bức ảnh chụp của các tính cách và là nhân chứng của một trạng thái nhất định của trí tuệ.
Do đó các nhà nghiên cứu văn học qua các tượng đài văn học có thể bàn luận về việc con người của nhiều thế kỷ trước đã cảm nhận và suy nghĩ như thế nào [Đỗ Lai Thúy 2004: 47]. Hippôlyte Taine cũng là người đã đưa ra khái niệm “Ba động lực đầu tiên” (chủng tộc, môi trường và thời điểm) để giải thích những đặc điểm mang tính cách dân tộc của con người”. Đánh giá về quan điểm của H. Taine về vấn đề này, tác giả Đỗ Thị Minh Thúy viết: “Thứ nhất, ông đã chỉ ra vai trò của chủ thể sáng tạo văn học với những đặc điểm hình thành bởi yếu tố có tính quy định là tố chất bên trong của tộc người, đó là các giới hạn của hình thức đầu tiên”.
Ông gọi nó là “cấu trúc tinh thần của một chủng tộc”, nó chứa đựng các đặc tính di truyền. Thứ hai, là Taine đã chỉ ra sự 18 hình thành đặc tính tinh thần của tộc người là môi trường sống của họ (gồm hoàn cảnh địa lý, hoàn cảnh chính trị, các điều kiện tôn giáo, xã hội). Yếu tố Thứ ba mà Taine quan niệm là thời điểm. Nếu hai yếu tố trên được ông chú ý ở đặc tính sinh học và những tác động ngoại cảnh thì yếu tố thứ ba này Taine chú ý đến bản chất của quá trình kế thừa và sáng tạo văn học.
Taine cho rằng, “đặc điểm dân tộc và hoàn cảnh bên ngoài đặt dấu ấn không phải lên “nền trắng” mà là lên bề mặt đã có các hình, tùy từng thời điểm khác nhau mà bức tranh này khác nhau, vì vậy kết quả của chúng có khác nhau”. Bề mặt đã có các hình được Taine quan niệm đó là ở những giai đoạn phát triển của xã hội và của văn học, vấn đề ý thức văn hóa (trong đó có ý thức triết học và ý thức văn học) đã diễn ra theo một quy luật đặc biệt là, trong số vô vàn các ý thức thì “ý thức luôn luôn có một tư tưởng chủ đạo ngự trị” và khi tư tưởng mới xuất hiện với thiên chức phải đạt được một sự thống trị và làm ra vô vàn các sáng tạo. Taine đã đặt văn học trong quan hệ ba chiều của đời sống văn hóa con người” [Đỗ Thị Minh Thúy 1997: 101, 102]. Ngoài ra, còn có một số công trình tiêu biểu khác, chẳng hạn, công trình của M.
Bakhtin: “Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng”. Theo Bakhtin, Rabelais là tác giả khó hiểu nhất trong tất cả các tác giả cổ điển của văn học thế giới, bởi muốn hiểu ông phải thâm nhập sâu vào lĩnh vực sáng tác trào tiếu dân gian Trung cổ và Phục hưng. Bởi vì chất tục trong sáng tác của Rabelais có sự liên quan chặt chẽ, mật thiết với tính trào tiếu trong văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng. “Sức hấp dẫn phi thường của Rabelais (mà sức hấp dẫn này ai cũng có thể cảm thấy được) cho đến bây giờ vẫn chưa thể giải thích.
Để làm được điều đó, trước hết phải hiểu được ngôn ngữ đặc thù của Rabelais, tức là ngôn ngữ của văn hóa trào tiếu dân gian” [M. Công trình “Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng” của M. Bakhtin đã giải mã được Rabelais và tiểu thuyết Gargantua và Patagruel vốn được coi là tuyệt tác, nhưng thực ra rất hóc búa và kỳ dị của ông. “Chuyên khảo “Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân 19 gian Trung cổ và Phục hưng” từ lâu đã được công luận thế giới thừa nhận không chỉ như một sự kiện lớn trong lịch sử nghiên cứu và kiến giải Rabelais, mà còn như một công trình kiệt xuất về lý luận và triết học văn hóa nhân loại.
Nó đưa ra luận thuyết về kiểu hình tượng nghịch dị đặc trưng không riêng cho Rabelais, mà còn cho tất cả các tác phẩm văn nghệ trào tiếu gắn với văn hóa dân gian. Cơ sở thẩm mỹ mang tính thế giới quan của kiểu hình tượng ấy được Bakhtin nhìn thấy trong tiếng cười hội hè, đặc biệt trong tiếng cười hội giả trang carnaval” (Lời giới thiệu về Bakhtin trong sách “Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng”). Đây là một công trình tiêu biểu, mẫu mực cho hướng nghiên cứu văn hóa học văn học. Nghiên cứu văn hóa học văn học là một hướng nghiên cứu tuy không mới mẻ ở Việt Nam nhưng nó chưa thực sự sâu rộng.
Trước năm 1945, nhà nghiên cứu Trương Tửu cũng đã dùng phương pháp văn hóa học để lý giải tính dâm trong văn chương và “tôn giáo thờ sự sinh đẻ trong dân gian” (Kinh thi Việt Nam, NXB Hàn Thuyên, HN, 1945). Về sau cũng có một số nhà nghiên cứu văn học sử dụng phương pháp này. Tiêu biểu là nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương… Tuy nhiên, cho tới nay, theo chúng tôi được biết, thì hầu như chưa có những công trình nghiên cứu lớn, dày dặn, công phu được công bố. Rải rác, xuất hiện một số các công trình nhỏ, dạng bài báo, các báo cáo tham dự hội thảo khoa học chuyên ngành…Ví dụ, bài “Tính văn hóa của tác phẩm văn học” [Lê Nguyên Cẩn 2005] trong bài có đoạn viết: “Bản thân tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần của một thời đại lịch sử cụ thể, phản ánh bộ mặt tinh thần của một thời đại lịch sử cụ thể, phản ánh bộ mặt tinh thần của một thời đại nhất định.
Nó thể hiện trước hết là cách cảm thụ thế giới, để từ đó dẫn tới các chuẩn mực cuộc sống của một cộng đồng dân tộc. Từ đó dẫn tới cách xây dựng nhân vật bằng hình thức mô hình hóa – điển hình hóa mang đặc trưng dân tộc với các môtip người đẹp ngủ trong rừng, môtip dì ghẻ, con chồng…; tạo ra các mẫu mang tính nhân loại kiểu hình tượng Weliser trong Odise của Homere, kiểu Robinson Cruxo trong tác phẩm cùng tên của D.Defoe, kiểu Santiago trong Ông già và biển cả của Hemingway…” [Lê Nguyên Cẩn 2005]. Hoặc, bài “Tiếp cận văn học bằng văn hóa học” [Nguyễn Văn 20 Dân 2004]. Tác giả trình bày vai trò của văn hóa trong nghiên cứu văn học, cụ thể là dùng văn hóa để lý giải tác phẩm văn học và tác giả gọi nó là “phương pháp văn hóa học”.
Ông viết: “Nguyên tắc của phương pháp này là đi tìm ảnh hưởng không chỉ của văn hóa đương thời đối với văn học, mà còn truy nguyên đến cả các truyền thống văn hóa của cộng đồng” [Nguyễn Văn Dân 2004: 22]. Sau những lập luận và dẫn chứng, tác giả kết luận: “Như vậy, trong trường hợp của phương pháp văn hóa học áp dụng cho nghiên cứu văn học, có lẽ nói một cách biện chứng hơn là trong khi tiếp cận văn học từ nhiều hướng, ta có thể đặt hiện tượng văn học vào môi trường văn hóa để lý giải và đánh giá giá trị lịch sử của hiện tượng văn học đó” [Nguyễn Văn Dân 2004: 29]. Hoặc, bài “Mối quan hệ giữa nghiên cứu văn học và văn hóa học” của tác giả Nguyễn Văn Hiệu đã đưa ra những luận điểm về mối quan hệ biện chứng giữa nghiên cứu văn học và nghiên cứu văn hóa về các khía cạnh như: đối tượng nghiên cứu, quan điểm phương pháp luận phương pháp nghiên cứu. Chẳng hạn, tác giả viết: “Nghiên cứu văn học không thể tách rời văn học với những mối liên hệ với nhiều bộ phận và nhất là không thể không đặt nó trong mối quan hệ với văn hóa”.
Tác giả dẫn lời Bakhtin: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa. Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa của một thời đại trong đó nó tồn tại” [Nguyễn Văn Hiệu 2005]. Hoặc, bài “Từ góc độ nghiên cứu văn học thử đề xuất phương hướng nghiên cứu văn hóa Việt Nam” [Trần Nho Thìn 2005]…Với những bài nghiên cứu dạng nhỏ, lẻ như trên nhìn chung chưa thể xây dựng một nền tảng lý thuyết một cách cơ bản cho hướng nghiên cứu văn hóa học văn học. Hiện nay, việc nghiên cứu văn hóa học văn học ở Việt Nam chưa có nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu lớn.
Một trong số ít các nhà nghiên cứu có công trình tương đối thành công, nổi trội là tác giả Đỗ Lai Thúy với tác phẩm Từ cái nhìn văn hóa (NXB. Văn hóa dân tộc, HN, 1999).