Tính Cách Người Nông Dân Việt Nam Qua Một Số Tác Phẩm Văn Xuôi Thời Kỳ Đổi Mới

Khám phá tính cách người nông dân Việt Nam qua tác phẩm văn xuôi thời kỳ đổi mới từ góc nhìn văn hóa học, phản ánh sâu sắc bản sắc dân tộc.

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2008

121
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tính Cách Người Nông Dân Trong Văn Xuôi Đổi Mới

Văn học và văn hóa có mối quan hệ biện chứng, mật thiết. Văn học phản ánh văn hóa, đồng thời văn hóa nuôi dưỡng và định hình văn học. Nghiên cứu tính cách người nông dân qua văn xuôi thời kỳ đổi mới là một hướng tiếp cận quan trọng để hiểu sâu sắc hơn về văn hóa nông thôn Việt Nam. Văn học Việt Nam là một kho tàng tư liệu phong phú, miêu tả cụ thể và tỉ mỉ xã hội nông thônngười nông dân Việt Nam. Việc khai thác tối đa văn học trong nghiên cứu về văn hóa nông thôn, về tính cách người nông dân Việt Nam là vô cùng cần thiết. Giáo sư Phan Ngọc khẳng định: “Văn học Việt Nam trước sau là để trả lời những yêu cầu của người Việt Nam về tổ quốc, gia đình, thân phận, diện mạo của người Việt Nam”.

1.1. Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Và Văn Hóa Nông Thôn

Văn học và văn hóa có mối quan hệ mật thiết. Một trong những đặc trưng quan trọng của văn hóa là tính nhân sinh. Bàn về vấn đề này, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm viết: “Văn hóa là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người. Theo nghĩa này, văn hóa đối lập với tự nhiên...”. Văn học là một bộ phận của văn hoá. Mặt khác, mỗi một tác phẩm văn học đều mang trong nó tính văn hoá đặc trưng của một đất nước, một dân tộc, vùng miền nơi mà nó được sinh ra.

1.2. Vai Trò Của Văn Xuôi Trong Phản Ánh Đời Sống Nông Dân

Trên diễn đàn văn học Việt Nam, văn xuôi chiếm một vị trí to lớn và quan trọng. Trong mảng văn xuôi thì tiểu thuyết là một bộ phận chiếm một tỷ trọng tương đối lớn. Tiểu thuyết có khả năng thể hiện, tái tạo hiện thực cuộc sống, cũng như xây dựng tính cách nhân vật một cách rõ và đậm nét. Như nhà văn Ma Văn Kháng đã nói: “Tiểu thuyết là gương mặt văn hóa, là gương mặt, tâm hồn dân tộc”. Tiểu thuyết Việt Nam đương đại, nhất là giai đoạn sau năm 1986 đã có những chuyển biến mạnh về nội dung và nghệ thuật, để lại những dấu ấn rõ rệt trên văn đàn, được người đọc quan tâm và yêu mến.

II. Thách Thức Nghiên Cứu Tính Cách Nông Dân Thời Đổi Mới

Nghiên cứu tính cách người nông dân trong văn xuôi thời kỳ đổi mới đối diện với nhiều thách thức. Thứ nhất, sự đa dạng trong đời sống nông dânxã hội nông thôn đòi hỏi một cái nhìn tổng quan và sâu sắc. Thứ hai, việc giải mã các giá trị văn hóa truyền thống và sự thay đổi của chúng trong bối cảnh đổi mới kinh tế là một nhiệm vụ phức tạp. Thứ ba, cần phân tích một cách khách quan và toàn diện những phẩm chất tốt đẹp và những hạn chế của người nông dân Việt Nam. Cuối cùng, việc lựa chọn và phân tích các tác phẩm văn học tiêu biểu đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về văn học Việt Namvăn hóa làng xã.

2.1. Sự Đa Dạng Trong Đời Sống Nông Thôn Đương Đại

Viết về đề tài nông thôn và người nông dân Việt Nam có rất nhiều nhà văn ở khắp mọi miền đất nước, với rất nhiều tác phẩm. Tuy nhiên, với tiêu chí chọn những tác phẩm tiêu biểu, có hình tượng nhân vật điển hình để lại nhiều ấn tượng trong lòng độc giả và tác giả là những nhà văn nổi tiếng, có tác phẩm xuất sắc viết về đề tài nông thôn, được bạn đọc yêu mến, chúng tôi sẽ khảo sát, nghiên cứu các tác phẩm của nhà văn Lê Lựu (Thời xa vắng), Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma) (mảng tiểu thuyết) và Nguyễn Minh Châu (Tuyển tập truyện ngắn), Nguyễn Huy Thiệp (Tuyển tập truyện ngắn) (mảng truyện ngắn).

2.2. Giải Mã Giá Trị Văn Hóa Truyền Thống Trong Bối Cảnh Đổi Mới

Nghiên cứu tính cách người nông dân Việt Nam qua các tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa là một vấn đề khá mới mẻ. Theo chúng tôi được biết, cho tới nay, chưa có một công trình nghiên cứu lớn, dày dặn nào theo hướng này được công bố. Rải rác trong một số công trình của các nhà nghiên cứu văn hoá tên tuổi, như Đào Duy Anh, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Văn Hạnh, Phan Ngọc, Trần Ngọc Thêm… có đôi chỗ có bàn về tính cách người Việt Nam.

III. Cách Tư Duy Của Người Nông Dân Trong Văn Xuôi Đổi Mới

Trong văn xuôi thời kỳ đổi mới, tính cách người nông dân được thể hiện qua lối tư duy tổng hợp, chú trọng các mối quan hệ. Họ có triết lý âm dương và lối sống quân bình, hướng tới sự hài hòa. Tư duy của họ thường mang tính thực tiễn, gắn liền với kinh nghiệm sản xuất và đời sống nông thôn. Các tác phẩm văn học đã khắc họa một cách chân thực và sinh động những đặc điểm này, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tâm lý người nông dângiá trị văn hóa nông thôn.

3.1. Tư Duy Tổng Hợp Và Chú Trọng Các Mối Quan Hệ

Tính cách người Việt Nam, hay tính cách người nông dân Việt Nam được đề cập nhiều trong tác phẩm văn xuôi hiện đại thông qua từng nhân vật cụ thể. Ở mỗi tác phẩm của từng tác giả mà chúng tôi đã chọn như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp … đều có những nhân vật hiện lên lồ lộ như được đắp bằng thịt, bằng xương, có thể đi lại, nói cười… và không thể lẫn vào đâu được. Đó là những Giang Minh Sài (Thời Xa Vắng, Lê Lựu), Lão Khúng (Phiên chợ Giát, Nguyễn Minh Châu), Bường (Những người thợ xẻ, Nguyễn Huy Thiệp), Quềnh (Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Khắc Trường )…

3.2. Triết Lý Âm Dương Và Lối Sống Quân Bình

Nhìn chung, các tác phẩm phê bình văn học đương đại đề cập đến tính cách người nông dân Việt Nam trong văn xuôi nói chung và văn xuôi của các tác giả mà luận văn chúng tôi khảo sát là không nhiều. Tuy vậy các nhà phê bình văn học đã có cái nhìn về tính cách người nông dân khá tinh tế. Cách nhìn vấn đề của các nhà phê bình nặng “tính văn chương” hơn, nó không cụ thể, rõ ràng, “vuông vắn” như các nhà nghiên cứu văn hóa.

IV. Ứng Xử Với Tự Nhiên Của Nông Dân Trong Văn Xuôi Đổi Mới

Trong văn xuôi thời kỳ đổi mới, tính cách người nông dân còn được thể hiện qua cách ứng xử với môi trường tự nhiên. Họ tận dụng và đối phó với tự nhiên trong sản xuất, trong ăn, mặc, ở, đi lại. Sự gắn bó mật thiết với đất đai và nông nghiệp Việt Nam đã hình thành nên những phẩm chất như cần cù, chịu khó, sáng tạo và thích nghi. Các tác phẩm văn học đã phản ánh một cách sinh động những kinh nghiệm và tri thức dân gian của người nông dân trong việc sống hòa hợp với tự nhiên.

4.1. Tận Dụng Và Đối Phó Với Tự Nhiên Trong Sản Xuất

Trong bài “Nguyễn Minh Châu với nghệ thuật xây dựng nhân vật truyện ngắn” của Trịnh Thu Tuyết, có đoạn viết: “Nguyễn Minh Châu đã chỉ ra bản tính thiện lẫn cái hoang dã, u tối đầy bản năng của người nông dân, chỉ ra thân phận “nửa bò, nửa người” nhọc nhằn, tủi nhục của họ” [Mai Hương (tuyển chọn và biên soạn) 2001: 222]. Hoặc, trong bài “Đọc Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu” nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu viết: “Ông Khúng từ miền biển lên khai phá khoảng rừng này, tưới cạn kiệt mồ hôi cho mảnh đất này… Cái bóng của bà Huệ là biểu tượng của cuộc đời người phụ nữ chìm sâu trong âm u dày thẳm…Tình thương yêu thắm thiết gắn bó những con người và những con vật đã cùng nhau khai phá đất rừng, từ thời xưa, tưởng như hồng hoang, thời kỳ mới có loài người, tình yêu ấy là mạch sống của cả truyện…Tình yêu thương ấy nâng cao tầm vóc con người…”

4.2. Ứng Xử Với Tự Nhiên Trong Đời Sống Hàng Ngày

Cũng bàn về Phiên chợ Giát, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến viết: “Tác giả ý thức được sự lớn lao trong số phận đầy nhọc nhằn, khốn khó của người nông dân. Cặp đôi lão Khúng- bò Khoang gắn bó, bin rịn mến nhau là hiện thân của sức mạnh khai phá “vạch rừng, vỡ đất”, chính sức mạnh này làm nên ruộng vườn, mở mang làng mạc, tạo dựng đất nước, sức mạnh này có bề dày lịch sử…” [Mai Hương (tuyển chọn và biên soạn) 2001: 434].

V. Tổ Chức Xã Hội Nông Thôn Và Tính Cách Người Nông Dân

Trong văn xuôi thời kỳ đổi mới, tính cách người nông dân còn được hình thành từ văn hóa tổ chức xã hộinông thôn. Tính cộng đồng và tính tự trị, mối quan hệ gia đình - gia tộc, làng - nước đã ảnh hưởng sâu sắc đến phẩm chất người nông dân. Các tác phẩm văn học đã khắc họa những giá trị truyền thống như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, sự hiếu thảo và trách nhiệm với cộng đồng. Đồng thời, cũng phản ánh những mâu thuẫn và xung đột trong xã hội nông thôn đang thay đổi.

5.1. Tính Cộng Đồng Và Tính Tự Trị Trong Văn Hóa Làng Xã

Trong tác phẩm Đổi mới về quan niệm con người trong truyện Việt Nam 1975- 2000, tác giả Nguyễn Văn Kha viết: “Người nông dân, dưới con mắt Nguyễn Huy Thiệp, là người say mê với những trò chơi thôn dã. Họ là những người gắn bó với văn hóa truyền thống, với sức sống tinh thần sâu rễ bền gốc của làng xã Việt Nam…”. Hoặc: “Nguyễn Khắc Trường nhìn người nông dân gắn với tông tộc, dòng họ. Bao nhiêu năm lo đánh giặc những vấn đề của làng xã, tông tộc, dòng họ hầu như bị chìm khuất, bỏ quên. Giờ đây, khi đất nước hòa bình, trong cuộc đời bình thường, những yếu tố tạo ra quan hệ liên kết từ bao đời, từ nhiều thế hệ của người Việt Nam bỗng thức dậy…”

5.2. Mối Quan Hệ Gia Đình Gia Tộc Làng Nước

Và như thế, dựa vào các tác phẩm phê bình văn học việc nghiên cứu văn hóa thông qua con đường văn học càng được rộng mở hơn 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài a. Ý nghĩa khoa học Như tựa đề luận văn: “Tính cách người nông dân Việt Nam trong một số tác phẩm văn xuôi thời kỳ đổi mới nhìn từ văn hóa học”, chúng tôi muốn nghiên cứu tính cách của người Việt Nam thông qua những tác phẩm văn học cụ thể, dưới cái nhìn văn hóa. Hy vọng phương pháp tiếp cận mới này sẽ đóng góp thêm phần nào trong công tác nghiên cứu văn hóa nói chung và bản sắc dân tộc nói riêng.

VI. Kết Luận Giá Trị Và Tương Lai Của Văn Hóa Nông Thôn

Nghiên cứu tính cách người nông dân qua văn xuôi thời kỳ đổi mới giúp chúng ta hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa nông thôn và những thay đổi trong xã hội Việt Nam. Các tác phẩm văn học đã góp phần bảo tồn và phát huy những truyền thống nông thôn tốt đẹp, đồng thời phản ánh những vấn đề nông nghiệp nông thôn cần giải quyết. Trong tương lai, việc tiếp tục nghiên cứu và khai thác văn học sẽ giúp chúng ta xây dựng một nông thôn Việt Nam giàu đẹp, văn minh và hiện đại.

6.1. Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Truyền Thống Nông Thôn

Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của chúng tôi hy vọng sẽ góp sức trong việc nghiên cứu và giảng dạy, nhất là việc giảng dạy về văn hóa thông qua văn học. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu Luận văn sẽ được nghiên cứu dựa trên những phương pháp sau: - Phương pháp nghiên cứu văn hóa học-văn học. Phương pháp này chủ yếu dựa trên tư liệu văn học để nghiên cứu văn hóa, từ đó sẽ có những kết luận về văn hóa. Đây sẽ là phương pháp nghiên cứu chính, được vận dụng thường xuyên, liên tục trong luận văn nhằm khảo sát tác phẩm từ nhiều khía cạnh, nhiều chiều, trên cơ sở đó sẽ phân tích cụ thể từng khía cạnh, chi tiết, để tìm ra những nét chính, cơ bản nhất của vấn đề.

6.2. Xây Dựng Nông Thôn Việt Nam Giàu Đẹp Văn Minh

Về nguồn tài liệu, chúng tôi tìm tòi, tra cứu trong các thư viện trường Đại học KHXH& NV Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Khoa học Xã hội và một số nhà sách lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Bố cục luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương: Chương 1: Những vấn đề chung Bàn về mối quan hệ văn học- văn hóa, nghiên cứu văn hóa- văn học và giới thiệu khái quát về đề tài nông thôn, nông dân trong văn xuôi thời kỳ đổi mới nói chung và trong các tác phẩm của các nhà văn Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp nói riêng.

05/06/2025
Tính cách người nông dân việt nam qua một số tác phẩm văn xuôi thời kỳ đổi mới nhìn từ văn hóa học

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề tìm hiểu văn hóa qua sự phản ánh của văn học. Về hướng nghiên cứu này trên thế giới có thể kể đến trước hết là Hippolyte Taine và trường phái văn hóa - lịch sử. Hippolyte Taine (1828- 1893) là nhà triết học, sử học và phê bình văn học Pháp có ảnh hưởng lớn đối với tư tưởng học thuật thế giới. Trong suốt cuộc đời 17 nghiên cứu của mình H.

Taine đã cho ra đời khá nhiều những tác phẩm lớn, có giá trị. Chẳng hạn: Lịch sử văn học Anh (1864), Triết học nghệ thuật (1880)… Hippolyte Taine là cha đẻ của trường phái văn hóa- lịch sử. Có thể hiểu quan điểm của trường phái này như lời giới thiệu của tác giả Đỗ Lai Thúy cho cuốn sách: “Nếu Sanite- Beuve coi tác phẩm như một tài liệu, trong đó in dấu cá nhân người sáng tạo, thì Taine và trường phái văn hóa - lịch sử của ông nhìn thấy trong đó tài liệu thể hiện một trạng thái xã hội nào đó. Với Taine, văn học chỉ là “một bức ảnh chụp các phong tục tập quán và một dấu hiệu của một trạng thái dân trí nhất định” cho phép người ta có thể “phán xét xem con người của nhiều thế kỷ trước đấy dã cảm xúc và suy nghĩ như thế nào”.

Trường phái văn hóa lịch sử, như vậy, tìm giá trị của văn học không phải ở trong bản thân nó, mà ở cái đối tượng đã in dấu vào nó, tức cái đối tượng tồn tại trước và độc lập với tác phẩm và chỉ “được phản ảnh” trong tác phẩm. Tuy nhiên, tác phẩm không phản ánh một cách thụ động, bởi tác giả của nó không giản đơn là người lập biên bản, mà trong vai trò một chứng nhân có tư tưởng và tình cảm của mình. Tác phẩm văn học là đài tưởng niệm của thời đại nó…” [Đỗ Lai Thúy 2004: 44,45]. Theo Taine viết, tác phẩm văn học không đơn thuần là trò chơi của trí tưởng tượng, một cách kỳ quặc, tùy tiện của một tâm hồn sôi sục mà là bức ảnh chụp của các tính cách và là nhân chứng của một trạng thái nhất định của trí tuệ.

Do đó các nhà nghiên cứu văn học qua các tượng đài văn học có thể bàn luận về việc con người của nhiều thế kỷ trước đã cảm nhận và suy nghĩ như thế nào [Đỗ Lai Thúy 2004: 47]. Hippôlyte Taine cũng là người đã đưa ra khái niệm “Ba động lực đầu tiên” (chủng tộc, môi trường và thời điểm) để giải thích những đặc điểm mang tính cách dân tộc của con người”. Đánh giá về quan điểm của H. Taine về vấn đề này, tác giả Đỗ Thị Minh Thúy viết: “Thứ nhất, ông đã chỉ ra vai trò của chủ thể sáng tạo văn học với những đặc điểm hình thành bởi yếu tố có tính quy định là tố chất bên trong của tộc người, đó là các giới hạn của hình thức đầu tiên”.

Ông gọi nó là “cấu trúc tinh thần của một chủng tộc”, nó chứa đựng các đặc tính di truyền. Thứ hai, là Taine đã chỉ ra sự 18 hình thành đặc tính tinh thần của tộc người là môi trường sống của họ (gồm hoàn cảnh địa lý, hoàn cảnh chính trị, các điều kiện tôn giáo, xã hội). Yếu tố Thứ ba mà Taine quan niệm là thời điểm. Nếu hai yếu tố trên được ông chú ý ở đặc tính sinh học và những tác động ngoại cảnh thì yếu tố thứ ba này Taine chú ý đến bản chất của quá trình kế thừa và sáng tạo văn học.

Taine cho rằng, “đặc điểm dân tộc và hoàn cảnh bên ngoài đặt dấu ấn không phải lên “nền trắng” mà là lên bề mặt đã có các hình, tùy từng thời điểm khác nhau mà bức tranh này khác nhau, vì vậy kết quả của chúng có khác nhau”. Bề mặt đã có các hình được Taine quan niệm đó là ở những giai đoạn phát triển của xã hội và của văn học, vấn đề ý thức văn hóa (trong đó có ý thức triết học và ý thức văn học) đã diễn ra theo một quy luật đặc biệt là, trong số vô vàn các ý thức thì “ý thức luôn luôn có một tư tưởng chủ đạo ngự trị” và khi tư tưởng mới xuất hiện với thiên chức phải đạt được một sự thống trị và làm ra vô vàn các sáng tạo. Taine đã đặt văn học trong quan hệ ba chiều của đời sống văn hóa con người” [Đỗ Thị Minh Thúy 1997: 101, 102]. Ngoài ra, còn có một số công trình tiêu biểu khác, chẳng hạn, công trình của M.

Bakhtin: “Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng”. Theo Bakhtin, Rabelais là tác giả khó hiểu nhất trong tất cả các tác giả cổ điển của văn học thế giới, bởi muốn hiểu ông phải thâm nhập sâu vào lĩnh vực sáng tác trào tiếu dân gian Trung cổ và Phục hưng. Bởi vì chất tục trong sáng tác của Rabelais có sự liên quan chặt chẽ, mật thiết với tính trào tiếu trong văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng. “Sức hấp dẫn phi thường của Rabelais (mà sức hấp dẫn này ai cũng có thể cảm thấy được) cho đến bây giờ vẫn chưa thể giải thích.

Để làm được điều đó, trước hết phải hiểu được ngôn ngữ đặc thù của Rabelais, tức là ngôn ngữ của văn hóa trào tiếu dân gian” [M. Công trình “Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng” của M. Bakhtin đã giải mã được Rabelais và tiểu thuyết Gargantua và Patagruel vốn được coi là tuyệt tác, nhưng thực ra rất hóc búa và kỳ dị của ông. “Chuyên khảo “Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân 19 gian Trung cổ và Phục hưng” từ lâu đã được công luận thế giới thừa nhận không chỉ như một sự kiện lớn trong lịch sử nghiên cứu và kiến giải Rabelais, mà còn như một công trình kiệt xuất về lý luận và triết học văn hóa nhân loại.

Nó đưa ra luận thuyết về kiểu hình tượng nghịch dị đặc trưng không riêng cho Rabelais, mà còn cho tất cả các tác phẩm văn nghệ trào tiếu gắn với văn hóa dân gian. Cơ sở thẩm mỹ mang tính thế giới quan của kiểu hình tượng ấy được Bakhtin nhìn thấy trong tiếng cười hội hè, đặc biệt trong tiếng cười hội giả trang carnaval” (Lời giới thiệu về Bakhtin trong sách “Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng”). Đây là một công trình tiêu biểu, mẫu mực cho hướng nghiên cứu văn hóa học văn học. Nghiên cứu văn hóa học văn học là một hướng nghiên cứu tuy không mới mẻ ở Việt Nam nhưng nó chưa thực sự sâu rộng.

Trước năm 1945, nhà nghiên cứu Trương Tửu cũng đã dùng phương pháp văn hóa học để lý giải tính dâm trong văn chương và “tôn giáo thờ sự sinh đẻ trong dân gian” (Kinh thi Việt Nam, NXB Hàn Thuyên, HN, 1945). Về sau cũng có một số nhà nghiên cứu văn học sử dụng phương pháp này. Tiêu biểu là nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương… Tuy nhiên, cho tới nay, theo chúng tôi được biết, thì hầu như chưa có những công trình nghiên cứu lớn, dày dặn, công phu được công bố. Rải rác, xuất hiện một số các công trình nhỏ, dạng bài báo, các báo cáo tham dự hội thảo khoa học chuyên ngành…Ví dụ, bài “Tính văn hóa của tác phẩm văn học” [Lê Nguyên Cẩn 2005] trong bài có đoạn viết: “Bản thân tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần của một thời đại lịch sử cụ thể, phản ánh bộ mặt tinh thần của một thời đại lịch sử cụ thể, phản ánh bộ mặt tinh thần của một thời đại nhất định.

Nó thể hiện trước hết là cách cảm thụ thế giới, để từ đó dẫn tới các chuẩn mực cuộc sống của một cộng đồng dân tộc. Từ đó dẫn tới cách xây dựng nhân vật bằng hình thức mô hình hóa – điển hình hóa mang đặc trưng dân tộc với các môtip người đẹp ngủ trong rừng, môtip dì ghẻ, con chồng…; tạo ra các mẫu mang tính nhân loại kiểu hình tượng Weliser trong Odise của Homere, kiểu Robinson Cruxo trong tác phẩm cùng tên của D.Defoe, kiểu Santiago trong Ông già và biển cả của Hemingway…” [Lê Nguyên Cẩn 2005]. Hoặc, bài “Tiếp cận văn học bằng văn hóa học” [Nguyễn Văn 20 Dân 2004]. Tác giả trình bày vai trò của văn hóa trong nghiên cứu văn học, cụ thể là dùng văn hóa để lý giải tác phẩm văn học và tác giả gọi nó là “phương pháp văn hóa học”.

Ông viết: “Nguyên tắc của phương pháp này là đi tìm ảnh hưởng không chỉ của văn hóa đương thời đối với văn học, mà còn truy nguyên đến cả các truyền thống văn hóa của cộng đồng” [Nguyễn Văn Dân 2004: 22]. Sau những lập luận và dẫn chứng, tác giả kết luận: “Như vậy, trong trường hợp của phương pháp văn hóa học áp dụng cho nghiên cứu văn học, có lẽ nói một cách biện chứng hơn là trong khi tiếp cận văn học từ nhiều hướng, ta có thể đặt hiện tượng văn học vào môi trường văn hóa để lý giải và đánh giá giá trị lịch sử của hiện tượng văn học đó” [Nguyễn Văn Dân 2004: 29]. Hoặc, bài “Mối quan hệ giữa nghiên cứu văn học và văn hóa học” của tác giả Nguyễn Văn Hiệu đã đưa ra những luận điểm về mối quan hệ biện chứng giữa nghiên cứu văn học và nghiên cứu văn hóa về các khía cạnh như: đối tượng nghiên cứu, quan điểm phương pháp luận phương pháp nghiên cứu. Chẳng hạn, tác giả viết: “Nghiên cứu văn học không thể tách rời văn học với những mối liên hệ với nhiều bộ phận và nhất là không thể không đặt nó trong mối quan hệ với văn hóa”.

Tác giả dẫn lời Bakhtin: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa. Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa của một thời đại trong đó nó tồn tại” [Nguyễn Văn Hiệu 2005]. Hoặc, bài “Từ góc độ nghiên cứu văn học thử đề xuất phương hướng nghiên cứu văn hóa Việt Nam” [Trần Nho Thìn 2005]…Với những bài nghiên cứu dạng nhỏ, lẻ như trên nhìn chung chưa thể xây dựng một nền tảng lý thuyết một cách cơ bản cho hướng nghiên cứu văn hóa học văn học. Hiện nay, việc nghiên cứu văn hóa học văn học ở Việt Nam chưa có nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu lớn.

Một trong số ít các nhà nghiên cứu có công trình tương đối thành công, nổi trội là tác giả Đỗ Lai Thúy với tác phẩm Từ cái nhìn văn hóa (NXB. Văn hóa dân tộc, HN, 1999).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tính Cách Người Nông Dân Việt Nam Qua Văn Xuôi Thời Kỳ Đổi Mới" khám phá sâu sắc những đặc điểm tâm lý và tính cách của người nông dân Việt Nam trong bối cảnh đổi mới. Tác giả phân tích cách mà văn xuôi phản ánh những thay đổi trong đời sống xã hội và tâm tư của người nông dân, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự chuyển mình của nền văn hóa nông thôn Việt Nam. Bài viết không chỉ mang lại cái nhìn sâu sắc về con người và cuộc sống của họ mà còn mở ra những cơ hội để khám phá thêm về văn học và xã hội trong thời kỳ này.

Để mở rộng kiến thức của bạn, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ đặc điểm truyện ngắn ma văn kháng thời kỳ đổi mới, nơi phân tích các đặc điểm nổi bật trong thể loại truyện ngắn trong thời kỳ đổi mới. Ngoài ra, tài liệu Luận văn quan niệm nghệ thuật vền người và thế giới trong tiểu thuyết của franz kafka cũng có thể cung cấp cho bạn những góc nhìn thú vị về nghệ thuật và con người trong văn học. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ văn học truyện ngắn nguyễn quang thiều nhìn từ góc độ thể loại, để có cái nhìn sâu sắc hơn về thể loại truyện ngắn trong văn học Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị của văn học và xã hội.