CHƯƠNG 1 TẠ DUY ANH TRONG NỀN VĂN XUÔI ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM 1.1 Tạ Duy Anh trong bối cảnh đổi mới tiểu thuyết Việt Nam 1.1 Khái quát về nền văn xuôi đương đại Việt Nam Văn xuôi đương đại Việt Nam trong quá trình thay đổi, “làm mới” mình, có thể chia làm ba giai đoạn chủ yếu: Giai đoạn thứ nhất có thể kể đến là giai đoạn từ đầu thế kỷ đến năm 1945. Đây là giai đoạn hình thành và phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Nếu so với trước đó văn xuôi đã có bước phát triển đáng kể. Văn xuôi của Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Đông Hồ, Tương Phố… không chỉ mới mẻ ở câu văn, lời văn, ngôn ngữ mà còn ở cách dẫn chuyện, xây dựng nhân vật, kết cấu và cả những vấn đề hiện thực được đề cập trong đó.
Rồi tiếp theo là Hoàng Ngọc Phách với Tố Tâm, văn xuôi Tự lực văn đoàn, và đặc biệt là văn xuôi hiện thực phê phán mà tiêu biểu là Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố… đã đưa văn xuôi Việt Nam hiện đại lên đỉnh cao rực rỡ. Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn từ 1945 đến 1975. Đây là giai đoạn có nhiều sự kiện lịch sử trọng đại có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của văn xuôi cũng như văn học nói chung. Cách mạng tháng Tám thành công, một chế độ xã hội mới ra đời và tiếp theo là những năm tháng kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc để giữ gìn độc lập của Tổ quốc.
Văn học gắn chặt với sự nghiệp vĩ đại đó của dân tộc. Cho nên đặc điểm của văn xuôi giai đoạn này là văn xuôi sử thi chiếm ưu thế. So với văn xuôi tiền chiến, văn xuôi hiện thực phê phán cách tân quan trọng nhất của văn xuôi giai đoạn này như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định là “phát triển ra nội 11 dung cộng đồng trong đời sống xã hội và phương tiện cộng đồng trong ý thức cá nhân” (Lã Nguyên). Chưa bao giờ hình tượng Tổ quốc, hình tượng tập thể, hình tượng nhân dân lại chiếm ưu thế và hiện lên rực rỡ như thế trong văn học.
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn sau 1975 đến nay. Tuy là một khoảng thời gian không dài, nhưng giai đoạn văn học này vẫn được xem là một giai đoạn phát triển bởi vì nó có những đặc điểm khác với các giai đoạn trước đó. Sau 1975, hiện thực đất nước ta bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ đời sống bất bình thường của “ngày có giặc” (chữ dùng của Hữu Thỉnh) chuyển sang đời sống bình thường. Có những chuyện hôm qua văn học chưa kịp nói đến, chưa được đề cập, còn phải nhìn một cách phiến diện thì nay có điều kiện đề cập, để nhìn lại… Những điều này đòi hỏi văn xuôi phải chuyển kịp với thời đại, phù hợp với hiện thực mới.
Có thể nói trong thời gian qua năm qua văn xuôi đã có nhiều khởi sắc. Dĩ nhiên không phải ai cũng thừa nhận sự khởi sắc đó. Trong bài Thời kỳ văn học vừa qua và xu hướng phát triển của văn học, với tất cả sự thận trọng của một nhà nghiên cứu có kinh nghiệm, Hoàng Ngọc Hiến đã khẳng định : "Thời kỳ văn học từ 75 đến nay đặc biệt quan trọng cho sự định hướng sắp tới… Đến nay đã 15 năm nhưng vẫn còn là sớm để thấy hết chân giá trị của những tác phẩm ra đời và những tác giả xuất hiện được chú ý thời kỳ này, một thời kỳ phong phú các hiện tượng văn học". Và theo ông, đây là thời kỳ của "một sự kinh nghiệm - bừng tỉnh".
Với tư cách là Chủ tịch hội đồng văn xuôi Hội nhà văn Việt Nam, nhà văn Bùi Hiển nhận xét : "Ngay từ đầu những năm 80, đặc biệt là trong văn xuôi, sân khấu và điện ảnh đã bắt đầu xuất hiện những sáng tác mang nhiều sắc thái mới”. 12 Quan sát văn xuôi sau 1975 chúng ta thấy có hai thời kỳ. Thời kỳ đầu là từ 1975 cho đến đầu năm 80. Văn xuôi thời kỳ này tuy có một số biến đổi như mở rộng đề tài, đề cập đến nhiều vấn đề hơn… nhưng về cơ bản vẫn gần với đặc điểm của văn xuôi giai đoạn trước.
Nghĩa là ở những sáng tác này, cảm hứng sử thi vẫn giữ một vai trò quan trọng trong tư duy nghệ thuật. Chúng ta nhớ đến những sáng tác văn xuôi ở thời kỳ này như Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Năm 75 họ đã sống như thế của Nguyễn Trí Huân, Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy, Nắng đồng bằng của Chu Lai, Miền cháy của Nguyễn Minh Châu… Phải từ những năm 80 văn xuôi mới thật sự có những bước chuyển đáng kể. Trước hết là sự tự đổi mới của các nhà văn đã có sáng tác khá vững vàng ở giai đoạn trước. Người ta thấy trong văn xuôi của Nguyễn Minh Châu, Bùi Hiển, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Ma Văn Kháng, Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Oánh, Lệ Lựu… đã bắt đầu có những đổi mới.
Ở đây không chỉ đổi mới ở phạm vi đề tài, vấn đề mà còn là ở tư duy nghệ thuật, cảm hứng, cách viết… Nếu trước đây Lê Lựu là Người về đồng cói, Mở rừng thì bây giờ là Thời xa vắng. Nếu Ma Văn Kháng trước đây là Xa phủ thì bây giờ là Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú. Nếu Nguyễn Quang Sáng trước đây là Chiếc lược ngà, Mùa gió chướng, Chị Nhung…. thì bây giờ là Tôi thích làm vua, Thế võ… Rõ rằng tưrớc một hiện thực mới, một công chúng mới không cho phép nhà văn viết như cũ.
Sự đổi mới của các nhà văn do đó gần như là một tất yếu sống còn của chính họ. Trong số những nhà văn này không thể không kể đến một tên tuổi đã mang đến sự đổi mới rất sớm trong những trang viết của mình, và cũng bằng những trang viết đầy suy tư của mình đã dự cảm rất sớm những biến đổi của xã hội. Đó là nhà văn Nguyễn Minh Châu. Ngay từ sau 1975 và nhất là những năm đầu thập niên 80 với Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, 13 Bức tranh, Bến quê, Mẹ con chị Hằng… rồi Mảnh đất tình yêu, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Cỏ lau… Nguyễn Minh Châu thực sự đã để lại những trang viết của một kiểu tư duy nghệ thuật khác trước.
Và chính ở đó, nhà văn đã nêu lên được, phân tích, lý giải nhiều vấn đề có tầm bao quát rộng lớn. Đặc biệt với sự xuất hiện của một loại cây bút trẻ đã làm thay đổi hẳn bộ mặt và diện mạo của văn xuôi. Các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh… đã mang lại cho văn xuôi những sắc thái mới mẻ. Đọc những cây bút này, người ta có thể chê trách điều này, điều nọ, thảo luận lại nhiều vấn đề, nhưng không thể không thừa nhận những đổi mới mà học đã đem đến trong văn xuôi giai đoạn này.
Sau khi đã nhìn lướt qua một cách khái quát tình hình văn xuôi sau 1975, có thể nêu lên một số đặc điểm để thấy rõ hơn bước phát triển của văn xuôi giai đoạn này. Trước hết có thể thấy rất rõ bước phát triển của văn xuôi trên bình diện tư duy nghệ thuật. Văn xuôi của ta sau 1975 đã chuyển dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết. Cần phải nói ngay rằng sự đối lập giữa tư duy tiểu thuyết và tư duy sử thi về mặt đặc trưng thể loại không có ý nghĩa phân biệt thang bậc giá trị.
Có những đề tài vấn đề có khi tiếp cận bằng tư duy sử thi lại có giá trị hơn tư duy tiểu thuyết và ngược lại. Vấn đề là sự tương ứng giữa đề tài với nội dung thể loại. Văn xuôi trước 1975 chủ yếu là văn xuôi sử thi. Và sự tiếp cận này về cơ bản là phù hợp với đối tượng mà nó phản ánh, cảm hứng mà nó bộc lộ.
Với kiểu tiếp cận này, văn xuôi giai đoạn này cũng đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Sau 1975 như đã nói, hiện thực đời sống đã khác trước, cần phải có cách tiếp cận phù hợp. Điều đó đòi hỏi đổi mới tư duy nghệ thuật. Quá trình đổi mới này đã diễn ra đầy khó khăn và thử thách.
Tư duy nghệ thuật đã dần 14 dần chuyển sang tư duy tiểu thuyết là phù hợp với đối tượng phản ánh và là một quá trình tất yếu trong sự phát triển của văn học. Thật ra, tư duy tiểu thuyết không phải không có trong văn xuôi giai đoạn trước. Trong văn xuôi 1930 - 1945 mà biểu hiện rõ nhất là trong văn xuôi hiện thực phê phán tư duy tiểu thuyết đã chiếm một vị trí đáng kể. Nhưng với văn học cách mạng 1945 - 1975 do đề cập đến những vấn đề lớn lao của dân tộc, của cách mạng nên tư duy sử thi chiếm ưu thế.
Đúng như Hoàng Ngọc Hiến nhận xét : "Trong văn xuôi ta, tư duy tiểu thuyết thảng hoặc bộc lộ ở một số tác phẩm đơn lẻ : Cha và con, và… của Nguyễn Khải, Thời xa vắng của Lê Lựu, nói chung tư duy sử thi chiếm ưu thế". Phải đến sau 1975 và nhất là từ thập niên 80 tư duy nghệ thuật mới chuyển dân từng bước từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết. Có thể thấy quá trình chuyển biến này trong cả lớp nhà văn đã được khẳng định cũng như ở lớp nhà văn mới, xuất hiện trong thời kỳ này. Đọc những Tâm tưởng của Bùi Hiển, Gió từ miền cát của Xuân Thiều, Sống với thời gian hai chiều của Vũ Tú Nam,… đã bắt đầu thấy có cách tiếp cận khác trước.
Ở đây không chỉ ngợi ca khâm phục mà còn là sự phân tích, lý giải các hiện tượng của hiện thực. Nếu trước đây chủ yếu là cách nhìn đơn diện, rạch ròi thiện ác, địch ta, cao cả thấp hèn… thì bây giờ cách nhìn nhiều chiều hơn, đa diện hơn, phức tạp hơn. Đến Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu và nhất là ở lớp nhà văn trẻ sau 1975 cách nhìn tiểu thuyết mới thật sự chiếm vị trí chủ yếu và trở nên có sức thuyết phục trong việc nắm bắt và lý giải hiện thực. Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu xuất hiện sau 1975 đã gây nên tranh luận khá sôi nổi.