Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chương 2: Truyện về đề tài dân tộc và miền núi trong tiến trình văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975. Chương 3: Hình tượng cuộc sống và con người trong truyện viết về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975. Chương 4: Một số phương thức biểu hiện trong truyện về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề liên quan đến truyện về đề tài dân tộc và miền núi 1. Vấn đề bản sắc dân tộc và gìn giữ bản sắc dân tộc Bản sắc dân tộc là gì? Trong thực tiễn đã có rất nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà văn hóa đưa ra khái niệm về bản sắc và bản sắc dân tộc. Với cụm từ bản sắc, chúng tôi xin được dẫn ra ở đây khái niệm mà tác giả Alain J.
Bản sắc không đứng yên, một lần là xong, một lần cho mãi mãi, mà biến đổi, cập nhật. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc thì cho rằng: “Bản sắc không phải là một “cái” mà là một “kiểu”, cái cách một con người hay một dân tộc ứng xử kiểu này hay kiểu khác trước một tình huống, một thách thức, đến từ bên ngoài, từ cái khác, cái lạ. Phát triển theo logic khái niệm nói trên thì bản sắc dân tộc sẽ cơ bản được hiểu là tổng thể những phẩm chất, đặc điểm, tính cách, cách thức để tồn tại và biểu hiện của một cộng đồng xã hội - dân tộc cụ thể, riêng biệt mà nhờ đó người ta mới có thể xác định được một dân tộc giữa quần thể các dân tộc trong cộng đồng nhân loại nói chung. Hoặc cũng có một cách hiểu khác đó là bản sắc dân tộc được hiểu như sự thể hiện phẩm chất của một dân tộc trong tính riêng biệt, đặc trưng của dân tộc đó.
Tất cả những gì có thể coi là cốt lõi, chủ yếu, là hình ảnh trung thực về đời sống của một cộng đồng, tạo thành cái gọi là linh hồn, là bản lĩnh, là sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của một dân tộc. Với dân tộc Việt Nam thì bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được vun đắp nên qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn, tự cường dân tộc, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, cần cù, sáng tạo. Tất cả đã kết tinh thành sức mạnh và in đậm dấu ấn độc đáo của cộng đồng 54 dân tộc trên dải đất hình chữ S.
Trong giai đoạn quốc tế hóa và hội nhập sâu rộng như hiện tại, vấn đề gìn giữ, bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc và các giá trị văn hóa truyền thống đã thực sự trở nên cấp bách, trở thành vấn đề “nóng” được không ít các quốc gia trên thế giới chú trọng, đầu tư, trong đó có các quốc gia thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, mà Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Đa phần, các nhà học giả, các nhà văn hóa uy tín của nhiều quốc gia trên các diễn đàn khác nhau thời gian qua đã bày tỏ sự quan ngại sâu sắc của mình về mối quan hệ giữa quá trình phát triển, tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của các nền kinh tế một cách mạnh mẽ với công tác bảo tồn tính độc đáo, riêng biệt về văn hóa, phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng. Chính vì vậy, ngay vào những năm cuối của thế kỷ XX, các nhà khoa học xã hội - nhân văn của Châu Á đã tổ chức liên tục 03 cuộc hội thảo tại Thủ đô Hà Nội (Việt Nam), thành phố NoọngKhai (Thái Lan) và Thủ đô Tokyo (Nhật Bản) với chủ đề: Bản sắc dân tộc và văn hóa truyền thống trong hội nhập phát triển và toàn cầu hóa. Tại các hội thảo này có nhiều vấn đề cấp bách được đặt ra xung quanh chủ đề trên với tất cả các nước nằm trong khu vực, trong đó có vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc của các dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập quốc tế cũng được đưa ra thảo luận - như là một vấn đề quan trọng của hội thảo.
Với một cái nhìn mang tầm vĩ mô, các học giả của các nước: Nhật Bản, Trung Quốc, Malayxia, Singapo, Thái Lan. và Việt Nam đã thống nhất quan điểm: cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa bản sắc dân tộc, văn hóa và phát triển; cần phải có những đường lối, chính sách đúng; và phải có một 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com loạt các biện pháp đồng bộ, liên hoàn trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc riêng của địa phương và tộc người; bên cạnh việc giao lưu, tiếp thu và hợp tác văn hóa giữa các nước để làm giàu thêm, phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân các dân tộc. Riêng đối với vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Châu Á trong đó có Việt Nam đã được hội thảo đặc biệt chú ý với hàng chục tham luận của các nhà văn hóa, nhà khoa học xã hội - nhân văn uy tín của châu lục như: KaWadaJunzo (Nhật Bản), TuWeiMing (Trung Quốc), Hood Salleh (Malaysia), PoncianoL. Trong các bài phát biểu của mình, các học giả đều nhấn mạnh: “Cần phải biết trân trọng bản sắc và tính sáng tạo của nền văn hóa địa phương” (nhà nghiên cứu KaWadaJunzo), “Cần phải bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số” trong “các thách thức”, “trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế” (các tác giả: Võ Quý, TuWeiMing, XuJianchu.; Và một trong các giải pháp cụ thể mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra là: Phải chú ý đến việc bảo tồn ngôn ngữ, bảo tồn văn hóa, văn học nghệ thuật, bảo tồn môi trường sống; đặc biệt là “phải biết quý trọng, bảo vệ và phát huy vai trò cá nhân của các nhà văn hóa dân tộc địa phương, đào tạo và bồi dưỡng những nhân tố, những người tiêu biểu cho sự kế thừa và phát triển văn hóa dân tộc” trong thời kỳ hội nhập.
Có thể thấy, đây là những quan điểm đúng đắn, có ý nghĩa quan trọng, có tính định hướng rõ ràng đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong đời sống văn hóa nói chung, trong lĩnh vực văn học nghệ thuật về mảng đề tài dân tộc và miền núi nói riêng. Quan điểm này có thể được coi là cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn để các nhà nghiên cứu, phê bình văn học tích cực đi sâu vào nghiên cứu, sưu tầm vốn văn học dân gian truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng cao, bên cạnh việc nghiên cứu một cách hệ thống, bài bản 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “…những sáng tác mới trong thời kỳ hiện đại của các nhà văn viết về đề tài dân tộc, miền núi. Tiếp cận văn hóa học và các tác phẩm văn học về đề tài dân tộc và miền núi Xu hướng vận dụng các quan điểm và thành tựu văn hóa để lý giải văn học mới xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XX mà người khởi xướng là M.Bakhtin, giáo sư văn học người Nga thuộc Đại học Saransk. Ông quan niệm rằng: “Trước hết, khoa nghiên cứu văn học cần phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử văn học.
Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa. Không thể hiểu nó ngoài cái bối cảnh nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại”. Phương pháp tiếp cận văn học từ quan điểm văn hóa học ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn hóa trong đó tác phẩm văn học đã ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mỹ, quan niệm về con người. từng tồn tại trong một không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm về các mặt xây dựng nhân vật, kết cấu, mô típ, hình tượng, ngôn ngữ.
Tóm lại, phương pháp này thiên về giải mã các hình tượng nghệ thuật, tìm ra dấu ấn của thời đại trong tác phẩm. Phương pháp tiếp cận văn hóa học gần với phương pháp thi pháp học vì nó vận dụng những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp của tác phẩm. Tuy nhiên, điểm khác biệt là ở chỗ, tiếp cận văn hóa học không chủ trương miêu tả thế giới nghệ thuật của tác phẩm như một vũ trụ khép kín mà đặt ra nhiệm vụ đối chiếu, so sánh, truy nguyên các quan niệm văn hóa của thời đại, nơi tác phẩm được sản sinh để tìm nguồn gốc của các dạng thức quan niệm về con người, về không - thời gian trong tác phẩm. Xuất phát từ ý thức rằng không có một nền văn hóa chung chung, trừu tượng nằm ngoài không 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gian và thời gian, phương pháp tiếp cận văn hóa học luôn chú ý đến tính lịch sử cụ thể của một quan niệm giá trị văn hóa, đến đặc trưng của cấu trúc hệ thống văn hóa.
Đến lượt mình, các quan niệm này lại là sản phẩm của những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể xác định. Nếu coi văn hóa là các thiết chế đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người, là các giá trị hình thành trong các mối quan hệ ứng xử căn bản: ứng xử xã hội, ứng xử thiên nhiên và ứng xử với bản thân, thì phương pháp tiếp cận văn hóa học cũng có những tiêu chí tương ứng khi nghiên cứu, xem xét, đánh giá một hiện tượng văn học. Trước tiên, cần chú ý tới quan niệm về xã hội và các kiểu hình tượng xã hội trong văn học. Đó là các kiểu không gian tồn tại của con người: không gian lao động sản xuất, không gian sinh hoạt văn hóa, không gian đấu tranh, không gian xã hội mang màu sắc chính trị và cả không gian xã hội được khúc xạ qua những biểu tượng (ví dụ: các biểu tượng “đất khách quê người”, “chân trời góc bể”, “cõi người ta”, “miền nhân gian” trong văn học cổ).
Thứ hai là quan hệ của con người với thiên nhiên và các hình tượng thiên nhiên. Mọi hoạt động của con người không tách rời môi trường thiên nhiên. Thiên nhiên là người bạn, là chứng nhân cho tâm lý, tâm trạng, tình cảm của con người.