chương I của cuốn sách “Những truyền thống lịch sử lâu đời về mảnh đất và con người Vụ Bản” đã giới thiệu tới bạn đọc những nét lớn về lịch sử, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội Vụ Bản. Năm 2003, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Uỷ bản nhân dân tỉnh Nam Định đã chỉ đạo biên soạn cuốn Địa chí Nam Định [64]. Đây là công trình nghiên cứu tổng hợp về địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa Nam Định qua các thời kỳ lịch sử, có giới thiệu khá đầy đủ về vùng đất Thiên Bản-Vụ Bản. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Cũng vào năm 2003, trong cuốn Lễ hội cổ truyền ở Nam Định [56], nhà nghiên cứu Hồ Đức Thọ đã đề cập đến quá trình hình thành, phát triển lễ hội ở Nam Định và giới thiệu đến bạn đọc 40 lễ hội tiêu biểu của quê hương trong đó có một số lễ hội chính của Thiên Bản-Vụ Bản như hội Phủ Giầy.
Năm 2010, tác giả Hồ Đức Thọ sưu tầm, biên soạn cuốn Huyền tích Thánh mẫu Liễu Hạnh và di sản văn hóa lễ hội Phủ Giầy [55] giới thiệu khá kĩ về thánh Mẫu Liễu Hạnh và lễ hội Phủ Giầy. Tiếp theo là cuốn Nghề và làng nghề truyền thống ở Nam Định [52]. Công trình này đã cung cấp cho độc giả những tư liệu quý về các nghề và làng nghề truyền thống của tỉnh Nam Định trong đó có vùng Thiên Bản-Vụ Bản. Tác giả Bùi Văn Tam – một nhà nghiên cứu của quê hương Vụ Bản năm 2010 đã xuất bản cuốn Văn hóa làng trên đất Thiên Bản vùng đồng bằng sông Hồng [35].
Như tên sách được đặt, trong tập khảo cứu này, tác giả đi sâu vào văn hóa làng ở một miền quê có lịch sử lâu đời ở phía nam đồng bằng sông Hồng. Đặc biệt là cuốn Địa chí văn hóa huyện Vụ Bản [36] của nhà nghiên cứu Bùi Văn Tam. Đây là một công trình mang tính tổng hợp về tất cả các mặt lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa… của huyện Vụ Bản. Trong cuốn sách này, chúng tôi đặc biệt chú ý đến chương VIII vì chương này cung cấp một cái nhìn tổng thể về tình hình văn học nghệ thuật của vùng Thiên Bản-Vụ Bản trong đó có văn học dân gian.
Tuy nhiên, công trình này cũng không phải là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn học dân gian của vùng Thiên Bản-Vụ Bản. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã đề cập ở trên, chủ yếu mới là những công trình sưu tầm, giới thiệu và có những giải thích, nhận định bước đầu về nội dung, nghệ thuật của các tác phẩm văn học dân gian thuộc các thể loại khác nhau của văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản. Các công trình kể trên chưa tiếp cận ở các phương diện đặc trưng khái quát mang tính vùng miền, chưa đi sâu chỉ ra đặc điểm của từng thể loại, cũng như chưa xem xét văn học dân gian với tư cách là một bộ phận, một thành tố của văn hóa dân gian, nên chưa chỉ ra được mối quan hệ nhiều chiều giữa văn học dân gian và văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài 1. Văn hóa dân gian và văn học dân gian 1. Văn hóa dân gian Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Vì vậy, văn hóa mang tính khác biệt và tính đại diện.
Mỗi nền văn hóa đều đại diện cho một cộng đồng. Sự đa dạng của các dân tộc cũng chính là sự đa dạng của văn hóa. Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa. Do đó, việc vận dụng các quan điểm và thành tựu của văn hóa để nghiên cứu, lí giải văn học là một hướng tiếp cận được vận dụng khá phổ biến hiện nay.
Năm 1846, trên một tờ tạp chí về khảo cổ của Anh, Wiliam Thoms-nhà nhân chủng học người Anh, đã dùng khái niệm “folklore”, trong đó “folk” có nghĩa là dân chúng, “lore” là tri thức, sự hiểu biết, “folklore” có nghĩa là trí tuệ của dân chúng, với ý nghĩa dùng để chỉ những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là những di tích của nền văn hóa tinh thần của nhân dân có liên quan tới văn hóa vật chất như phong tục, đạo đức, nghi lễ, lễ hội, ca dao, truyện kể của các thời đại trước. Vào những năm 70, 80 của thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã sử dụng và dịch thuật ngữ folklore ra Tiếng Việt là văn nghệ dân gian hay văn hóa dân gian và cho đến nay chính thức dịch là văn hóa dân gian. Văn hóa dân gian có một ví trí vô cùng quan trọng đối với nền văn hóa dân tộc. Do vậy không thể hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam nếu như không hiểu văn hóa dân gian Việt Nam.
Các nhà nghiên cứu dân gian Việt Nam đã thống nhất quan niệm văn hóa dân gian- folklore gồm 3 bộ phận: Nghệ thuật ngôn từ dân gian, Nghệ thuật tạo hình dân gian, Nghệ thuật diễn xướng dân gian. Ba thành phần này vừa có tính độc lập tương đối vừa có mối liên hệ, ảnh hưởng lẫn nhau. Chính vì vậy, văn học dân gian không chỉ là đối tượng khai thác nghiên cứu của khoa nghiên cứu văn học dân gian mà còn là đối tượng của nhiều khoa học liên quan gần gũi khác như ngôn ngữ, triết học, khảo cổ, âm nhạc, sân khấu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Văn học dân gian Văn học dân gian (nghệ thuật ngôn từ dân gian) là những sáng tác văn học do nhân dân tạo nên và lưu truyền. Văn học dân gian cũng là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ như văn học viết, nhưng lại có những đặc điểm riêng về lịch sử ra đời, phát triển, về người sáng tác, cách lưu truyền, nội dung, tư tưởng và thể loại nghệ thuật. Văn học dân gian đã được các nhà folklore Việt Nam thống nhất ở cách phân loại như sau. Về loại hình, gồm có các loại hình tự sự, trữ tình, luận lý, kịch-sân khấu dân gian.
Loại hình tự sự gồm các thể loại thần thoại, truyền thuyết, truyện cười, truyện ngụ ngôn được thể hiện bằng các lối kể. Loại hình trữ tình gồm các thể loại ca dao, dân ca được thể hiện bằng các lối hát. Loại hình luận lí có các thể loại câu đố, tục ngữ được thể hiện bằng hình thức lời nói. Loại hình kịch-sân khấu dân gian trong đó có các trò diễn, chèo, tuồng dân gian được thể hiện bằng phương thức biểu diễn, múa.
Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa dân gian Văn học dân gian vừa là một bộ phận của văn học dân tộc, vừa là một bộ phận của văn hoá dân gian, đóng vai trò, vị trí quan trọng trong đó. Vì vậy, khi nghiên cứu về văn học dân gian, cần chú ý tới mối quan hệ tổng hoà giữa tác phẩm văn học dân gian với nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật tạo hình dân gian (vũ đạo, âm nhạc, hội họa…), với những yếu tố thuộc về truyền thống, tinh thần, tâm linh như tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lễ hội… Đặt tác phẩm văn học dân gian vào môi trường diễn xướng tức là đặt tác phẩm văn học dân gian trong văn hoá dân gian vậy. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa dân gian được thể hiện ở những khía cạnh sau: Văn học dân gian mang dấu ấn của tín ngưỡng, hoặc phản ánh tín ngưỡng, hoặc thể hiện tín ngưỡng. Văn học dân gian phản ánh hoặc đúc kết phong tục, tập quán vùng miền.
Văn học dân gian có vai trò giải thích cho nguồn gốc lễ hội, làm cho lễ hội có nội dung thêm sinh động, cụ thể. Ngược lại, lễ hội có vai trò bảo lưu, giữ gìn văn học dân gian. Thần tích (và lễ hội) lưu giữ văn học dân gian. Đây là kênh tham khảo giúp bổ sung, mở rộng cho việc tìm hiểu văn học dân gian.
Lý thuyết và khái niệm vùng văn hóa, vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ 1. Vùng văn hóa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Vùng văn hóa là một không gian văn hóa nhất định, được tạo thành bởi các đơn vị dân cư trên một phạm vi địa lý của một hay nhiều tộc người. Họ đã sáng tạo ra một hệ thống các dạng thức văn hóa mang đậm sắc thái tâm lý cộng đồng, thể hiện trong môi trường xã hội nhân văn thông qua các hình thức ứng xử của con người với tự nhiên, xã hội và ứng xử với nhau trên một tiến trình lịch sử phát triển lâu dài, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác. Về quan điểm phân vùng văn hóa Việt Nam, hiện nay đang tồn tại những quan điểm không hoàn toàn trùng nhau trong giới khoa học ở Việt Nam.
Quan điểm phân vùng của GS Đinh Gia Khánh và nhà thơ Cù Huy Cận trong công trình Các vùng văn hoá Việt Nam [10] chia vùng văn hoá nước ta thành 9 vùng, đó là: 1.Văn hoá đồng bằng miền Bắc; 2. Văn hoá Việt Bắc; 3. Văn hoá Tây Bắc; 4. Văn hoá Nghệ - Tĩnh; 5.
Văn hoá Thuận Hoá - Phú Xuân; 6. Văn hoá Nam Trung bộ; 7. Văn hoá Tây Nguyên; 8. Văn hoá đồng bằng miền Nam; 9.
Văn hoá Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. GS Trần Quốc Vượng trong công trình Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam [66] đã chia các vùng văn hoá Việt Nam làm 6 vùng như sau: 1. Vùng văn hoá Tây Bắc; 2. Vùng văn hoá Việt Bắc; 3.
Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ; 5. Vùng văn hoá Trung Bộ; 6. Vùng văn hoá Tây Nguyên; 7. Vùng văn hoá Nam Bộ.
GS Ngô Đức Thịnh trong công trình Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam [47] chia Việt Nam thành 7 vùng văn hoá khác nhau, đó là: 1. Đồng bằng Bắc bộ; 2. Tây Bắc và miền núi Bắc Trung bộ; 4. Đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ; 5.
Duyên hải Trung và Nam Trung Bộ; 6. Trường Sơn - Tây Nguyên; 7. Gia Định - Nam Bộ thuộc địa phận các tỉnh Nam Bộ. GS Ngô Đức Thịnh cho rằng trong mỗi vùng có các tiểu vùng, trong vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ có tám tiểu vùng: Đất Tổ Vĩnh Phú (Xứ Đoài); Kinh Bắc - Xứ Bắc; Thăng Long - Hà Nội; duyên hải Đông Bắc (Xứ Đông); trũng Hà Nam Ninh (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình ngày nay); Hưng Yên; duyên hải Tiền Hải - Hải Hậu, lưu vực sông Mã.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.