Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về văn hoá ứng xử của nhân viên thuế Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng văn hoá ứng xử của nhân viên thuế tại Chi cục thuế thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 4: Định hướng và một số giải pháp nâng cao văn hoá ứng xử của nhân viên thuế tại Chi cục thuế thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HOÁ ỨNG XỬ CỦA NHÂN VIÊN THUẾ 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm văn hóa Khái niệm văn hóa chưa bao giờ được đề cập nhiều trong học thuật cũng như trong thực tế đời sống hiện nay. Bởi nói tới văn hóa là nói tới ý thức, cái gốc tạo nên “tính người” cùng những gì thuộc về bản chất làm cho con người trở thành chủ thể năng động, sáng tạo trong cuộc sống, trong lao động sản xuất. Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa. Khái niệm đầu tiên về văn hóa được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa văn hóa của nhà nhân chủng học E.B Tylor đưa ra: “Văn hoá là một tổng thể phức hợp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và toàn bộ những kỹ năng, thói quen mà con người đạt được với tư cách là thành viên của một xã hội”.
Theo Tylor ta có thể hiểu: Văn hoá, là toàn bộ phức hợp những ứng xử, giá trị và những thành tựu của con người như một thành viên xã hội lịch sử trong các mối quan hệ với thế giới tự nhiên, quần thể cộng đồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 5 và bản ngã tâm linh. Nói một cách ngắn gọn hơn: Văn hoá, sự phản ứng và cách ứng xử chung của cộng đồng trước thiên nhiên và xã hội. Theo UNESCO, “Văn hoá là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần vật chất, tri thức, linh cảm… khắc hoạ nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, quốc gia, xã hội…”. Có một định nghĩa khác dễ hiểu hơn và tiệm cận gần hơn đến bản chất của văn hoá mà ngày nay nhiều người tán thành với định nghĩa này, đó là định nghĩa của Frederico Mayyor, tổng giám đốc UNESCO.
Frederico Mayyor cho rằng: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”. Theo nghiên cứu của TS Nguyễn Văn Bính thì văn hoá được hiểu là: Kết quả hoạt động sáng tạo của con người thông qua quá trình giao tiếp- ứng xử của con người với tự nhiên, xã hội đồng thời cải biến tự nhiên, xã hội ngày một phát triển cao hơn. Như vậy, thực chất văn hoá là hệ thống các giá trị được sản sinh ra trong một xã hội nhất định, được đặc trưng bởi hình thái kinh tế xã hội nhất định, bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Văn hoá không phải là một yếu tố phi kinh tế, trái lại, văn hoá và kinh doanh lại có mối quan hệ qua lại gắn bó mất thiết với nhau: Văn hoá và kinh doanh đều có mục tiêu chung là phục vụ con người, văn hoá là nguồn lực lớn cho kinh doanh, tuy nhiên mục tiêu ngắn hạn của văn hoá và kinh doanh lại có thể trái ngược nhau, nếu kinh doanh chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt thì sẽ gây tác hại cho văn hoá, xói mòn bản sắc văn hoá dân tộc, khi nền văn hoá mang những yếu tố không phù hợp sẽ kìm hãm, cản trở sự phát triển của kinh doanh.
Khái niệm về ứng xử Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 6 Ứng xử là thái độ, hành vi, lời nói thích hợp trong quan hệ giao tiếp giữa người với người, giữa người với thiên nhiên. Thuật ngữ văn hoá đặt trước ứng xử có nghĩa là tô đậm thêm chiều cao phẩm chất, chiều rộng quan hệ của người ứng xử. Có con người là có cách ứng xử giữa họ với nhau, giữa họ với môi trường sống. Những văn hoá được hình thành từ khi văn minh phát triển ở một cấp độ nào đó nhằm diễn đạt cách ứng xử con người với thiên nhiên, đối với xã hội và đối với chính mình.
Có hai quan niệm về ứng xử. Một là khuynh hướng chủ quan dựa trên cơ sở cá nhân và cộng đồng; theo đó, ta dựa vào tư duy, tình cảm, cảm xúc… bản thân và cộng đồng mà tìm hiểu tâm lý riêng chung. Ứng xử được ghi nhận như những kết quả cấu thành bằng trực giác hoặc suy diễn từ cái riêng cá nhân cho chung mọi người, từ đó tạo ra các phản hồi đưa ra môi trường bên ngoài. Khuynh hướng thứ hai là khách quan.
Hành vi ứng xử được nghiên cứu bằng công cụ: điều tra bằng câu hỏi, sử dụng kích thích (âm thanh, tiếng nói, thuốc ngủ), so sánh (người và vật, các lứa tuổi) và phân tâm học, sau đó có được sự thu nhận và phân tích những phản hồi. Ứng xử cũng có thể được coi như một khái niệm nhân học văn hóa. Đối tượng của nhân học văn hóa rất rộng nhưng chủ yếu là nghiên cứu con người, coi con người như là những sinh vật có tính xã hội và tính văn hóa. Những ứng xử bình thường hay không bình thường thay đổi tùy theo mỗi nền văn hóa.
Nhân học văn hóa không chú trọng đến hành động ứng xử có tính chất cá biệt mà nghiên cứu môi trường tự nhiên và xã hội đã ảnh hưởng thế nào đến ứng xử con người. Như vậy, dù hiểu theo quan niệm nào thì khái niệm ứng xử đều mang ý nghĩa như sau: “Ứng xử là nhũng phản ứng hành vi của con người nảy sinh trong quá trình giao tiếp, do những rung cảm cá nhân kích thích nhằm truyền Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 7 đạt, lĩnh hội những tri thức, kinh nghiệm và vốn sống của cá nhân, xã hội trong những tình huống nhất định” 1. Khái niệm văn hóa ứng xử- văn hóa ứng xử nơi công sở Các khái niệm về văn hóa và ứng xử đều là cơ sở để hình thành nên khái niệm văn hóa ứng xử. Có nhiều cách quan niệm về văn hóa ứng xử.
Dưới đây, tác giả xin đưa ra hai khái niệm cơ bản nhất về văn hóa ứng xử được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu hiện nay. Thứ nhất, theo quan điểm của Taylor (2003) khi nghiên cứu về văn hóa ứng xử trong doanh nghiệp, tác giả đưa ra khái niệm như sau:. “Văn hoá ứng xử trong doanh nghiệp chính là các mối quan hệ ứng xử mang tính chất chuẩn mực đã được các thành viên trong doanh nghiệp công nhận và cùng nhau thực hiện vì sự vững mạnh của văn hoá doanh nghiệp nói riêng và sự phát triển của doanh nghiệp nói chung; đó là mối quan hệ ứng xử giữa người chủ doanh nghiệp với các thành viên trong doanh nghiệp, giữa các thành viên doanh nghiệp với chủ doanh nghiệp, ứng xử giữa những người đồng nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, và với môi trường thiên nhiên. Các mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp nếu được xây dựng, hưởng ứng, duy trì và phát triển bền vững sẽ góp phần tạo ra mối liên kết chặt chẽ trong toàn doanh nghiệp, thúc đẩy các yếu tố khác trong cấu trúc văn hoá doanh nghiệp phát triển, kích thích sự sáng tạo và tính dân chủ; ngược lại sẽ là những mâu thuẫn, xung đột lợi ích giữa các thành viên, chán nản với công việc…”.
Thứ hai, tác giả Philip Koter(1987) đưa ra khái niệm văn hóa ứng xử như sau khi nghiên cứu về văn hóa ứng xử của doanh nghiệp: “Văn hóa ứng xử là thế ứng xử, là sự thể hiện triết lí sống, các lối sống, lối suy nghĩ, lối Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 8 hành động của một cộng đồng người trong việc ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội từ vi mô (gia đình) đến vĩ mô (nhân gian). Văn hóa ứng xử phải được nhìn nhận từ ít nhất dưới bốn chiều kính của con người: quan hệ với tự nhiên - chiều cao, quan hệ với xã hội - chiều rộng, quan hệ với chính mình - chiều sâu, quan hệ với tổ tiên và con cháu mai sau - chiều lịch sử” Đối với văn hóa ứng xử nơi công sở, cũng giống như bất cứ một loại văn hóa ứng xử nào khác và được hiểu là “một trong những hành vi và quy ước mà con người dựa vào đó để điều khiển các mối quan hệ tương tác của mình với những người khác. Văn hóa này bao gồm cả những quy định chính thức, được ghi thành văn bản pháp luật của Nhà nước, quy định của một cơ quan, đơn vị hành chính, hoặc sự nghiệp, hoặc một công ty và cả những quy định bất thành văn mà chúng ta được học bằng kinh nghiệm. Như vậy, văn hóa ứng xử nơi công sở nói chung và doanh nghiệp nói riêng là một trong những vấn đề rất quan trọng, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập như hiện nay, các luồng văn hóa nước ngoài cũng theo đó mà vào.
Có nhiều luồng văn hóa tốt nhưng cũng có không ít luồng văn hóa không lành mạnh. Làm thế nào để điều chỉnh hành vi ứng xử để bảo tồn văn hóa mà vẫn du nhập được văn minh, tiến bộ nhân loại. Để làm tốt điều này thì mọi thành viên trong công sở phải biết tự điều chỉnh quan điểm hành vi ứng xử sao cho lành mạnh, hài hòa và tiên tiến. Văn hóa ứng xử của nhân viên công chức ngành thuế 1.
Khái niệm về văn hóa ứng xử của nhân viên thuế Những nghi thức ứng xử chốn công sở đã trở thành việc nên làm và đôi khi là bắt buộc phải làm. Tuy nhiên, không phải ai cũng chấp nhận và thực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 9 hiện một cách nghiêm túc với nhiều lý do khác nhau. Văn hoá ứng xử trong các cơ quan, doanh nghiệp, đặc biệt là của nhân viên thuế, đó là các mối quan hệ ứng xử giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các đồng nghiệp với nhau, giữa con người với công việc, giữa nhân viên thuế và người nộp thuế, đối với mọi người xung quanh được xây dựng trên những giá trị chung.