Tổng quan về luận án

Nghiên cứu văn bia Hán Nôm tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là công trình tiên phong trong việc tiếp cận toàn diện hệ thống di sản minh văn tại một đô thị thương cảng phương Nam có lịch sử hình thành hơn 300 năm. Vùng đất Sài Gòn – Gia Định bắt đầu ghi dấu ấn hành chính xác lập chủ quyền của Đại Việt từ dấu mốc lịch sử: "Năm 1623, khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên sai một phái bộ tới yêu cầu vua Chân Lạp cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Đến tháng 2 năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu bắt đầu cho đặt phủ Gia Định, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình [Đại Nam thực lục tập 1, 2010, tr. 97]". Dù đóng vai trò trung tâm kinh tế - văn hóa trọng yếu của Nam Bộ, kho tàng văn khắc Hán Nôm tại đây từng bị xem là "vùng trắng" tư liệu do quan niệm phiến diện về lịch sử non trẻ so với các trung tâm văn hiến lâu đời ở Bắc Bộ và Trung Bộ.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) thể hiện rõ ở chỗ: Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) và Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong nhiều thập kỷ qua chỉ lưu giữ vỏn vẹn 5 đơn vị thác bản văn bia tại TP.HCM (gồm bia mộ Võ Di Nguy ký hiệu 20929, Lê Công miếu bi N0 M13043, mộ bi Phạm Trung Nhã N0 M137b, thơ khắc tượng đá N0 M145, và Bi Nhu quận công mộ chí N0 13044). Hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây (như Li Tana & Nguyễn Cẩm Thúy, 1997; Võ Văn Tường, 1986) chỉ dừng lại ở khảo sát đơn lẻ từng di tích hoặc dịch thuật sơ lược một nhóm văn bia hội quán, thiếu vắng một công trình tổng kiểm kê, giám định niên đại và khai thác liên ngành.

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu trung tâm:

  1. Hệ thống văn bia Hán Nôm TP.HCM có quy mô phân bố không gian, thời gian và loại hình học như thế nào trong tiến trình đô thị hóa?
  2. Minh văn Hán Nôm phản ánh cấu trúc kinh tế - xã hội, mạng lưới bang hội thương nghiệp và vai trò của giới nữ Nam Bộ ra sao?
  3. Sự dung hợp tư tưởng Nho - Phật - Đạo cùng các tín ngưỡng bản địa (Thiên Hậu, Quan Đế) thể hiện đặc trưng tiếp biến văn hóa nào của cư dân Nam Bộ?

Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa Bi ký học kinh điển (Epigraphy), Văn bản học Hán Nôm và Thông diễn học lịch sử (Historical Hermeneutics). Luận án khảo sát thực địa toàn diện trên quy mô 325 văn bia Hán Nôm (gồm 300 văn bia khảo sát trực tiếp tại thực địa và 25 đơn vị thác bản, tư liệu bổ trợ), trải rộng qua 24 quận, huyện từ năm 1779 đến 2015. Công trình mang tính đột phá khi giải mã trọn vẹn diện mạo văn hiến, thương mại và nhân học lịch sử của vùng đất phương Nam.

Literature Review và Positioning

Lịch sử nghiên cứu kim thạch học trong vùng đồng văn Đông Á đã hình thành những truyền thống học thuật đồ sộ. Tại Trung Quốc, khởi nguồn từ Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp (thiên Lụy bia), đến Âu Dương Tu (Tập cổ lục), Triệu Minh Thành (Kim thạch lục) thời Bắc Tống và Diệp Xương Xí (Ngữ thạch) thời Thanh, bi ký học đã trở thành một khoa học độc lập. Tại Nhật Bản, các công trình của Shinozaki Shirou (1942) và Kizaki Aikichi (1972) đã hệ thống hóa minh văn kim thạch quốc gia. Tại Hàn Quốc, Jinzhengxi (1786-1856) với Lễ đường kim thạch quá nhãn lục và Choi Young Sung (2007) đặt nền móng vững chắc cho khảo chứng học bi ký.

Đối với khu vực Đông Nam Á, nghiên cứu văn khắc chữ Hán của cộng đồng Hoa kiều đã đạt nhiều thành tựu vượt bậc: Nhiêu Tông Di (1970) với Tinh Mã Hoa văn bi khắc hệ niên, Trần Kinh Hòa & Trần Dục Tung (1973) với Tân Gia Ba Hoa văn bi minh tập lục (119 văn bia), và gần đây là Đinh Hà Sinh (Kenneth Dean) & Hứa Nguyên Thái (2017) với công trình vĩ mô Singapore Chinese Inscriptions 1819-1911. Các học giả quốc tế đã chứng minh văn khắc là nguồn sử liệu gốc định vị mạng lưới thương mại và cấu trúc xã hội hải ngoại.

Tại Việt Nam, nghiên cứu bi ký học trải qua tiến trình từ sưu tầm truyền thống (Thiền uyển tập anh, Ngô Sĩ Liên, Lê Quý Đôn) đến khảo cứu khoa học hiện đại: Trần Văn Giáp (1969), Đinh Khắc Thuân (1996, 2001), Trịnh Khắc Mạnh (2006, 2008, 2013), Phạm Thị Thùy Vinh (2003) và Nguyễn Hữu Mùi (2013). Tuy nhiên, các công trình quy mô hầu như chỉ tập trung vào văn bia thời Lý - Trần - Mạc - Lê tại các tỉnh Bắc Bộ (Kinh Bắc, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hà Nội) hoặc cố đô Thừa Thiên Huế (Đoàn Trung Hữu, 2015).

Luận án của Phạm Ngọc Hường đã định vị chính xác vị trí của mình: giải quyết cuộc tranh luận khoa học về tính chất phân bố và giá trị của văn khắc Nam Bộ, chuyển từ nhận thức xem văn bia Nam Bộ là "muộn và nghèo nàn" sang chứng minh tính phức hợp, năng động của một đô thị thương nghiệp đa văn hóa hàng đầu khu vực.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mang lại 3 đóng góp lý thuyết căn bản:

  1. Mở rộng Lý thuyết Tiếp biến Văn hóa (Acculturation Theory): Luận án chứng minh quá trình chuyển hóa bản sắc của người Hoa Minh Hương thành chủ thể văn hóa Việt thông qua phân tích văn bia Trùng tu cựu hoạn khoa duyên bi ký (1839) và Trùng tu Minh Hương hội quán bi ký (1901). Khác với mô hình đồng hóa cưỡng bức, văn bia phản ánh quá trình dung hợp tự nguyện, nơi các biểu tượng Nho giáo triều Nguyễn và tín ngưỡng bản địa cùng tồn tại hòa hợp.
  2. Lý thuyết Mạng lưới Xã hội Thương nghiệp (Merchant Guild & Social Capital Theory): Khai thác văn bia hội quán để chứng minh mô hình vốn xã hội của các tập đoàn kinh tế người Hoa (Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Hẹ). Văn bia đóng vai trò như một bản khế ước tài chính công khai, ghi nhận sự đóng góp của các hãng buôn (tiêu biểu như tập đoàn buôn bán lúa gạo Thông Hiệp của Quách Đàm) và hệ thống vận tải đường thủy.
  3. Tái định nghĩa Chủ thể Kinh tế của Phụ nữ Nam Bộ: Luận án mở rộng lý thuyết giới trong nghiên cứu xã hội truyền thống khi chứng minh phụ nữ phương Nam không bị giam hãm trong phạm trù "tam tòng" mà là những nhà tài trợ kinh tế độc lập, đứng tên riêng trong các văn bia công đức và thành lập các tổ chức tài chính cộng đồng.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của đề tài vận hành trên cấu trúc ma trận 3 chiều:

  • Chiều Văn bản học & Giám định học: Giải mã hình thái tự dạng (Khải thư, Lệ thư, Thảo thư), chất liệu khắc (đá hoa cương, đá sa thạch, gỗ tế, hợp chất ô dước, nhôm đúc) và các công thức niên hiệu, quốc hiệu (Đại Nam, Việt Nam, Đại Thanh, Trung Hoa Dân Quốc).
  • Chiều Xã hội học Đô thị: Liên kết dữ liệu văn bia với sự dịch chuyển địa bàn cư trú, sự hình thành các phường hội nghề nghiệp (như nghiệp thợ bạc tại hội quán Lệ Châu tôn vinh tổ nghề Cao Đình Độ) và công trình y tế, giáo dục công ích.
  • Chiều Tôn giáo - Nhân học: Phân tích cấu trúc điện thờ, thiền phái Phật giáo (Lâm Tế tông truyền thừa từ các thiền sư Liễu Quán, Nguyên Thiều) và hệ thống thần linh bảo trợ sông nước (Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân).

Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập nghiêm ngặt trong phạm vi không gian địa lý hành chính 24 quận, huyện của TP.HCM, với khung thời gian kéo dài từ tấm bia cổ nhất chùa Long Thạnh (1779) đến các bia kỷ niệm đương đại năm 2015.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án áp dụng lập trường bản thể luận Hiện thực phê phán (Critical Realism) kết hợp phương pháp luận Thông diễn học Hán Nôm (Hermeneutics). Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (mixed-methods) kết hợp chặt chẽ giữa định tính (khảo chứng văn bản, dịch chú chuyên khảo, phân tích diễn ngôn lịch sử) và định lượng (thống kê phân bố, phân kỳ niên đại, đo lường tần suất xuất hiện danh xưng, địa danh).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình điều tra thực nghiệm được triển khai bài bản qua 4 bước:

  1. Điều tra điền dã thực địa: Rà soát toàn bộ các thiết chế tín ngưỡng, tôn giáo, lăng mộ gia tộc trên địa bàn 24 quận/huyện. Tác giả đã vượt qua trở ngại về chất liệu văn bia khó in rập ở phương Nam bằng cách kết hợp kỹ thuật dập thác bản truyền thống với chụp ảnh kỹ thuật số độ phân giải cao và đo đạc kích thước hiện vật.
  2. Lập thư mục và mã hóa: 325 văn bia được mã hóa chi tiết theo tên bia, địa điểm lưu giữ, niên đại, tác giả soạn khắc, chất liệu, kích thước và tình trạng bảo tồn.
  3. Tam giác đạc tư liệu (Triangulation): Đối chiếu chéo minh văn trên bia với các bộ chính sử triều Nguyễn (Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức), hồ sơ địa chính thời Pháp thuộc và tài liệu lưu trữ của các bang hội.
  4. Thẩm định văn bản học: Phân biệt văn bia nguyên bản và bia khắc lại (trùng khắc), phát hiện các trường hợp ngụy tạo niên đại hoặc can thiệp văn tự sau này.

Data và phân tích

Cơ sở dữ liệu của luận án gồm 325 văn bia với các chỉ số thống kê cụ thể:

Phân bố theo loại hình di tích (Bảng 2.1 & Biểu đồ 2.5):

  • Văn bia chùa (chủ yếu là bia tháp tổ thiền phái): 107 bia (33,0%)
  • Văn bia lăng mộ cổ: 93 bia (28,6%)
  • Văn bia hội quán bang hội: 69 bia (21,2%)
  • Văn bia miếu đường: 24 bia (7,4%)
  • Văn bia y viện, thiện đường: 10 bia (3,1%)
  • Bia nhà thờ Thiên Chúa giáo: 6 bia (1,8%)
  • Bia đình làng người Việt: 4 bia (1,2%)
  • Bia loại hình khác: 12 bia (3,7%)

Phân bố theo không gian địa lý: Mật độ văn bia tập trung cao nhất tại Quận 5 (khu vực Chợ Lớn) với 106 bia (chiếm 32,6% tổng số bia toàn thành phố), tiếp theo là Quận 11 với 41 bia (12,6%), Quận 6 với 23 bia (7,1%), Quận 2 và Bình Tân mỗi nơi 17 bia (5,2%), Quận 1 với 16 bia (4,9%). Ngược lại, các quận ngoại thành như Quận 7, Quận 12, Bình Chánh không phát hiện văn bia Hán Nôm nào còn lưu giữ trên thực địa.

Phân bố theo tiến trình lịch sử (Bảng 2.2):

  • Giai đoạn 1779 – 1861 (Đầu triều Nguyễn): 40 bia (12,3%)
  • Giai đoạn 1862 – 1945 (Thời kỳ Nam Bộ thuộc Pháp): 150 bia (46,2%) – giai đoạn cực thịnh của văn bia đô thị thương nghiệp.
  • Giai đoạn 1946 – 1975: 39 bia (12,0%)
  • Giai đoạn sau 1975: 39 bia (12,0%)
  • Văn bia không xác định niên đại cụ thể: 57 bia (17,5%) (phần lớn là bia tháp vô danh và mộ chí vỡ mòn).

Ghi nhận niên hiệu và quốc hiệu (Bảng 2.3 & 2.4):

  • 11 bia ghi niên hiệu các vua Việt Nam (Minh Mạng: 2, Tự Đức: 4, Thành Thái: 2, Duy Tân: 1, Khải Định: 2), chiếm 3,38%.
  • 20 bia ghi niên hiệu các vua nhà Thanh (Đạo Quang: 2, Hàm Phong: 2, Đồng Trị: 6, Quang Tự: 5), chiếm 6,15%.
  • 19 bia ghi niên hiệu Trung Hoa Dân Quốc (THDQ), tập trung cao nhất tại Quận 5 (13 bia).

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Về mặt sử liệu nhân vật, luận án giải mã và đính chính nhiều thông tin quan trọng: tấm bia Thái bảo Cần Chánh điện Đại học sĩ Đức quốc công Phạm Trung Nhã công mộ bi minh (1857) và hành trình thất lạc 140 năm của văn bia Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng (thân phụ Thái hậu Từ Dụ) trước khi được hoàn trả về Gò Công; dấu tích về vị thế của Thượng công Tả quân Lê Văn Duyệt qua Lê Công miếu bi (1894) và sự đóng góp của phu nhân Đỗ Thị Phận được khắc ghi tại Thất phủ Võ miếu cổ; ghi nhận sự xuất hiện của di tích Thất phủ miếu xưa: "Ở Thất phủ Võ miếu xưa có ít nhất là 9 tấm bia. Trong đó 7 bia đã bị đục bỏ, còn lại hai bia bị hỏng" – nay một tấm đã được giải cứu đưa về Bảo tàng Lịch sử TP.HCM.

Implications đa chiều

  • Về phương diện lý thuyết: Chứng minh tính xác thực tối cao của văn khắc trong việc đính chính sai sót của thư tịch cổ. Như học giả Trần Văn Giáp từng nhận định: "Văn bia là nguồn tư liệu đáng tin cậy trong nghiên cứu mọi mặt đời sống xã hội từng thời kỳ... có đủ thẩm quyền chỉnh lý và giám định các tài liệu sách vở khác".
  • Về phương pháp luận: Thiết lập chuẩn mực nghiên cứu bi ký học đô thị (urban epigraphy), cung cấp quy trình khảo sát các di sản văn khắc trong bối cảnh tốc độ giải tỏa đô thị hóa diễn ra khốc liệt.
  • Về ứng dụng thực tiễn & chính sách: Cung cấp danh mục kiểm kê khoa học (Phụ lục 3 với 325 văn bia) cho Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM, làm cơ sở xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia và cấp thành phố, đồng thời xây dựng phương án bảo tồn khẩn cấp các văn bia có nguy cơ biến mất.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn thừa nhận các giới hạn học thuật:

  1. Giới hạn bảo tồn hiện vật: Nhiều văn bia trên thực địa bị phong hóa nặng nề, chữ bị mờ mòn không thể phục dựng trọn vẹn văn bản học (57 bia khuyết niên đại và thông tin văn tự).
  2. Rào cản in rập: Do đặc thù nhiều bia gắn chặt vào tường vôi ẩm thấp hoặc chạm khắc trên vòm trần (như 21.000 chữ tại chùa Huệ Nghiêm) nên không thể thực hiện dập thác bản theo phương pháp truyền thống.
  3. Độ bao phủ ngoại thành: Chưa thể mở rộng khảo sát sâu hệ thống minh văn trên chuông đồng, hoành phi, câu đối và khánh gỗ tại các huyện vùng ven như Cần Giờ, Củ Chi.

Chương trình nghiên cứu tương lai (10 năm tới) cần tập trung:

  • Số hóa 3D (Photogrammetry) và ứng dụng công nghệ quét laser để giải mã các văn bia mờ mòn.
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu mạng lưới văn bia Chợ Lớn với hệ thống văn bia các thương cảng cổ Nam Bộ như Hà Tiên, Cù Lao Phố (Biên Hòa), Mỹ Tho.
  • Dịch thuật và công bố toàn văn bộ Tổng tập Văn khắc Hán Nôm Nam Bộ.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án tạo ra tác động học thuật sâu rộng, được trích dẫn trong nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử kinh tế Nam Bộ, văn hóa di dân người Hoa và nhân học tôn giáo. Về mặt chính sách, công trình đóng góp trực tiếp vào công tác bảo tồn di sản tại các hội quán Nghĩa An, Tuệ Thành, Nhị Phủ, Lệ Châu – những công trình kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Về mặt xã hội, luận án giúp cộng đồng cư dân đô thị và kiều bào người Hoa hiểu rõ cội nguồn gắn kết dân tộc, truyền thống tương trợ đồng bào và tinh thần cộng sinh văn hóa Việt - Hoa trong tiến trình kiến thiết vùng đất Sài Gòn – TP.HCM từ thế kỷ XVII đến nay.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh & Giảng viên ngành Hán Nôm, Sử học, Văn hóa học: Tiếp cận nguồn tư liệu gốc chuẩn xác gồm 325 văn bia được khảo đính, phiên âm, dịch nghĩa và chú giải khoa học.
  • Nhà quản lý Di sản & Cơ quan Hoạch định Chính sách Văn hóa: Nắm giữ bộ cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh để phân cấp quản lý, tu bổ và ngăn chặn tình trạng xâm hại văn bia tại các di tích tôn giáo, hội quán.
  • Các tổ chức văn hóa, Hội đồng Trị sự Bang hội & Doanh nghiệp du lịch: Khai thác nội dung văn bia để xây dựng các sản phẩm du lịch di sản văn hóa tâm linh và du lịch lịch sử đô thị Chợ Lớn.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?

Luận án mở rộng thuyết Tiếp biến văn hóa và Hội nhập xã hội trong bối cảnh đô thị thương nghiệp Đông Nam Á. Thông qua khảo cứu các văn bia tại hội quán Minh Hương Gia Thạnh (Trùng tu cựu hoạn khoa duyên bi ký, 1839) và đền miếu người Việt, luận án chứng minh quá trình chuyển hóa bản sắc từ "di thần phản Thanh phục Minh" trở thành các thần dân, quan lại trung thành của triều đình nhà Nguyễn và hòa huyết hoàn toàn vào dân tộc Việt Nam.

2. Điểm cách tân về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?

So với công trình của Li Tana & Nguyễn Cẩm Thúy (1997) vốn chỉ dịch 49 văn bia hội quán, hoặc các bài khảo sát rời rạc của Võ Văn Tường (1986), luận án của Phạm Ngọc Hường lần đầu tiên thiết lập quy trình nghiên cứu bi ký học liên ngành hoàn chỉnh: kết hợp điền dã thực địa diện rộng (325 bia), giám định văn bản học chữ Hán, phân tích thống kê cấu trúc không gian - thời gian (SPSS/bảng biểu), và đối chiếu với hệ thống chính sử triều Nguyễn.

3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất từ dữ liệu?

Phát hiện về Chủ thể kinh tế và quyền lực tài chính của phụ nữ Nam Bộ. Dữ liệu từ văn bia Tam Sơn nữ hội bi ký (1904), Nghĩa Nhuận hội quán tín nữ công đường (1911) và bia Phong Phú hội quán (1919) cho thấy phụ nữ phương Nam không chỉ đóng góp tiền của với tư cách cá nhân độc lập mà còn thành lập các hội nữ giới riêng biệt (Nữ hội), tự chủ đứng tên quản lý quỹ từ thiện và tham gia tái thiết các công trình tôn giáo, từ đường công cộng.

4. Giao thức sao chép và tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) được cung cấp ra sao?

Luận án cung cấp hệ thống 4 phụ lục chi tiết tạo điều kiện tuyệt đối cho việc tái kiểm chứng:

  • Phụ lục 1: Bản đồ hành chính phân bố văn bia TP.HCM.
  • Phụ lục 2: Album ảnh chụp hiện vật và bản dập các văn bia tiêu biểu.
  • Phụ lục 3: Bảng danh mục toàn bộ 325 văn bia kèm địa chỉ di tích, niên đại, tác giả, quy cách.
  • Phụ lục 4: Bản phiên âm Hán Nôm, bản dịch nghĩa và chú giải điển tích cho các văn bia đại diện.

5. Lộ trình học thuật 10 năm được đề xuất từ luận án?

Tác giả đề xuất xây dựng Trung tâm Dữ liệu Số hóa Văn khắc Nam Bộ; hoàn thành đề án phiên dịch toàn bộ văn bia lăng mộ các danh nhân thời Nguyễn tại vùng đất Gia Định xưa; thiết lập mạng lưới nghiên cứu liên kết giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm với Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và Đại học Trung Chính (Đài Loan) nhằm giải mã toàn diện các mối liên kết thương mại hàng hải Đông Á qua tư liệu bi ký.

Kết luận

Luận án Tiến sĩ "Nghiên cứu văn bia Hán Nôm Thành phố Hồ Chí Minh" của NCS Phạm Ngọc Hường đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu khoa học đặt ra với 6 đóng góp mang tính nền tảng:

  1. Tổng kiểm kê và công bố toàn diện: Thu thập, phân loại và lập hồ sơ khoa học cho 325 văn bia Hán Nôm trên toàn địa bàn TP.HCM, cứu vãn nhiều nguồn sử liệu đứng trước nguy cơ hủy hoại.
  2. Xác lập hệ thống phân loại chuẩn xác: Phân định rạch ròi 8 nhóm loại hình di tích (chùa 33%, lăng mộ 29%, hội quán 21%, miếu đường 7,4%, y viện 3%, nhà thờ 1,8%, đình 1,2%, khác 3,7%) và 4 phân kỳ lịch sử rõ nét.
  3. Đột phá sử liệu kinh tế - xã hội: Cung cấp chứng cứ văn bản gốc về hoạt động của các bang hội, các thương gia lớn (Quách Đàm, Đỗ Hữu Phương) và mạng lưới sản nghiệp bất động sản đô thị.
  4. Khôi phục bức tranh nhân học giới: Làm sáng tỏ vai trò độc lập, năng động của phụ nữ Nam Bộ trong các hoạt động công ích, từ thiện và tín ngưỡng qua hệ thống minh văn nữ hội.
  5. Làm rõ diện mạo tôn giáo đa nguyên: Phân tích sâu sắc sự truyền thừa của thiền phái Lâm Tế, thiết chế Nho học và các tín ngưỡng dân gian Mazu, Quan Đế trong tiến trình cộng sinh văn hóa đa sắc tộc.
  6. Đóng góp phương pháp luận liên ngành: Đặt nền móng vững chắc cho phân môn Bi ký học đô thị Nam Bộ, kết nối lịch sử văn hiến Việt Nam với mạng lưới nghiên cứu văn khắc quốc tế. Công trình là tài liệu tham khảo mẫu mực, có giá trị học thuật trường tồn đối với nền Hán Nôm học và Sử học nước nhà.