mở đầu cho việc biên soạn sách về minh văn người Hoa ở Đông Nam Á; Tiếp nối theo sau là tác giả 陳荊和 Trần Kinh Hòa và 陳育崧 Trần Dục Tung với 新 加坡華文碑銘集錄 Tân Gia Ba Hoa văn bi minh tập lục (Singapore, 中文大學出版部 Trung văn Đại học xuất bản bộ, năm 1973), tác phẩm sưu tầm 119 văn bia chữ Hán trong các di tích của Singapore; Thời gian gần đây, Singapore liên tiếp có những dự án sưu tầm, điền dã, khảo sát, nghiên cứu về văn bia trong các hội quán, miếu vũ người Hoa và mối liên hệ mật thiết về mọi mặt của nó với các miếu vũ người Hoa khu vực Đông Nam Á. Từ đó mà hàng loạt các công trình liên quan đến văn bia ra đời. Tiêu biểu có thể kể đến: 新加坡華文銘刻彙編 Tân Gia Ba Hoa văn minh khắc vị biên: 1819-1911 của tác giả 丁荷生 Đinh Hà Sinh và 許源泰 Hứa Nguyên Thái (Singapore Đại học Quốc lập 新加坡國立大學, năm 2017). Đây là tập đại thành lớn về văn khắc, thu thập toàn bộ văn bia, biển gỗ, câu đối từ khi Singapore bắt đầu thành lập đến hết triều Thanh, đem chỉnh lý, biên soạn và xuất bản; Sau đó hai tác giả tiếp tục sưu tầm toàn bộ văn bia có trong các miếu vũ người Hoa biên tập thành sách như: 福建宗教碑銘彙編: 興化府 Phúc Kiến tông giáo bi minh vị biên: Hưng Hóa phủ (Singapore, Phúc Kiến nhân dân xuất bản xã 福建人民出版社, năm 1995); 福建宗教碑銘彙編: 泉州府 Phúc Kiến tông giáo bi minh vị biên: Tuyền Châu phủ (Singapore, Phúc Kiến nhân dân xuất bản xã 福建人民出 版社, năm 2003); 福建宗教碑銘彙編: 漳州府 Phúc Kiến tông giáo bi minh vị biên: Chương Châu phủ (Singapore, Phúc Kiến nhân dân xuất bản xã 福建人民出版社, năm 2010).
Nghiên cứu về văn bia người Hoa tại đây đã để lại những thành tích đáng kể. Trung Quốc là cái nôi của bia, sự xuất hiện rất sớm của văn bia đã khiến cho Trung Quốc có cả một tập đại thành về mặt sưu tầm, biên soạn, nghiên cứu về văn bia. Luận về bia sớm nhất có thể kể đến tác phẩm Văn tâm điêu long 文心雕龍 của Lưu Hiệp 刘勰. Trong cuốn sách này, ông đã dành cả thiên 12 là Lụy bia 誄碑1 để nói về bia và thể loại bia.
Đến thời Đường, sau khi thạch cổ văn được khai lộ thì việc trước thuật, nghiên cứu đã đạt đến đỉnh cao. Những tác giả tiêu biểu có đề cập đến văn bia trong giai đoạn này là: Hàn Dũ 韓愈, Vi Ứng Vật 韋應物, Trương Hoài Quán 張懷瓘. Trước đời Tống, các loại kim thạch hay bia khắc chỉ để trưng bày, thường dành cho người yêu thích cổ vật sưu tầm về thưởng lãm. Cho đến thời kỳ Bắc Tống, khởi nguồn 誄碑 Lụy bia là một thể văn kể công trạng, đức hạnh của người chết để phong tước, xưng hiệu ghi trên bia đá.
1 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ Âu Dương Tu 歐陽修(1007-1072), ông đã thu thập một cách quy mô, hệ thống nghiên cứu kim thạch, bia khắc và soạn thành chuyên khảo. Từ đó nghiên cứu về văn bia đã phát triển thành một môn học thuật và có phương pháp luận nghiên cứu khoa học độc lập gọi là Kim thạch học 金石学. Một loạt các tác giả với những tác phẩm chuyên sâu về văn bia đã ra đời trong thời kỳ này: Âu Dương Tu 歐陽修 với Tập cổ lục 集古录, Triệu Minh Thành 趙明誠 với Kim thạch lục 金石录… Giai đoạn Nguyên, Minh, Thanh, bộ môn khoa học nghiên cứu về Kim thạch học đã có thêm những bước phát triển mới trong phương pháp nghiên cứu. Giai đoạn này xuất hiện trào lưu nghiên cứu Kim thạch học, những trước tác về khái luận nghiên cứu, thông soạn, mục lục.
đều rất có giá trị. Tác giả Ngô Thức Phân 吴式芬 trong Quấn cổ lục 攈古录 đã thu thập hơn 18.000 loại bia mục từ Hạ Thương Chu tam đại đến đời Nguyên, bao gồm 20 tập, là cuốn mục lục phong phú nhất từ trước tới nay. Tác giả Tiền Đại Hân 钱大昕 với Tiềm nghiên đường kim thạch văn tự bạt vĩ 潜研堂金石文字跋尾, đã khảo đính rất kỹ lưỡng, tường tận về kim thạch văn tự, là một trước tác tốt nhất về Kim thạch học đương thời. Tác giả Vương Sưởng 王昶 với Kim thạch tụy biên 金石萃 编, thu thập hơn 1500 loại kim thạch từ ba đời Nguyên Minh Thanh trở lại đây, bao gồm: Tập mục lục, minh văn và bạt vĩ (bạt văn), tất cả đều biên soạn trong một cuốn sách.
Có thể nói đó là một tập đại thành về Kim thạch học. Tác giả Diệp Xương Xí 叶昌炽 với Ngữ thạch 语石, là tác phẩm tiêu biểu về khái luận Kim thạch học đương thời. Cận hiện đại đến nay, việc nghiên cứu, tìm tòi về phương diện nào cũng đạt được những thành tựu rất lớn. Về thu thập tư liệu có Bắc Kinh đồ thư quán tàng Trung Quốc lịch đại thạch khắc thác bản vựng biên 北京图书馆藏中国历代石刻拓本汇编; Về giám định thác bản có Tăng bổ hiệu bi tùy bút 增补校碑随笔; Về giới thiệu thạch khắc có Thạch khắc tự lục 石刻叙录, Tây An bi lâm thư pháp nghệ thuật 西安碑林书法艺术.
Những thành tựu nổi bật của họ đã được giới học thuật trên toàn thế giới công nhận.2 Tình hình nghiên cứu văn bia Việt Nam 1.1 Tình hình nghiên cứu văn bia Việt Nam nói chung Nghiên cứu về văn bia ở Việt Nam đã có từ lâu, nhưng chủ yếu dừng lại ở công việc sưu tầm, sao lục. Mấy chục năm trở lại đây các công trình khảo cứu, sưu tầm, dịch thuật về văn bia liên tục ra mắt. Các công trình được nghiên cứu một cách có hệ thống, theo vùng miền, theo chủ đề của văn bia. Trong các công trình, những bài viết gần đây, nghiên cứu về văn bia không dừng lại ở nghiên cứu văn tự, nội dung có ở trên bia, mà đối tượng nghiên cứu của nó đã được mở rộng từ công việc sưu tầm, sao lục, lập thư 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mục, dịch chú đến thể loại, chất liệu, nghệ thuật trang trí, giám định niên đại thác bản… Nghiên cứu văn bia hay Bi ký học đã trở nên quen thuộc và trở thành một phân môn khoa học quan trọng trong ngành Hán Nôm học.
Văn bia ra đời sớm nhất ở Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại là văn bia được phát hiện ở nghè thờ Đào Hoàng, thôn Thanh Hoài, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tấm văn bia cổ gồm hai mặt khắc hai bài văn có 2 niên đại và kiểu văn tự khác nhau. Mặt thứ nhất ghi niên đại“Kiến Hưng nhị niên 建興貳年” (314) là niên hiệu của Tấn Mẫn Đế (313-316); Mặt thứ hai khắc “Duy Tống Nguyên Gia chấp thất niên, Thái tuế Canh Dần, thập nhị nguyệt Bính Thìn” (năm 450), niên đại Tống Nguyên Gia 424-453. Qua khảo sát, số chữ còn lại ở cả hai mặt có khoảng gần 300 chữ.
Mặt thứ nhất hiện còn khoảng 120 chữ, được viết theo phong cách Lệ thư, mặt thứ hai còn khoảng 150 chữ, viết theo phong cách Khải thư [Nguyễn Phạm Bằng, 2014, TBHNH]. Tấm bia có niên đại sớm thứ 2 là văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn 大隨九眞郡寶安道場之碑文, bia dựng năm 618. Văn bia hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tại Hà Nội. Theo học giả Trần Văn Giáp trong bài viết Văn bia Việt - Nam công dụng thác bản văn bia Việt - Nam đối với khoa học xã hội và những thác bản văn bia hiện còn có ở Thư viện Khoa học xã hội in trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử thì tác giả bài văn bia này là Kiểm hiệu Giao Chỉ quận, Nhật Nam quận thừa, kiêm Nội sử Xá nhân, Nguyên Nhân Khí người ở Lạc Dương, Hà Nam, Trung Quốc [Trần Văn Giáp, 1969, tr.
Ra đời muộn hơn một chút là các cột đá khắc kinh Phật vào năm 973 ở Hoa Lư, Ninh Bình. Theo Hà Văn Tấn “Có thể nói đây là một loại bi ký có niên đại sớm nhất của thời kỳ phong kiến tự chủ trong số các bi ký đã phát hiện từ trước đến nay” [Hà Văn Tấn, 1965, tr. Tính đến nay văn bia Việt Nam đã có hơn 1700 năm lịch sử. Văn bia chủ yếu viết bằng chữ Hán, một số ít văn bia viết bằng chữ Nôm và chữ viết của các dân tộc khác.
Các thư tịch, tài liệu trong lịch sử có đề cập đến văn bia ở Việt Nam, sớm nhất có thể kể đến là sách Thiền uyển tập anh 禪苑集英 đã nói đến dấu tích của bia. Mục số 54 trong sách nói về Tăng Thống Huệ Sinh (?-1064) viết rằng: “Sư thường phụng chiếu soạn bia văn các chùa Thiên Phúc, Thiên Thánh, Khai Quốc tại Tiên Du và chùa Diệu Nghiêm, Báo Đức tại Vũ Ninh”2; Mục số 67 viết về Quốc sư Viên Thông (1080-1151) như sau: “Năm Thiên Phù Khánh Thọ thứ nhất (1127), chùa Trung Hưng Diên Thọ làm 2+3 Thiền uyển tập anh, tờ 58b1 - 59a1, 69a1 tham khảo bản dịch của Nguyễn Mạnh Thát. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xong, vua sai sư soạn văn bia. Vua kính trọng tài sư, nên đổi sư làm Tả nhai Tăng lục”3.
Tiếp đến là bộ Đại Việt sử kí toàn thư 大越史記全書 của Ngô Sĩ Liên (thế kỉ XV), ông đã ghi tóm lược nội dung bài Khai Nghiêm tự bi kí 開嚴寺碑記 của Trương Hán Siêu (?-1354) và Bắc Giang Bái thôn Thiệu Phúc tự bi kí 北江沛村紹福寺碑記 của Lê Quát (thế kỉ XIV). Lê Quí Đôn đã đưa ra một danh mục gồm 17 bài minh, bài ký khắc trên bia đá chuông đồng thời Lý - Trần trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục 見聞小錄. Bùi Huy Bích (1744 - 1818) đã công bố nhiều bài văn khắc trên bia chuông trong tác phẩm Hoàng Việt văn tuyển 黃越文選. Sang đầu thế kỷ XX, công tác sưu tầm, giới thiệu văn bia Hán Nôm được giới nghiên cứu khoa học quan tâm toàn diện hơn ở công tác sưu tầm và nghiên cứu nội dung trong nhiều lĩnh vực.
a) Các công trình biên soạn thư mục văn bia: Điển hình là Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại Hà Nội (E.O) đã tổ chức các đợt sưu tầm thác bản văn khác Hán Nôm ở hơn 40 tỉnh thành trong phạm vi cả nước. Sau nhiều năm triển khai, kết quả E.O đã thu thập được 11.651 đơn vị văn khắc với 20.980 mặt thác bản. Sau đó, Viện Nghiên cứu Hán Nôm tiếp tục công việc sưu tầm trên phạm vi Bắc, Trung bộ và bổ sung thêm được nhiều văn bia có giá trị. Đến nay, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã sưu tầm và lưu giữ, bao gồm cả số văn bia của E.O tính đến giữa năm 2016 là gần 70.000 thác bản văn bia.
Với một khối lượng văn bia phong phú như vậy đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và các công trình lần lượt được giới thiệu.