CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIEN KINH TE TƯ NHÂN Ở THỊ XÃ VĨNH YÊN TỚI TRƯỚC NĂM 2001 1.1 Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thức sở hữu khác nhau nhưng chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu công cộng, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp; trong đó, sở hữu tư nhân xét về nguồn góc lịch sử là hình thức sở hữu tổn tại lâu dài qua nhiều phương thức sản xuất. Sở hữu tư nhân là quan hệ sở hữu xác nhận quyền hợp pháp của tư nhân trong chiếm hữu, quyết định cách thức tô chức sản xuất, chi phối và hưởng lợi từ kết quả của quá trình sản xuất. Cho đến nay, những động lực do sở hữu tư nhân tạo ra khó có hình thức nào thay thế được nó. Sở hữu tư nhân về quá trình sản xuất chính là cơ sở ra đời khu vực kinh tế tư nhân.
Thực tế cho thấy chưa có nước nao thành công trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường lại thiếu khu vực kinh tế tư nhân. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Do đó, Việt Nam phải tiếp tục xây dựng và phát triển những cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội bằng cách thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đa dạng hóa các hình thức sở hữu, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó có kinh tế tư nhân.1 Khái niệm kinh té tư nhân Hiện nay, trong giới nghiên cứu đang có nhiều cách lý giải khác nhau về kinh tế tư nhân. Có người cho rằng “kinh tế tư nhân” đồng nghĩa với “kinh tế tư bản tư nhân”; có người lại đồng nhất kinh tế tư nhân với kinh tế ngoài quốc doanh, theo đó một doanh nghiệp hay công ty sẽ được coi là ngoài quốc doanh nếu như tư nhân làm chủ trên 50% cổ phiếu.
Quan niệm khác lại cho 11 rằng kinh tế có 100% vốn nước ngoài cũng nam trong kinh tế tư nhân (nếu thuộc sở hữu tư nhân). Còn theo quan điểm được Đảng ta nêu ở Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX chỉ rõ: “Kinh té tư nhân gom kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp cua tu nhân”[39, tr. Như thế, chưa có sự thong nhất chung nên ta vẫn có thé hiểu khái niệm kinh tế tư nhân qua hai cấp độ khác nhau: - Theo cấp độ khái quát nhất: Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế nằm ngoài quốc doanh (ngoài khu vực kinh tế nhà nước), bao gồm cả doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong đó, tư nhân năm trên 50% von dau tư. - Theo cấp độ hẹp hơn: Kinh tế tư nhân gồm có kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân.
Từ hai cách hiểu trên, ta đi đến một nhận định mang tính khái quát chung về kinh tế tư nhân: là khu vực kinh tế gan liền với loại hình sở hữu tu nhân. Trong đó, các chủ thé của nó tự chủ tiến hành sản xuất kinh doanh vì lợi ích trực tiếp của cá nhân hay tập thé cá nhân, hoạt động dưới những hình thức kinh tế khác nhau, dù có thuê hay không thuê lao động. Đây là khu vực kinh tế được hình thành và phát triển dựa trên nền tảng chủ yếu là sở hữu tư nhân vê tư liệu sản xuât và lợi ích cá nhân. Theo quan niệm phổ biến ở Việt Nam hiện nay, kinh tế tư nhân gồm hai loại hình kinh tế: Thứ nhất, kinh tế cá thể, tiểu chủ bao gồm những đơn vi kinh tế hoạt động trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, có quy mô nhỏ hơn các loại hình doanh nghiệp tư nhân, hoạt động chủ yếu dựa vào sức lao động của chính họ; tồn tại độc lập dưới hình thức xưởng thợ gia đình, công ty tư nhân nhỏ, hộ kinh doanh thương mại và dịch vụ, hộ làm kinh tế trang trại hoặc tham gia liên doanh, liên kết các loại hình kinh tế khác; Thứ hai, kinh tế tư bản tư nhân là loại hình kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuât cua một hay nhiêu chủ, có sử dụng lao động làm thuê, 12 hoạt động một cách độc lập, trong đó chủ thể tư bản đồng thời là chủ doanh nghiệp.
Xét về mặt lý luận, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân có khác nhau về trình độ phát triển lực lượng sản xuất và bản chất quan hệ sản xuất. Nhưng trên thực tẾ, việc phân định rạch ròi ranh giới kinh tế cá thé, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân là không đơn giản vì hai thành phần kinh tế này luôn có sự vận động, phát triển, biến đồi không ngừng và chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố thời đại, đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực sản xuất. Như thế, ở nước ta chỉ tính đến các chủ sở hữu tư nhân hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực dịch vụ, trực tiếp cung cấp các sản phẩm hàng hóa hoặc các dịch vụ cho thị trường.2 Đặc điểm của kinh tế tư nhân ở Việt Nam Do tính chất của nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế đang trong giai đoạn “chuyển đổi” nên kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay mang những đặc điêm riêng: Thứ nhất, kinh té tư nhân ở nước ta có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ còn lạc hậu, khả năng tái đầu tư mở rộng hạn chế, quan hệ thị trường yếu, thiếu kinh nghiệm và năng lực hoạt động trên thương trường. Thứ hai, khu vực kinh tế tư nhân nước ta là một bộ phận trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế lấy chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu giữ vai trò chủ thé nên chịu sự điều tiết về đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước.
Dù có những đặc điểm riêng, song nhìn chung khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vẫn mang những đặc trưng cơ bản vốn có của kinh tế tư nhân: nó vẫn chịu tác động chung cua các quy luật kinh tế thị trường hiện đại như quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu, quy luật giá tri. ; chịu tác động chung trong quá trình vận động và hội nhập nền kinh tế thị trường thé giới. Đặc biệt, cũng như 13 nhiêu nước khác, kinh tê tư nhân ở nước ta sẽ cùng với kinh tê nhà nước tạo ra nên sản xuât lớn, có trình độ tiên tiên, xã hội hóa và hiện đại hóa ngày càng cao trong quá trình đi lên CNXH.3 Vai trò của kinh tế tư nhân Nếu như trong thời kì kế hoạch hóa tập trung, kinh tế tư nhân được coi là khu vực kinh tế đang hàng ngày hàng giờ làm nảy sinh chủ nghĩa tư bản và luôn trở thành đối tượng của cách mạng xã hội chủ nghĩa thì sang thời kì đổi mới, xây dựng nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vị trí của kinh tế tư nhân đã có sự thay đổi căn bản. Kinh tế tư nhân được coi là bộ phận cấu thành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, luôn là bạn đồng hành và hoạt động bình đăng với các khu vực kinh tế khác, không còn là đối tượng của cách mạng xã hội chủ nghĩa nữa.
Việc đôi mới nhận thức về vị trí của kinh tế tư nhân chính là sự đánh giá một cách đầy đủ, khách quan và khoa học hơn về khu vực kinh tế này. Trên thực tế, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân được thé hiện chủ yếu qua một sô diém cản bản như sau: - Khu vực kinh tế tư nhân góp phan khơi day một bộ phận quan trọng tiềm năng của đất nước, tăng nguôn nội lực, tham gia phát triển nền kinh tế quốc dân thông qua việc huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội nhằm dau tư và phát triển kinh tế; tăng nguồn thu ngân sách và góp phần xây dựng quan hệ sản xuất phủ hợp, thúc đây lực lượng sản xuất phát triển và mở rộng nên dân chủ xã hội chủ nghĩa. Theo ước tính, vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân là nguồn vốn đầu tư chủ yếu trong việc phát triển kinh tế địa phương, nếu năm 1990 tổng vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân mới có 3.544 tỷ đồng thì năm 1999 đã tăng lên 21. Và theo số liệu thống kê của Tổng cục thuế, năm 2000, khu vực kinh tế tư nhân đã nộp vào ngân sách 11.003 tỷ đồng, chiếm 16,1% tổng thu ngân sách.
14 - Khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp quan trọng vào việc thúc đây tăng trưởng và chuyên dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực kinh tế tư nhân là đều đặn và xấp xi tốc độ tăng trưởng GDP của toàn bộ nền kinh tế, trong đó riêng kinh tế tư bản tư nhân bao giờ cũng thuộc bộ phận có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Theo số liệu thống kê của Tổng Cục thống kê, năm 1995, GDP của kinh tế cá thé là 109,78 và của kinh tế tư bản tư nhân là 109,30 trong khi GDP của toàn bộ nền kinh tế là 109,54; đến năm 2000, GDP của khu vực kinh tế cá thê là 103,88 và của kinh tế tư bản tư nhân là 108,06 trong khi GDP của toàn bộ nên kinh tế là 106,79. Trong điều kiện đang ở giai đoạn phục hồi và còn nhiều khó khăn về nhiều mặt, mức tăng trưởng đạt như vậy của khu vực kinh tế tư nhân là khá nhanh và bên vững.
Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân trước tiên tác động vào sự chuyên dịch cơ cầu ngành kinh tế chung của cả nước với việc tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong cơ cấu chung giảm còn tỷ trọng khu vực công nghiệp - dịch vụ tăng (Tỷ trọng nông nghiệp năm 1990 là 38,74% giảm xuống 24,53% năm 2000 còn ty trọng công nghiệp tương ứng là từ 22,67% tăng lên 36,73%). Tuy nhiên, tỷ trọng khu vực dịch vụ lại không có nhiều biến đổi. Điều này cho thấy kinh tế nước ta đang chuyển dịch dần theo hướng tiến bộ, công nghiệp hóa nhưng xu hướng hiện đại hóa vẫn chưa rõ nét.