Mở đầu là Phan Bội Châu với chủ trương giải phóng dân tộc dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài. Tiếp theo là Phan Châu Trinh với xu hướng cải lương đấu tranh hợp pháp…. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, với tinh thần dân tộc, dân chủ, giai cấp tư sản và tiểu tư sản bắt đầu bước lên vũ đài đấu tranh với thực dân Pháp dưới nhiều hình thức khác nhau. Các phong trào này diễn ra liên tục, sôi nổi và lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia nhưng không đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Song tất cả đều góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Điều đáng lưu ý là lúc này ở Việt Nam luồng tư tưởng dân chủ tư sản đã xuất hiện và chiếm vị trí quan trọng. Cách mạng tháng Mười Nga đã nổ ra vào năm 1917 và gây ảnh hưởng khắp nơi. Nhưng ở Việt Nam, chủ nghĩa Marx- Lenin vẫn còn xa lạ.
Mãi đến những năm 1928 nó mới thật sự bám rễ ở Việt Nam. Bối cảnh lịch sử Nam Bộ đầu thế kỷ XX Sau khi hoàn thành việc xâm lược, Pháp chia nước ta làm ba kỳ với ba chế độ chính trị xã hội khác nhau. Riêng Nam Kỳ là xứ thuộc địa nên thực dân Pháp có phần nới lỏng hơn. Do đó, đây chính là nơi các phong trào yêu nước có điều kiện phát triển.
Sang đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tiến hành việc khai thác thuộc địa ở Nam Kỳ. Chúng ra sức bóc lột, “róc xương, xẻ thịt” nhân dân thuộc địa. Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), Pháp càng ra sức khai thác Nam Kỳ để bù đắp những tổn thất chiến tranh. Việc khai thác đó có tác dụng khách quan là làm cho giai cấp vô sản Nam Kỳ được thành hình.
Trong đó, Sài Gòn là nơi tập trung đông đảo công nhân viên chức và các tầng lớp nửa vô sản. Bên cạnh đó là sự xuất hiện của tầng lớp tư sản bản xứ và những chủ đồn điền giàu có chuyên nghề buôn bán lúa gạo, trồng cao su. Tuy nhiên so với Bắc Kỳ và Trung Kỳ kinh tế Nam Kỳ có điều kiện phát triển. Pháp mở mang thương cảng Sài Gòn và biến Nam Kỳ thành nơi xuất khẩu lúa gạo thịnh đạt.
Sự phát triển kinh tế cũng làm cho xã hội Nam Kỳ có những biến chuyển sâu sắc. Sài Gòn và các thị xã đông dân lên nhiều hơn trước. Các tầng lớp trung gian tiểu tư sản trở nên quan trọng, nhất là trí thức, học sinh, công chức. Nông thôn đồng bằng Nam Kỳ phân hóa mau lẹ.
Địa chủ thực dân cướp đất dữ dội. Những biến chuyển trên đã làm cho xã hội Nam Bộ ngày càng phân hóa và mâu thuẫn. Song có một điều không thay đổi là mâu thuẫn giữa đại đa số nhân dân Nam Bộ với chính quyền thực dân. Tình hình báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX Sau giai đoạn trì trệ, bước sang thế kỷ XX, báo chí Việt Nam bắt đầu phát triển nhanh.
Nhiều tờ báo Pháp ngữ cũng như Việt ngữ ra đời. Tuy vậy, báo chí lúc này vẫn còn trong giai đoạn thuộc địa và chịu sự chi phối của chính quyền thực dân. Sau khi Pháp ban hành đạo luật 12/9/1881 thì sắc luật 30/12/1898 ra đời. Sắc luật này đã làm cho Đông Dương không còn tự do báo chí.
Tuy nhiên nó nhằm vào các báo Việt ngữ hơn là báo Pháp ngữ nên báo Pháp ngữ tương đối tự do, không bị chính quyền ràng buộc nhiều, ngoại trừ những báo có nội dung liên quan đến chính trị. Riêng Nam Kỳ là xứ thuộc địa nên nó còn được hưởng chút tự do của đạo luật 12/9/1881. Do đó, đây là nơi báo chí phát triển hơn so với Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) , báo chí Việt Nam có điều kiện phát triển mạnh.
Thực dân không thể độc quyền báo chí như trước. Báo tư nhân ra đời ngày càng nhiều. Đặc biệt từ năm 1925 trở đi, nước ta bắt đầu xuất hiện dòng báo chí cách mạng. Tuy nhiên báo thực dân vẫn còn giữ vai trò to lớn và tiếp tục chi phối nền báo chí nước ta.
Sự ra đời của báo La Cloche Fêlée 2. Nguyễn An Ninh- người sáng lập báo Nguyễn An Ninh sinh ngày 15/09/1900 tại quê ngoại, làng Long Thượng, tổng Phước Điền Thượng, tỉnh Chợ Lớn, nay là xã Long Thượng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước nhiều đời. Cha ông là cụ Nguyễn An Khương- một nhà nho nổi tiếng.
Mẹ là cụ bà Trương Thị Ngự- bà mẹ Việt Nam anh hùng. Thuở nhỏ, Nguyễn An Ninh sống ở quê ngoại và được học chữ Nho. Đến năm 10 tuổi, ông về Sài Gòn sống với ba mẹ và học ở trường Taberd. Sau khi học hết tiểu học trường này và thi đậu Certificat, ông xin vào trường Chasseloup Laubat học trung học.
Đến năm 1916, ông học xong trung học cơ sở và đậu Brevet élémentaire loại ưu. Sau đó, ông được tuyển thẳng vào trường Cao đẳng Luật ở Hà Nội. Nhưng Nguyễn An Ninh chỉ học ở đây một năm rồi bỏ về Sài Gòn vì nhận thấy trường này đào tạo thấp, ra trường chỉ đủ sức hầu hạ cho bộ máy cai trị của thực dân. Vì thế năm 1918, Nguyễn An Ninh đã bí mật sang Pháp và thi đậu ngành Luật tại trường Đại học Sorbonne.
Suốt hai năm ở Pháp, Nguyễn An Ninh chăm chỉ học hành, nghiên cứu sách vở và gặp gỡ nhiều trí thức 8 tiến bộ. Trong số đó có ông Marcel Cachin- giáo sư trường Đại học Sorbonne và là chủ nhiệm báo Nhân Đạo của Đảng Cộng sản Pháp- người bảo trợ Nguyễn An Ninh làm những luận án. Chính ông này đã định hướng tư tưởng hoạt động cách mạng cho Nguyễn An Ninh. Cũng tại đây, Nguyễn An Ninh được quen với những nhà cách mạng lớn như Nguyễn Ai Quốc, Nguyễn Thế Truyền, Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường.
Trong đó có hai người bạn thân nhất cùng tuổi thanh niên của Nguyễn An Ninh trong những năm ở Pháp là Nguyễn Ai Quốc và Nguyễn Thế Truyền. Họ cùng san sẻ những khó khăn trong cuộc sống và nguyện cùng nhau suốt đời hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Mùa hè năm 1920, Nguyễn An Ninh về nước hỏi vợ (theo lời cha) rồi qua Pháp trở lại để chuẩn bị cho luận án Tiến sĩ Luật. Nhưng Nguyễn An Ninh không làm luận án tiến sĩ mà tham gia hoạt động yêu nước: nghiên cứu Tuyên ngôn Cộng sản của Marx Engels, nghiên cứu báo L Humanité, Le Populaire, biên tập và viết báo Le Paria….
Nguyễn An Ninh phối hợp hoạt động với Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thế Truyền. Họ phân công: Nguyễn Ai Quốc sang Nga, Nguyễn Thế Truyền ở lại Pháp và Nguyễn An Ninh về nước hoạt động cách mạng. Từ năm 1921, Nguyễn An Ninh gia nhập Hội người Việt Nam yêu nước, Họi Liên minh Nhân quyền và Hội Liên hiệp thuộc địa. Sau đó, ông tham quan một số nước Tây Âu: Thụy Sĩ, Đức, Ao, Bỉ, Hà Lan….
Ngày 3/10/1922, Nguyễn An Ninh rời Pháp và đưa về nước hai hình thức đấu tranh mới là diễn thuyết và làm báo. Mục đích của hai hình thức đấu tranh này là đánh thức lòng yêu nước và nâng cao dân trí. Sau đó ông tập hợp quần chúng lại và hướng dẫn họ làm cách mạng rồi thành lập tổ chức Thanh Niên Cao Vọng. Nguyễn An Ninh bắt đầu thử sức và thăm dò dư luận bằng bài diễn thuyết đầu tiên: Chung đúc nền học thức cho dân An Nam bằng tiếng Pháp tại hội quán Hội Khuyến học Nam Kỳ vào tối 25/1/1923.
Đến tháng 2/1923, Nguyễn An Ninh sang Pháp lần 3 với lý do hoàn thành luận án Tiến sĩ nhưng kỳ thực là để mời Phan Văn Trường về cùng làm báo. Tháng 8/1923, Nguyễn An Ninh về nước. Đến ngày 15/10/1923, ông diễn thuyết về Cao vọng của bọn thanh niên An Nam bằng tiếng Pháp cũng tại hội quán Hội Khuyến học Nam Kỳ để kêu gọi thanh niên sống phải có hoài bão và lý tưởng cao đẹp, đem sức tài phụng sự đất nước. Ngày 10/12/1923, Nguyễn An Ninh ra báo La Cloche Fêlée bằng tiếng Pháp.
Ông là giám đốc, chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tờ báo La Cloche Fêlée của ông bị bọn thực dân 9 Pháp rình rập, hăm dọa rồi đàn áp. Kết quả, ngày 14/7/1924, báo La Cloche Fêllé tự đình bản sau khi ra được 19 số. Vào cuối năm 1924, Nguyễn An Ninh hoàn thành cuốn Nước Pháp ở Đông Dương và kết hôn với bà Trương Thị Sáu là chủ tiệm may.
Sau khi kết hôn hai tháng, vào tháng 1/1925, Nguyễn An Ninh sang Pháp lần 4 để đón cụ Phan Châu Trinh về nước và in sách Nước Pháp ở Đông Dương. Ông đã in 2000 bản và nhờ thủy thủ đem về nước 150 bản vào tháng 4/1925. Cũng trong chuyến đi này, Nguyễn An Ninh đã diễn thuyết tại Hội quán Sociétés Savantes ở Paris vào ngày 25/5/1925, chủ yếu để lên án hành động khủng bố tờ La Cloche Fêlée không có tự do ở Đông Dương. Đến tháng 6/1925, ông cùng Phan Châu Trinh về nước.
Sau khi đã sắp xếp chu đáo mọi việc, Nguyễn An Ninh cho tục bản báo La Cloche Fêlée với giám đốc chính trị mới là tiến sĩ-luật sư Phan Văn Trường. Để việc đăng Tuyên ngôn Cộng sản trên báo La Cloche Fêlée được thuận lợi hơn, Nguyễn An Ninh đã tổ chức diễn thuyết tại cuộc mít tinh ở vườn xoài Xóm Lách (đường Lanzarotte) vào ngày chủ nhật 21/3/1926. Đây cũng là lý do khiến ông bị bắt lần đầu tiên vào ngày thứ tư, 24/3/1926. Đến ngày 23/4/1926, Nguyễn An Ninh bị Tòa sơ thẩm kết án hai năm tù giam và mất quyền bỏ thăm bầu cử vì tội xúi giục dân chúng nổi loạn.
Ông đã viết hai lá thư chống án: một gửi cho Thống đốc Le Fol (24/4/1926), một gửi cho Tổng Biện lý Sài Gòn (29/4/1926). Trong thời gian ngồi tù, ngày 6/5/1926, báo La Cloche Fêlée được đổi tên là L Annam theo đúng dự tính trước đó của Nguyễn An Ninh. Đến ngày 8/6/1926, Tòa đại hình giảm án Nguyễn An Ninh còn mười tám tháng tù. Trong khám, ông đã dạy học và chuyển hóa tâm hồn cho những bạn tù cùng phòng.
Nhưng chỉ sau mười tháng, ngày 7/1/1927, Nguyễn An Ninh được trả tự do. Ra tù, Nguyễn An Ninh ráo riết chuẩn bị cho tổ chức Thanh Niên Cao Vọng và trực tiếp chăm lo tờ L Annam. Ngày 8/8/1927, Nguyễn An Ninh sang Pháp lần 5 (cùng Tạ Thu Thâu) với lý do tiếp tục làm luận án tiến sĩ.