Đặt vấn đề Cây hồ tiêu có tên khoa học là Piper nigrum, thuộc họ hồ tiêu. Cây hồ tiêu được xem là “vua của các loại gia vị” và trở thành sản phẩm nông nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam. Năm 2014, Đắk Lắk trở thành tỉnh có diện tích hồ tiêu lớn nhất cả nước với 16,1 nghìn ha, chiếm 36,7% diện tích vùng Tây Nguyên và 18,8% diện tích hồ tiêu cả nước [1]. Tuy nhiên, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Đắk Lắk cho biết, tính đến hết tháng 9 năm 2016 trên địa bàn toàn tỉnh có hơn 1,822 ha hồ tiêu bị nhiễm bệnh.
Trong đó, diện tích tiêu bị nhiễm bệnh vàng lá chết nhanh là hơn 507 ha; vàng lá chết chậm: 1,038 ha; rệp sáp hại rễ: 73,6 ha, tuyến trùng: 191,4 ha [55]. Bệnh chết nhanh do sự tấn công đồng loạt của 5 đến 7 loài nấm, chủ yếu là nấm Phytophthora spp. Bệnh chết chậm do sự kết hợp gây hại của tuyến trùng và nấm trong đất, chủ yếu là 2 loài tuyến trùng Meloidogyne spp. và Radopholus similis gây ra.
Các bệnh kể trên làm giảm năng suất hồ tiêu, thậm chí gây chết cây. Trước thực trạng đó, biện pháp sinh học được thay thế để diệt trừ bệnh hại cũng như để hạn chế các tác động tiêu cực do thuốc hóa học gây ra. Biện pháp sinh học là sử dụng các chủng vi sinh vật (VSV) đối kháng với các nguồn gây bệnh tạo ra chế phẩm sinh học nhằm phòng chống bệnh và giảm các tác động xấu từ thuốc bảo vệ có nguồn gốc hóa học. Đặc biệt, vi khuẩn nội sinh (VKNS) trong cây thực vật là những VSV có thể sống trong các mô thực vật và không gây bệnh hoặc tác động bất lợi tới quá trình phát triển bình thường của cây.
VKNS còn được nhiều nhà khoa học nghiên cứu về khả năng ức chế và kiểm soát bệnh thực vật, khả năng sinh enzyme, chất kích thích sinh trưởng thực vật, chất diệt cỏ [7]. Ngoài giá trị kinh tế từ cây hồ tiêu mang lại, loại cây trồng này còn là môi trường sinh sống của VKNS. h 2 Xuất phát từ những cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tuyển chọn và nghiên cứu đặc điểm một số chủng vi khuẩn nội sinh trên cây hồ tiêu (Piper nigrum) tại Đắk Lắk”. Mục tiêu của đề tài 1.
Mục tiêu tổng quát - Nghiên cứu các chủng VKNS trên cây hồ tiêu có khả năng kháng nấm gây bệnh tại Đắk Lắk. Mục tiêu cụ thể - Tuyển chọn các chủng VKNS trên cây hồ tiêu tại Đắk Lắk có khả năng diệt nấm gây bệnh trên cây hồ tiêu. - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân loại các chủng VKNS được tuyển chọn. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.
Ý nghĩa khoa học của đề tài - Đề tài có giá trị khoa học lớn vì nội dung của đề tài là cơ sở để chọn lọc các chủng VKNS có lợi. Bên cạnh đó chưa có nhiều nghiên cứu về VKNS trên đối tượng cây hồ tiêu tại Việt Nam. - Đề tài tiếp nối các nghiên cứu khoa học về nấm và bệnh trên cây hồ tiêu tại Tây Nguyên, Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Đề tài dự kiến tuyển chọn được một số chủng có khả năng kháng nấm gây bệnh trên cây hồ tiêu.
- Đề tài có tính cấp thiết góp phần ngăn chặn bệnh hại trên cây hồ tiêu giúp nâng cao năng suất và sản lượng của cây hồ tiêu. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Vi khuẩn nội sinh trên thực vật 2. Khái niệm vi khuẩn nội sinh Khái niệm VKNS được định nghĩa và sửa đổi theo nhiều nghiên cứu khác nhau.
Năm 1948, Tervet và Hollis định nghĩa VKNS là VSV có khả năng sống bên trong thực vật mà không gây ra các triệu chứng bệnh cho cây chủ [8]. Năm 1992, Kado định nghĩa VKNS là quần thể vi khuẩn cư trú bên trong sinh vật sống mà không gây tổn hại hoặc nhận được một số lợi ích từ cây chủ [9]. Năm 2006, Theo Schulz & Boyle VKNS được định nghĩa là vi khuẩn xâm nhập vào mô bên trong của thực vật và không biểu hiện nhiễm trùng ngoài hoặc tác động tiêu cực lên cây chủ [10]. Trong số các định nghĩa được đưa ra, định nghĩa của Hallmann và cộng sự là phù hợp nhất.
Theo Hallmann, VKNS là tất cả các vi khuẩn cư trú trong nội mô của thực vật, chúng không biểu hiện ra bên ngoài và không tác động xấu đến cây chủ [11]. VKNS thực vật được tìm thấy trong hầu hết các loài thực vật, chúng cư trú ở trong mô của thực vật và giữa chúng hình thành các mối quan hệ khác nhau như cộng sinh tương hỗ, cộng sinh dinh dưỡng, hội sinh [12]. Hầu hết các VKNS bắt đầu xuất hiện ở vùng rễ hay lá, một số loại vi khuẩn có thể nội sinh trên hạt. Nhiều VKNS thúc đẩy thực vật tăng trưởng, tăng năng suất và đóng vai trò là một tác nhân kiểm soát sinh học [13].
VKNS sản xuất các sản phẩm tự nhiên có lợi cho thực vật từ đó có thể khai thác những sản phẩm này để ứng dụng trong y học, nông nghiệp hay công nghiệp [14]. Đặc điểm sinh học và phân loại vi khuẩn 2. Đặc điểm sinh học của vi khuẩn * Đặc điểm hình thái tế bào, bào tử Vi khuẩn là nhóm VSV đã có cấu tạo tế bào. Đa số vi khuẩn không có tiên mao, khả năng di chuyển rất hạn chế.
Kích thước đường kính (0,2 ÷ 2,2 h 4 µm) x chiều dài (2,0÷8,0 µm). Vi khuẩn đa số có hình que, hình cầu, hay hình xoắn, những vi khuẩn có hình dạng như vậy được gọi là trực khuẩn (bacillus), cầu khuẩn (coccus) và xoắn khuẩn (spirillum). Một nhóm khác nữa là phẩy khuẩn (vibrio) có hình dấu phẩy. Hình dạng không còn được coi là một tiêu chuẩn định danh vi khuẩn, tuy nhiên có rất nhiều chi được đặt tên theo hình dạng (ví dụ: Bacillus, Streptococcus, Staphylococcus) và là đặc điểm quan trọng để nhận dạng các chi này.
Dựa theo hình thái bên ngoài có thể chia vi khuẩn thành 5 loại hình khác nhau: cầu khuẩn, trực khuẩn, cầu trực khuẩn, xoắn khuẩn và phẩy khuẩn [15]. * Đặc điểm sinh lý - sinh hóa Đặc điểm sinh lý, sinh hóa là khả năng đồng hóa các nguồn cacbon và sử dụng các nguồn nitơ, nhu cầu về các chất kích thích sinh trưởng, khả năng biến đổi các chất khác nhau nhờ hệ thống enzyme. Ngoài ra còn có nhu cầu về oxy, giới hạn pH, nhiệt độ tối ưu, khả năng chịu muối và các yếu tố khác của môi trường, mối quan hệ với chất kìm hãm sinh trưởng và phát triển khác nhau, tính chất đối kháng và nhạy cảm với chất kháng sinh, khả năng tạo thành chất kháng sinh và các sản phẩm trao đổi chất đặc trưng khác của xạ khuẩn. Về nhu cầu sử dụng oxy, vi khuẩn được chia thành 3 loại chính là: hô hấp hiếu khí, hô hấp kỵ khí và hô hấp hiếu khí kỵ khí tùy tiện.
Ngoài ra đặc điểm sinh lý sinh hóa còn biểu thị về các mối quan hệ giữa vi khuẩn với các chất kìm hãm sinh trưởng khác nhau, tính chất đối kháng và nhạy cảm với chất kháng sinh, khả năng tạo thành chất kháng sinh và các sản phẩm trao đổi chất đặc trưng khác của vi khuẩn. Phân loại vi khuẩn * Phân loại theo đặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy: Vi khuẩn được phân loại tùy theo sự khác nhau về đặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy, sắc tố tan, hình dạng của khuẩn lạc, hình dạng và kết cấu bề mặt bào tử. Trong đó, khuẩn lạc của vi khuẩn có hình dạng, kích thước, màu h 5 sắc, đặc thù bề mặt, độ láng bóng. khác nhau, đặc trưng cho các nhóm, các loài vi khuẩn khác nhau.
Có thể phân biệt ba dạng khuẩn lạc chủ yếu như sau: Dạng S: khuẩn lạc nhẵn, bề mặt bóng, rìa nhẵn; Dạng R: khuẩn lạc xù xì, bề mặt trong mờ không nhẵn bóng, rìa nhăn; Dạng M: khuẩn lạc nhớt. Trong quá trình sinh trưởng phát triển, vi khuẩn có khả năng tạo thành các sắc tố tùy theo loài vi khuẩn có vai trò bảo vệ, chống tác động có hại của ánh sáng tia tím hoặc có vai trò như một chất có hoạt tính kháng sinh, đối kháng. Có nhiều loại sắc tố có màu khác nhau: màu xanh lục, màu xanh lơ, màu đỏ, màu vàng, màu đen. Trong số này, có loại sắc tố thẩm thấu khuếch tán vào môi trường làm biến đổi màu môi trường nhân tạo khi nuôi cấy vi khuẩn.
Tuy nhiên, ngày nay chỉ tiêu này chỉ là bổ sung cho việc nghiên cứu phân loại bằng sinh lý, sinh hóa, miễn dịch học và sinh học phân tử [16]. * Phân loại vi khuẩn bằng phân tích trình tự gen 16S rDNA: Từ những năm 1980 trở lại đây, với sự phát triển mạnh mẽ của sinh học phân tử, các nhà khoa học đã có một công cụ mới để phân loại sinh vật đó là phân loại học phân tử. Phương pháp này có ưu điểm là thời gian ngắn và có độ chính xác cao. Phân loại học phân tử có thể dựa trên các gen hoặc các sản phẩm của gen.
Trong hệ thống phân loại vi khuẩn hiện nay, thường sử dụng 3 phương pháp chính là lai DNA, lai RNA và phân tích trình tự gen 16S rDNA [17]. Hiện nay, việc nghiên cứu gen 16S rDNA là phương pháp hữu hiệu nhất để xác định mối quan hệ trên cây phát sinh chủng loại, vì gen này có mặt trong tất cả các sinh vật, có chức năng xác định và có tính bảo thủ cao [17]. Keswani và cộng sự đã chứng minh rằng nếu sự tương đồng giữa hai trình tự 16S rDNA là 98,6% thì xác suất để mức độ giống trong phép lai DNA thấp hơn 70% sẽ là 99% [18]. Vì thế giá trị tương đồng 98,6% của trình tự 16S rDNA được coi là ngưỡng để phân biệt hai loài khác nhau.
Tuy nhiên, cũng có nhiều nhà khoa học lấy giá trị này là 98%. Tiềm năng ứng dụng của vi khuẩn nội sinh Nghiên cứu và ứng dụng VKNS ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm trong phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dược phẩm như kích thích sinh trưởng thực vật, kháng bệnh hại, tăng cường khả năng khử độc môi trường, sản xuất nhiên liệu sinh học, thuốc kháng sinh. Kiểm soát tác nhân gây bệnh: Một số VKNS giữ vai trò quan trọng trong vòng đời của cây trồng. Một số vi khuẩn không gây bệnh như: Bacillus subtilis, Bacillus mycoides, Pseudomonas fluorescens, Pseudomonas cepacia, Pimelobacter sp., Agrobacterium radiobacter k84 và một số loại vi khuẩn đối kháng khác đã và đang được sử dụng hiệu quả trong phòng trừ bệnh hại cây trồng [19].