Luận án tiến sĩ: Phẫu thuật nội soi lồng ngực có robot hỗ trợ trị ung thư phổi năm 2023

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực có robot hỗ trợ điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ, đánh giá hiệu quả và độ an toàn lâm sàng.

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2023

188
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan phẫu thuật lồng ngực robot hỗ trợ trị ung thư phổi

Năm 2023 đánh dấu bước phát triển quan trọng của phẫu thuật nội soi lồng ngực có robot hỗ trợ trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ. Kỹ thuật này sử dụng hệ thống cánh tay cơ học kết hợp camera phóng đại chuyên dụng. Bác sĩ ngoại khoa ngồi tại bàn điều khiển từ xa để thao tác phẫu tích. Thiết bị truyền tín hiệu trực tiếp đến các dụng cụ bên trong khoang màng phổi. Nhờ công nghệ hiện đại, đường mổ thu nhỏ đáng kể so với phương pháp mổ mở truyền thống. Bệnh nhân chịu ít đau đớn sau can thiệp ngoại khoa. Tỷ lệ mất máu trong ca mổ giảm rõ rệt. Quá trình bóc tách các thùy phổi và nạo vét hạch diễn ra thuận lợi. Tầm nhìn lập thể ba chiều cho phép quan sát rõ các mạch máu và nhánh phế quản phức tạp. Các biến thể giải phẫu được nhận diện dễ dàng hơn. Kỹ thuật mang lại sự an toàn cao cho người bệnh. Thời gian phục hồi chức năng hô hấp được rút ngắn. Phẫu thuật robot mở ra triển vọng điều trị ung thư phổi hiệu quả và chuẩn xác.

1.1. Khái niệm và nguyên lý của phẫu thuật robot

Phẫu thuật robot là bước tiến cao của kỹ thuật nội soi can thiệp tối thiểu. Hệ thống bao gồm ba bộ phận cốt lõi: buồng điều khiển, xe gắn cánh tay cơ học và khối xử lý hình ảnh. Phẫu thuật viên điều khiển bàn đạp chân cùng hai tay nắm mô phỏng. Cánh tay robot sở hữu khớp cổ tay linh hoạt với bảy bậc tự do. Độ rung tay sinh lý của bác sĩ được triệt tiêu hoàn toàn qua bộ lọc kỹ thuật số. Chuyển động cơ học diễn ra mượt mà và vô cùng tỉ mỉ. Đầu dụng cụ xoay chuyển linh hoạt trong khoang lồng ngực hẹp. Cấu trúc mô phổi được bảo tồn tối đa. Tín hiệu quang học truyền tải hình ảnh ba chiều độ nét cao. Bác sĩ đánh giá chính xác từng milimét giải phẫu.

1.2. Vị trí của phẫu thuật robot trong y học năm 2023

Đến năm 2023, ứng dụng robot trong phẫu thuật lồng ngực đã phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu. Các quốc gia tiên tiến ghi nhận tỷ lệ áp dụng kỹ thuật này gia tăng nhanh chóng. Tại Đông Nam Á, Việt Nam tiếp cận công nghệ hiện đại sau Singapore và Thái Lan. Các bệnh viện lớn tại Việt Nam đã làm chủ hệ thống Da Vinci thế hệ mới. Kỹ thuật này khẳng định vai trò trụ cột trong phẫu thuật cắt thùy phổi ung thư. Phương pháp thay thế dần các ca mổ mở phức tạp và chấn thương lớn. Nghiên cứu năm 2023 ghi nhận sự chấp thuận rộng rãi từ giới chuyên môn. Bệnh nhân tiếp cận được quy trình điều trị ngoại khoa chuẩn mực quốc tế.

II. Thách thức trong phẫu thuật nội soi robot trị ung thư phổi

Dù mang lại nhiều ưu điểm đột phá, phẫu thuật nội soi lồng ngực có robot hỗ trợ vẫn đối mặt nhiều khó khăn trong thực tế. Chi phí đầu tư ban đầu cho hệ thống máy rất đắt đỏ. Giá thành dụng cụ chuyên dụng sử dụng một lần cũng ở mức cao. Điều này tạo gánh nặng tài chính lớn cho người bệnh và cơ sở y tế. Bảo hiểm y tế chưa chi trả toàn bộ chi phí phẫu thuật robot. Bên cạnh đó, thời gian mổ trong giai đoạn đầu thường kéo dài. Việc lắp đặt hệ thống xe chở cánh tay robot đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng. Kíp mổ phải trải qua quá trình huấn luyện nghiêm ngặt. Phẫu thuật viên thiếu cảm giác xúc giác trực tiếp từ tay. Bác sĩ phải dựa hoàn toàn vào phản hồi thị giác trên màn hình 3D. Các biến thể giải phẫu mạch máu phổi bất thường tiềm ẩn nguy cơ chảy máu ồ ạt. Tỷ lệ chuyển sang mổ mở khẩn cấp vẫn tồn tại trong y văn. Những rào cản này làm chậm tiến độ mở rộng kỹ thuật.

2.1. Chi phí điều trị và rào cản trang thiết bị y tế

Chi phí là trở ngại hàng đầu khi triển khai phẫu thuật robot tại các bệnh viện. Chi phí mua sắm hệ thống Da Vinci lên tới hàng triệu đô la. Phí bảo dưỡng định kỳ và linh kiện thay thế rất tốn kém. Dụng cụ phẫu thuật có giới hạn số lần sử dụng nghiêm ngặt theo khuyến cáo từ nhà sản xuất. Bệnh nhân ung thư phổi phải tự chi trả phần lớn số tiền dịch vụ phụ thu. Tình trạng này khiến nhiều ca bệnh có chỉ định nhưng không đủ điều kiện tiếp cận. Sự phân bổ hệ thống robot hiện chỉ tập trung ở vài bệnh viện đầu ngành tuyến trung ương. Các cơ sở y tế tuyến dưới chưa đủ nguồn lực trang bị.

2.2. Thời gian phẫu thuật và đường cong học tập ngoại khoa

Thời gian mổ cắt thùy phổi bằng robot từng kéo dài đáng kể trong những giai đoạn đầu. Báo cáo của tác giả Jang H. ghi nhận thời gian phẫu thuật dao động từ 160 đến 257 phút. Nguyên nhân chủ yếu do việc kết nối hệ thống và lắp đặt cánh tay mất nhiều thời gian. Kíp phẫu thuật cần vượt qua đường cong học tập đòi hỏi ít nhất 20 đến 30 ca mổ liên tục. Phẫu thuật viên phải rèn luyện kỹ năng định vị không gian và điều khiển bàn đạp chân. Nếu xảy ra biến chứng đứt mạch máu lớn, việc tháo robot để chuyển mổ mở mất thời gian quý báu. Điều này tạo áp lực tâm lý lớn cho kíp mổ.

III. Giải pháp phẫu thuật lồng ngực robot hỗ trợ trị ung thư phổi

Để khắc phục hạn chế, các trung tâm ngoại khoa áp dụng nhiều giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Thế hệ robot Da Vinci Xi ra đời giúp tối ưu hóa toàn bộ quy trình mổ lồng ngực. Thiết kế cánh tay treo thanh thoát giúp giảm đáng kể va chạm giữa các dụng cụ ngoại khoa. Thời gian lắp đặt hệ thống máy giảm xuống chỉ còn khoảng 10 đến 15 phút. Nghiên cứu phân tích gộp năm 2023 của Ma J. trên 18 báo cáo xác nhận thời gian mổ robot đã tương đương mổ nội soi tiêu chuẩn. Kíp mổ tuân thủ quy trình chuẩn hóa vị trí đặt các lỗ vào trocar trên thành ngực. Tùy thuộc thùy phổi tổn thương, phẫu thuật viên thiết lập khoảng cách chính xác giữa các cổng thao tác. Kỹ thuật đốt điện lưỡng cực và dao cắt siêu âm kiểm soát triệt để hiện tượng chảy máu. Thao tác nạo vét hạch rốn phổi và hạch trung thất đạt độ tinh sạch tuyệt đối. Quy trình gây mê hồi sức hiện đại hỗ trợ làm xẹp phổi đích nhanh chóng. Bệnh nhân duy trì chỉ số sinh tồn ổn định trong suốt ca phẫu thuật.

3.1. Kỹ thuật thiết lập cánh tay robot Da Vinci tối ưu

Việc thiết lập vị trí các cổng vào trocar đóng vai trò then chốt cho sự thành công của ca mổ. Khoảng cách lý tưởng giữa các cổng thao tác duy trì từ 6 đến 8 cm. Khoảng cách này ngăn ngừa tình trạng va chạm giữa các cánh tay máy bên ngoài thành ngực. Cổng camera thường bố trí tại khoang liên sườn số 7 hoặc số 8 trên đường nách giữa. Hai cánh tay thao tác chính được bố trí tại các vị trí thuận lợi tương ứng. Một cổng phụ dành cho trợ thủ đưa gạc và dụng cụ cầm máu bổ sung. Bố cục này mở rộng phạm vi phẫu tích trong khoang màng phổi. Phẫu thuật viên kiểm soát toàn cảnh trường mổ dễ dàng.

3.2. Quy trình bóc tách hạch bạch huyết triệt để

Nạo vét hạch bạch huyết triệt căn là yêu cầu bắt buộc khi phẫu thuật ung thư phổi không tế bào nhỏ. Cánh tay robot với khớp cổ tay linh hoạt bộc lộ rõ các trạm hạch trung thất sâu. Camera phóng đại gấp mười lần giúp phân định ranh giới giữa hạch bệnh và vỏ bao thần kinh. Các nhóm hạch số 2, 4, 7, 10 đối với phổi phải được nạo vét hoàn toàn. Đối với phổi trái, nhóm hạch số 5, 6, 7 và 8 được phẫu tích an toàn. Phương pháp giúp hạn chế tối đa nguy cơ thủng động mạch hoặc tổn thương thần kinh quặt ngược. Số lượng hạch lấy ra đạt tiêu chuẩn ung thư học quốc tế. Kết quả này hỗ trợ xác định chính xác giai đoạn bệnh sau mổ.

IV. Ứng dụng phẫu thuật nội soi robot hỗ trợ trị ung thư phổi

Năm 2023 khẳng định vị thế vững chắc của phẫu thuật nội soi lồng ngực có robot hỗ trợ trong điều trị ung thư phổi. Phương pháp kết hợp thành công tính chuẩn xác công nghệ và tay nghề ngoại khoa. Bệnh nhân được hưởng lợi trực tiếp từ can thiệp ít xâm lấn. Vết mổ nhỏ làm giảm mức độ đau và hạ thấp tỷ lệ nhiễm trùng thành ngực. Chức năng hô hấp sớm phục hồi giúp người bệnh nhanh chóng xuất viện. Tỷ lệ biến chứng rò khí hoặc chảy máu sau mổ duy trì ở mức rất thấp. Thời gian nằm viện trung bình rút ngắn xuống còn 3 đến 5 ngày. Tỷ lệ sống sót sau mổ của bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn sớm đạt mức rất khả quan. Nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam cho thấy khả năng làm chủ công nghệ hoàn hảo của các bác sĩ trong nước. Việc mở rộng bảo hiểm y tế đồng chi trả sẽ mang lại cơ hội chữa bệnh cho đông đảo người dân. Phẫu thuật robot tiếp tục là xu thế ngoại khoa tất yếu của y học hiện đại.

4.1. Hiệu quả lâm sàng và khả năng hồi phục của người bệnh

Kết quả điều trị thực tế chứng minh phẫu thuật robot đem lại hiệu quả lâm sàng vượt trội. Bệnh nhân có vết thương liền nhanh và thẩm mỹ cao. Cơn đau sau mổ giảm đáng kể so với kỹ thuật mở ngực truyền thống. Nhu cầu sử dụng thuốc giảm đau nhóm opioid giảm rõ rệt. Người bệnh có thể tự vận động nhẹ nhàng sau 24 giờ hậu phẫu. Tình trạng biến chứng tràn khí màng phổi hoặc xẹp phổi giảm thiểu tối đa. Các thông số khí máu động mạch phục hồi nhanh chóng. Người bệnh sớm trở lại sinh hoạt gia đình và công việc hàng ngày. Chất lượng cuộc sống tổng thể được cải thiện rõ nét.

4.2. Tiềm năng mở rộng kỹ thuật nội soi robot tại Việt Nam

Việt Nam đang đứng trước cơ hội mở rộng kỹ thuật phẫu thuật robot lồng ngực trong giai đoạn tới. Các trung tâm y tế lớn như Bệnh viện Chợ Rẫy tiếp tục đào tạo nhiều thế hệ bác sĩ phẫu thuật chuyên sâu. Chi phí điều trị có xu hướng giảm nhờ các chính sách xã hội hóa y tế. Việc chuyển giao công nghệ giữa các bệnh viện tuyến trung ương và địa phương được đẩy mạnh. Năng lực phẫu thuật ung thư phổi bằng robot của bác sĩ trong nước đã tiệm cận chuẩn khu vực. Đây là tiền đề vững chắc để phát triển y tế kỹ thuật cao và thu hút người bệnh quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/10/2026
Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực có robot hỗ trợ điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật cắt thùy phổi Năm 1933, Graham và Singer đã báo cáo một trường hợp được phẫu thuật cắt phổi để điều trị ung thư phổi thành công, trường hợp phẫu thuật này đã đánh dấu một bước khởi đầu cho phẫu thuật cắt thùy phổi ngày nay [9], [10]. Các biến thể giải phẫu của thùy phổi, phân thùy hai phổi Giải phẫu học của PQ hầu như hằng định, ĐM phổi đi theo PQ thì có nhiều biến đổi hơn, TM không đi theo ĐM mà chạy trong khoảng liên thùy, TM nhận máu của các phân thùy kế cận và tạo biên giới cho đơn vị giải phẫu. TM có vai trò rất quan trọng trong việc xác định phân thùy phổi và phẫu thuật cắt phân thùy phổi [11].

Bất thường của thùy, phân thùy là do không có hay sự phát triển không hoàn toàn của rãnh liên thùy gây sự hòa lẫn của các thùy kế cận [12], [13]. - Thùy tim là phân thùy đáy trong của thùy dưới, do sự phân chia rõ của rãnh gian phân thùy tạo nên. Tương tự, phân thùy đỉnh của thùy dưới và thùy lưỡi của thùy trên bên trái có thể bị chia bởi rãnh liên thùy phụ. - Thùy khí quản là phân thùy đỉnh của thùy trên phổi phải với PQ phân thùy xuất phát từ khí quản.

Nếu không có sự thông nối PQ, những thùy phụ này có thể là phổi biệt lập ngoài phổi. - Thùy đơn phổi là bất thường trong phân chia thùy của thùy trên phổi phải, chiếm dưới 1%, là một phần đơn độc của thùy trên phổi phải, không có cung cấp mạch máu, PQ bất thường. Các biến thể giải phẫu của thùy trên phổi phải PQ thùy trên phổi phải: xuất phát từ thành bên của PQ gốc phải, đi vuông góc với PQ gốc phải và PQ trung gian vào thùy trên phổi. Bất thường của PQ chiếm 3% các trường hợp: PQ phân thùy đỉnh xuất phát từ khí quản hay từ PQ gốc phải chiếm tỷ lệ 1,4%.

Không có thân chung PQ thùy trên, các PQ phân thùy được chia ngay lập tức vào các phân thùy chiếm tỷ lệ 1,1%. PQ thùy trên phải xuất phát từ khí quản chiếm tỷ lệ 0,5% [9]. Giải phẫu mạch máu phân thùy trên phải * Nguồn: Robert J. (2009) [14] ĐM phổi cung cấp máu cho thùy trên gồm 2 nhánh chính là: - ĐM thân trước: là nhánh ĐM đầu tiên, lớn nhất của ĐM phổi phải.

ĐM thường chia đôi sau khi đi được 1cm. Tất cả mọi trường hợp đều có ĐM này, 10% trường hợp ĐM thân trước là ĐM duy nhất cung cấp máu cho thùy trên phổi phải. 5 ĐM thân trước có hai nhánh riêng lẻ, xuất phát từ ĐM phổi chiếm 3,6%, rất hiếm khi ĐM thân trước có 3 nhánh [9], [13]. - ĐM sau lên: xuất phát từ mặt sau ngoài ĐM phổi, đối diện ĐM thùy giữa.

ĐM đi vào mặt dưới của thùy trên phổi phải cung cấp máu cho phân thùy sau. Tuy nhiên có 25% trường hợp, ĐM sau lên đi ra phía trước, cung cấp máu cho một phần của phân thùy trước của thùy trên phải. 12% trường hợp ĐM này xuất phát từ thân chung với ĐM phân thùy đỉnh thùy dưới, 1% ĐM xuất phát từ thân chung với ĐM thùy giữa [9], [12]. 90% trường hợp, ĐM này có nhiều nhánh, 10% trường hợp có một nhánh [9].

- TM phổi trên: nhận máu cả TM thùy giữa và TM thùy trên, do đó chú ý giữ lại TM thùy giữa khi cắt thùy trên phổi phải. TM thùy trên có 3 nhánh: TM đỉnh trước, TM dưới và TM sau. TM đỉnh trước là nhánh nằm cao nhất, TM dưới nằm ngay phía dưới nhận máu từ mặt dưới của phân thùy trước, TM sau nằm phía sau, sâu trong nhu mô nhận máu từ phân thùy sau [11]. Các biến thể giải phẫu của thùy giữa phổi phải PQ thùy giữa: PQ gốc phải sau khi chia nhánh PQ thùy trên thành PQ trung gian, dài 2-4cm.

PQ trung gian chia thành PQ thùy giữa và PQ thùy dưới. PQ thùy giữa trung bình dài 1,8cm, thường chia đôi cho hai PQ phân thùy, 3% trường hợp có thân PQ chung cho hai PQ phân thùy giữa [9], [15]. ĐM thùy giữa: xuất phát từ thân ĐM phổi nằm trong nhu mô. 6,5% trường hợp ĐM có một nhánh ĐM xuất phát từ mặt trước và trong ĐM phổi ở ngang mức nhánh ĐM sau lên của thùy trên.

51,5% trường hợp ĐM có hai nhánh ĐM, trong đó nhánh ĐM thứ hai: 48,5% xuất phát từ ĐM phổi ở ngang mức đối diện nhánh ĐM phân thùy đỉnh của thùy dưới, 2,5% từ thân chung với nhánh ĐM phân thùy đáy của thùy dưới [9]. 2% trường hợp ĐM có 3 nhánh [9]. 6 TM thùy giữa hợp lưu với TM thùy trên để tạo thành TM phổi trên, 64% trường hợp có hai TM phân thùy hợp lại tạo thành TM phổi thùy giữa, 36% trường hợp có hai TM riêng lẻ đổ vào TM phổi trên [9]. Giải phẫu mạch máu – phế quản thùy giữa * Nguồn: Robert J.

Các biến thể giải phẫu của thùy dưới phổi phải PQ thùy dưới xuất phát từ PQ trung gian bao gồm: - PQ phân thùy đỉnh thùy dưới xuất phát từ mặt sau bên của PQ trung gian, thường đối diện hay phía trên PQ thùy giữa một ít, 6% trường hợp có 2 nhánh PQ phân thùy đỉnh nằm cách nhau 6-10mm [9], [12]. - PQ phân thùy đáy phân chia PQ phân thùy đáy giữa, kế đến là PQ phân thùy đáy trước, sau cùng là thân chung phân thùy đáy ngoài và đáy sau. Phế quản thùy giữa dễ bị phạm khi cắt thùy dưới, vì vậy nên xác định rõ PQ thùy giữa, phân thùy đỉnh của thùy dưới, phân thùy đáy của thùy dưới trước khi cắt PQ thùy dưới. ĐM thùy dưới: ĐM phổi sau khi cho nhánh ĐM thùy giữa tiếp tục đi xuống chia thành 2 nhánh để cung cấp máu cho thùy dưới.

7 - ĐM phân thùy đỉnh xuất phát từ thân ĐM phổi, cung cấp máu cho phân thùy đỉnh. 12% - 14% trường hợp ĐM này xuất phát từ thân chung với ĐM sau lên của thùy trên, 6% trường hợp ĐM này xuất phát từ ĐM phân thùy đáy. 78% trường hợp ĐM chỉ có một nhánh, 21% trường hợp ĐM có hai nhánh, dưới 1% trường hợp ĐM cho ba nhánh [9]. - ĐM phân thùy đáy cho các nhánh tới phân thùy đáy giữa và phân thùy đáy trước.

ĐM phân thùy đáy kết thúc bằng chia 2 nhánh: ĐM phân thùy đáy sau và đáy ngoài. TM phổi dưới gồm 2 nhánh: TM đỉnh và TM đáy chung. TM đáy chung thường có 2 nhánh chính: TM đáy trên (nhận máu từ phân thùy đáy giữa, đáy trước và đáy ngoài) và TM đáy chung (nhận máu từ phân thùy đáy bên và đáy sau). TM phổi dưới có thể nhận máu từ TM phân thùy sau của thùy trên và TM thùy giữa [9], [13].

Giải phẫu mạch máu – phế quản thùy dưới phải * Nguồn: Robert J. Các biến thể giải phẫu của thùy trên phổi trái PQ thùy trên phổi trái xuất phát thấp hơn so bên phải. Sau đó, PQ chia đôi tạo thành PQ thùy lưỡi và thân chung tới phân thùy trước và đỉnh sau. 8 ĐM thùy trên trái có từ 1 đến 8 nhánh ĐM, chia làm 2 nhóm: ĐM thân trước và ĐM phân thùy sau, tất cả đều xuất phát dọc bờ trong ĐM phổi.

- ĐM thân trước: ĐM to, ngắn, bị che bởi TM phổi trên, cung cấp máu tới phân thùy trước thùy trên hay thùy lưỡi. ĐM này thường bị xâm lấn nếu u thùy trên lớn, gây khó khăn cho các phẫu thuật viên khi phẫu tích. ĐM thân trước chia làm hai nhánh chiếm 70% trường hợp, 30% còn lại ĐM có một hay ba nhánh [9]. Giải phẫu mạch máu – phế quản phổi trái * Nguồn: Robert J.

(2009) [14] - ĐM phân thùy sau, cung cấp máu cho các phần còn lại của thùy trên. ĐM xuất phát từ ĐM phổi trong rãnh liên thùy. ĐM có từ 0 đến 5 nhánh: 5% trường hợp ĐM chỉ có một nhánh, 46% trường hợp ĐM có hai nhánh, 36% trường hợp ĐM có ba nhánh, 12% trường hợp ĐM có bốn nhánh, 1% trường hợp ĐM có năm nhánh. 65% trường hợp các nhánh không có thân chung ĐM, 35% trường hợp còn lại ĐM có thân chung [9].

TM phổi trên được tạo thành từ sự hợp nhất của TM phân thùy trước, TM phân thùy đỉnh sau và TM thùy lưỡi. TM thường nằm trước ĐM, phía 9 trong rốn phổi. Trong một số trường hợp, TM thùy lưỡi có thể đổ bất thường vào TM phổi dưới [16], [17], [18]. Các biến thể giải phẫu của thùy dưới phổi trái Hình 1.5: Các nhánh ĐM cho thùy dưới phổi trái * Nguồn: Robert J.

(2009) [14] PQ thùy dưới: là phần PQ còn lại sau khi chia PQ thùy trên. PQ thùy dưới sau khi chia nhánh phân thùy đỉnh, đi 1-2 cm trở thành PQ đáy chung. PQ đáy chung chia đôi trong 80% trường hợp, còn lại là chia 3 nhánh. ĐM thùy dưới xuất phát từ ĐM phổi trong rãnh liên thùy cho các nhánh: - ĐM phân thùy đỉnh: xuất phát trực tiếp từ ĐM phổi, dưới 3% trường hợp ĐM có thân chung với ĐM phân thùy sau của thùy trên, 12% trường hợp ĐM có thân chung với ĐM phân thùy đáy ĐM có thể chia một nhánh (72%), 2 nhánh (26%) hay 3 nhánh (2%) [9], [12].

- ĐM phân thùy đáy là tận cùng của ĐM phổi. Khoảng 50% trường hợp, ĐM này chia đôi cung cấp máu cho phân thùy trước trong và phân thùy sau ngoài. Số lượng các nhánh thay đổi từ 2-4 nhánh [9]. 10 TM phổi dưới: nhận máu từ 2 nhánh là TM đỉnh và TM đáy chung.

TM đáy chung được tạo thành từ TM đáy trước và TM đáy dưới [15]. Hệ thống bạch huyết phổi Naruke trình bày hệ thống hạch vùng của phổi đầu tiên, sau đó được bổ sung bởi AJCC (The American Joint Committee for Cancer). Hệ thống này là cơ sở để phân giai đoạn trong ung thư phổi. Hạch bạch huyết ở phổi được xếp thành 14 nhóm hạch.

Nhóm hạch số 1 đến 9 là hạch trung thất. Nhóm hạch rốn phổi là hạch số 10. Nhóm hạch số 11 đến 14 là hạch trong phổi [19], [20]. 1: Hạch trung thất trên cùng, là những hạch nằm dưới đòn (AJCC) và trên tĩnh mạch không tên (UICC).

2R: Hạch quanh khí quản trên phải, là những hạch nằm bên phải của đường giữa khí quản, ở giao điểm của bờ dưới động mạch thân cánh tay đầu với khí quản và đỉnh phổi. 2L: Hạch quanh khí quản trên trái, là những hạch bên trái của đường giữa khí quản, nằm ở giữa đỉnh quai động mạch chủ và đỉnh phổi. 3: Những hạch trung thất ngay trên đường giữa (UICC). 3A: Những hạch trước khí quản và dọc theo tĩnh mạch chủ trên (AJCC).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ