Luận án tiến sĩ y học đề tài nghiên cứu ứng dụng kĩ thuật nội soi ruột non bóng kép trong chẩn đoán và điều trị xuất huyết tiêu hoá tại ruột non

Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nội soi ruột non bóng kép trong chẩn đoán và điều trị xuất huyết tiêu hóa tại ruột non.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nội Tiêu Hoá

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

311
3
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. RUỘT NON VÀ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ RUỘT NON

1.1.1. Giải phẫu ruột non

1.2. Tổng quan về xuất huyết tiêu hoá tại ruột non

1.3. Các nguyên nhân gây XHTH tại ruột non

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Thiết kế nghiên cứu

2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.4. PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

2.5. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU

2.5.1. Lựa chọn, đánh giá và xử trí bệnh nhân trước khi NSRNBK

2.5.2. Nhận định đánh giá tổn thương phát hiện bằng NSRNBK

2.5.3. Can thiệp cầm máu qua NSRNBK

2.5.4. Can thiệp phẫu thuật

2.5.5. Điều trị nội khoa, không can thiệp phẫu thuật – thủ thuật

2.5.6. Theo dõi bệnh nhân sau khi ra viện

2.7. CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU

2.7.1. Các biến số lâm sàng

2.7.2. Các biến số cận lâm sàng

2.7.3. Các biến số của nội soi ruột non bóng kép

2.7.4. Các biến số liên quan đến can thiệp nội soi

2.7.5. Các biến số liên quan đến phẫu thuật và điều trị nội khoa

2.7.6. Các biến số liên quan đến theo dõi tái phát XHTH

2.8. XỬ LÝ SỐ LIỆU

2.9. KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC CỦA ĐỀ TÀI

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

3.1.1. Phân bố về giới và tuổi của bệnh nhân nghiên cứu

3.1.2. Tiền sử xuất huyết tiêu hoá

3.1.3. Tiền sử bệnh lý và tiền sử dùng thuốc

3.1.4. Triệu chứng lâm sàng

3.2. ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG

3.2.1. Mức độ thiếu máu trên xét nghiệm

3.2.2. Các xét nghiệm khác

3.2.3. Số lượng chế phẩm máu phải truyền

3.2.4. Các bất thường phát hiện được trên chụp cắt lớp vi tính

3.3. ĐẶC ĐIỂM NỘI SOI CỦA NGUYÊN NHÂN XHTH RUỘT NON

3.3.1. Nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hoá tại ruột non

3.3.2. Đặc điểm tổn thương tân sinh ruột non gây XHTH

3.3.3. Đặc điểm tổn thương túi thừa gây XHTH

3.3.4. Đặc điểm bất thường mạch máu gây XHTH

3.3.5. Đặc điểm tổn thương loét gây XHTH

3.3.6. Vị trí tổn thương gây XHTH

3.3.7. Phân bố nguyên nhân theo giới

3.3.8. Phân bố nguyên nhân theo tuổi

3.3.9. Tình trạng thiếu máu của bệnh nhân và nguyên nhân XHTH

3.3.10. Số lượng khối hồng cầu phải truyền và nguyên nhân XHTH

3.4. Các phương pháp điều trị áp dụng trong nghiên cứu

3.4.1. Nội soi can thiệp

3.4.2. Điều trị nội khoa, không can thiệp phẫu thuật – thủ thuật

3.5. Biến chứng và tác dụng không mong muốn trong khi làm NSRNBK

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG

4.1.1. Đặc điểm về tuổi và giới

4.1.2. Tiền sử xuất huyết tiêu hoá

4.1.3. Tiền sử bệnh lý

4.1.4. Triệu chứng lâm sàng

4.1.5. Mức độ thiếu máu trên xét nghiệm huyết học

4.1.6. Các kết quả xét nghiệm khác

4.1.7. Đặc điểm tổn thương ruột non trên chụp cắt lớp vi tính

4.2. ĐẶC ĐIỂM NSRNBK VÀ NGUYÊN NHÂN XHTH RUỘT NON

4.2.1. Tỷ lệ phát hiện nguyên nhân gây XHTH tại ruột non

4.2.2. Phân bố tổn thương phát hiện qua NSRNBK

4.2.3. Phân bố nguyên nhân gây XHTH tại ruột non

4.2.4. Vị trí tổn thương

4.3. ĐIỀU TRỊ XHTH ĐẠI THỂ TẠI RUỘT NON

4.3.1. NSRNBK can thiệp cầm máu

4.3.2. Điều trị phẫu thuật

4.3.3. Điều trị nội khoa, không can thiệp phẫu thuật - thủ thuật

4.4. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

KẾT LUẬN

KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về ứng dụng nội soi ruột non bóng kép trong chẩn đoán

Nội soi ruột non bóng kép (NSRNBK) là một kỹ thuật tiên tiến trong chẩn đoán và điều trị xuất huyết tiêu hóa. Kỹ thuật này cho phép bác sĩ quan sát và can thiệp trực tiếp vào niêm mạc ruột non, giúp phát hiện các tổn thương mà các phương pháp khác không thể thực hiện. Xuất huyết tiêu hóa tại ruột non là một vấn đề nghiêm trọng, thường gây khó khăn trong việc chẩn đoán và điều trị. Việc áp dụng NSRNBK đã mở ra một hướng đi mới trong việc quản lý bệnh lý này.

1.1. Giới thiệu về nội soi ruột non bóng kép

Nội soi ruột non bóng kép là một phương pháp nội soi hiện đại, cho phép quan sát toàn bộ niêm mạc ruột non. Kỹ thuật này sử dụng hai bóng khí để mở rộng lòng ruột, giúp bác sĩ dễ dàng tiếp cận và chẩn đoán các tổn thương.

1.2. Lịch sử phát triển của nội soi ruột non

Kỹ thuật nội soi ruột non đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Trước năm 2000, việc chẩn đoán xuất huyết tiêu hóa tại ruột non gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, sự ra đời của NSRNBK đã thay đổi hoàn toàn cách tiếp cận này.

II. Vấn đề và thách thức trong chẩn đoán xuất huyết tiêu hóa

Xuất huyết tiêu hóa là một cấp cứu y khoa thường gặp, với nhiều nguyên nhân khác nhau. Việc xác định nguyên nhân chính xác là rất quan trọng để có phương pháp điều trị hiệu quả. Tuy nhiên, do vị trí và cấu trúc của ruột non, việc chẩn đoán thường gặp nhiều khó khăn. Các phương pháp truyền thống như nội soi đại tràng không thể tiếp cận được toàn bộ niêm mạc ruột non, dẫn đến việc bỏ sót nhiều tổn thương.

2.1. Các nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hóa

Xuất huyết tiêu hóa có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm viêm loét, khối u, hoặc bất thường mạch máu. Việc xác định chính xác nguyên nhân là rất quan trọng để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

2.2. Thách thức trong việc chẩn đoán

Một trong những thách thức lớn nhất trong chẩn đoán xuất huyết tiêu hóa là khả năng tiếp cận và quan sát toàn bộ niêm mạc ruột non. Các phương pháp truyền thống thường không đủ hiệu quả trong việc phát hiện các tổn thương nhỏ.

III. Phương pháp nội soi ruột non bóng kép trong điều trị

Nội soi ruột non bóng kép không chỉ giúp chẩn đoán mà còn có khả năng can thiệp điều trị. Kỹ thuật này cho phép bác sĩ thực hiện các thủ thuật như sinh thiết hoặc cầm máu ngay trong quá trình nội soi. Điều này giúp giảm thiểu thời gian điều trị và cải thiện kết quả cho bệnh nhân.

3.1. Quy trình thực hiện nội soi ruột non bóng kép

Quy trình thực hiện NSRNBK bao gồm việc chuẩn bị bệnh nhân, sử dụng thiết bị nội soi và theo dõi tình trạng bệnh nhân trong suốt quá trình. Các bước này cần được thực hiện cẩn thận để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

3.2. Khả năng can thiệp cầm máu của NSRNBK

Nội soi ruột non bóng kép có khả năng can thiệp cầm máu hiệu quả, với tỷ lệ thành công cao. Kỹ thuật này cho phép bác sĩ thực hiện các thủ thuật cầm máu ngay tại chỗ, giúp giảm thiểu nguy cơ tái phát xuất huyết.

IV. Kết quả nghiên cứu về ứng dụng NSRNBK

Nghiên cứu cho thấy nội soi ruột non bóng kép có khả năng chẩn đoán và điều trị xuất huyết tiêu hóa hiệu quả. Tỷ lệ phát hiện nguyên nhân xuất huyết đạt từ 60% đến 86%, cho thấy tiềm năng lớn của phương pháp này trong thực hành lâm sàng. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng NSRNBK giúp cải thiện đáng kể tình trạng bệnh nhân sau khi can thiệp.

4.1. Tỷ lệ phát hiện nguyên nhân xuất huyết

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phát hiện nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa qua NSRNBK đạt từ 60% đến 86%, cho thấy hiệu quả cao của phương pháp này trong chẩn đoán.

4.2. Kết quả điều trị sau can thiệp

Sau khi can thiệp bằng NSRNBK, nhiều bệnh nhân đã có sự cải thiện rõ rệt về tình trạng sức khỏe. Tỷ lệ tái chảy máu cũng giảm đáng kể, cho thấy hiệu quả của phương pháp này.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của NSRNBK

Nội soi ruột non bóng kép đã chứng minh được vai trò quan trọng trong chẩn đoán và điều trị xuất huyết tiêu hóa. Với những ưu điểm vượt trội, phương pháp này hứa hẹn sẽ trở thành tiêu chuẩn trong quản lý bệnh lý này trong tương lai. Cần tiếp tục nghiên cứu và cải tiến kỹ thuật để nâng cao hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân.

5.1. Tầm quan trọng của NSRNBK trong y học hiện đại

NSRNBK không chỉ giúp chẩn đoán mà còn có khả năng can thiệp điều trị, mở ra hướng đi mới trong quản lý xuất huyết tiêu hóa.

5.2. Hướng nghiên cứu và phát triển trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu để cải tiến kỹ thuật và nâng cao hiệu quả của NSRNBK, đồng thời mở rộng ứng dụng của phương pháp này trong các lĩnh vực khác của y học.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 RUỘT NON VÀ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ RUỘT NON 1.1 Giải phẫu ruột non Ruột non là cấu trúc hình ống dài trung bình 6 đến 7 mét, đầu trên nối với dạ dày và đầu dưới nối với đại tràng, được chia làm 3 phần là tá, hỗng và hồi tràng. Tá tràng bắt đầu từ sau môn vị, dài khoảng 25cm, tạo thành hình chữ C tới góc Treitz, bao quanh đầu tuỵ và phần lớn nằm sau phúc mạc. Từ góc Treitz đến van Bauhin là hỗng - hồi tràng, với khoảng 40% chiều dài đầu tiên là hỗng tràng và 60% còn lại là hồi tràng. Không có một dấu mốc rõ rệt phân định ranh giới hỗng hồi tràng, ngoại trừ một số đặc điểm khác biệt như hỗng tràng có đường kính lớn, niêm mạc dầy, nếp niêm mạc ngang nổi rõ và nhiều hơn (Hình 1-1 A, B), mạch máu dưới niêm mạc to hơn (Hình 1-1 C, D), mạc treo ít mỡ với các cung mạch thẳng dài hơn hồi tràng 15.

Hỗng, hồi tràng nằm trong ổ bụng, được neo vào sau phúc mạc bởi mạc treo ruột, do đó tương đối di động. Đặc điểm quan trọng này là cơ sở cho các kĩ thuật nội soi chuyên sâu áp dụng để thực hiện thao tác thăm khám ruột non. NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON Hình 1-1: niêm mạc ruột non trên nội soi. Các nếp niêm mạc hỗng tràng (A) và hồi tràng (B, cùng bệnh nhân).

Mạch máu dưới niêm mạc hỗng tràng (C) và hồi tràng (D, cùng bệnh nhân). (Nguồn bệnh nhân Bệnh viện Bạch Mai) Thành ruột non gồm 4 lớp là lớp niêm mạc, hạ niêm mạc, cơ và thanh mạc 15. Lớp niêm mạc ở trong, có nhiệm vụ hấp thu dinh dưỡng và nước. Lớp NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON hạ niêm mạc cấu tạo bởi tổ chức liên kết dầy đặc, có mạng lưới mạch máu, bạch huyết, các tuyến Brunner và đám rối thần kinh Meissner.

Lớp cơ gồm cơ vòng ở trong và cơ dọc ở ngoài. Lớp thanh mạc ngoài cùng gồm các tế bào trung biểu mô. Lớp niêm mạc và hạ niêm mạc trong chuyên ngành tiêu hoá được coi là khu vực của các thủ thuật nội soi, nếu các can thiệp vượt quá hai lớp này mà xâm lấn vào lớp cơ sẽ có nguy cơ gây thủng ống tiêu hoá. Hình 1-2: cấu tạo 4 lớp của thành ruột non (nguồn Yeo và CS, 2019) 15 Động mạch cấp máu ruột non là động mạch mạc treo tràng trên.

Động mạch này phân nhánh nhiều lần tạo thành các cung mạch, từ cung mạch ngoài cùng sẽ tạo thành động mạch biên, chạy song song với thành ruột, sau đó tách ra các nhánh mạch thẳng chạy xuyên qua lớp cơ rồi phân nhánh tạo thành mạng lưới mạch máu ở lớp hạ niêm mạc để cấp máu cho mao mạch vi nhung mao và NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON 16 các tuyến. Máu từ lưới mao mạch sẽ qua tiểu tĩnh mạch để dẫn vào mạng lưới tĩnh mạch ở lớp dưới niêm mạc, sau đó được các tĩnh mạch ngắn xuyên thành đổ vào các nhánh của tĩnh mạch mạc treo tràng trên. NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON 1.2 Tổng quan về xuất huyết tiêu hoá tại ruột non Xuất huyết tiêu hoá (XHTH) là một cấp cứu y khoa thường gặp. Về vị trí chảy máu, trước khi ra đời các phương pháp nội soi ruột non (NSRN), y văn kinh điển chia XHTH ra làm 2 nhóm: (1) XHTH cao, khi tổn thương nằm từ thực quản đến góc Treitz và (2) XHTH thấp, khi tổn thương nằm dưới góc Treitz.

Hiện nay, theo phân loại mới của Hội Tiêu hoá Hoa Kỳ, XHTH được chia làm 3 nhóm, tương ứng với 3 khu vực giải phẫu mà các hệ thống dây nội soi có thể tiếp cận được, gồm 2: (1) XHTH cao: tổn thương từ thực quản đến papilla, chiếm khoảng 80% các trường hợp, chẩn đoán bằng nội soi đường tiêu hoá trên. (2) XHTH giữa: còn gọi là XHTH ruột non, khi tổn thương nằm ở đoạn ruột non phía dưới papilla đến hết hồi tràng, chiếm khoảng 5% các trường hợp, là đối tượng thăm dò của các phương pháp NSRN. (3) XHTH thấp: tổn thương ở đại trực tràng và ống hậu môn, chiếm 15% các trường hợp, có thể phát hiện bằng nội soi đại tràng toàn bộ. Trong thực hành lâm sàng, bệnh nhân có biểu hiện XHTH thường được làm nội soi dạ dày và nội soi đại tràng toàn bộ trước, nếu không tìm thấy nguyên nhân XHTH sẽ được chẩn đoán theo Hội Tiêu hoá Hoa Kỳ bằng thuật ngữ “XHTH nghi tại ruột non” 2.

Bệnh nhân sau đó sẽ được làm các thăm dò về ruột non như các chẩn đoán hình ảnh hoặc NSRN chuyên sâu 2. Về mức độ chảy máu, XHTH được chia làm 2 loại là chảy máu đại thể và vi thể (hay còn gọi là chảy máu tiềm ẩn) 1. XHTH vi thể là trường hợp bệnh nhân có máu trong phân nhưng không quan sát thấy bằng mắt thường, chỉ xét nghiệm NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON tìm hồng cầu ẩn trong phân dương tính và có biểu hiện thiếu máu thiếu sắt. XHTH đại thể là trường hợp bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng rõ rệt như đại tiện phân đen hoặc phân máu toàn bãi, có thể kèm nôn máu.

Các triệu chứng khác tuỳ thuộc nguyên nhân gây bệnh, có thể gặp là đau bụng, sờ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON thấy khối u ổ bụng. Mức độ máu mất vào đường tiêu hoá càng nhiều sẽ gây rối loạn huyết động và ảnh hưởng toàn trạng người bệnh. Về diễn biến, có những bệnh nhân chảy máu đại thể ồ ạt, dữ dội không cầm dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn và đe doạ tính mạng nhưng cũng có trường hợp chảy máu số lượng ít, ngắt quãng, tự cầm. Tại thời điểm bệnh nhân được NSRN, tình trạng XHTH được các nghiên cứu chia làm 2 nhóm 6: - Chảy máu tiến triển: khi bệnh nhân còn đại tiện phân máu hoặc phân đen trong vòng 24h trước khi NSRN.

- Chảy máu đã cầm: là khi bệnh nhân đại tiện phân máu hoặc phân đen lần cuối cùng cách NSRN trên 24h.3 Các nguyên nhân gây XHTH tại ruột non Có rất nhiều tổn thương có thể gây chảy máu ở ruột non. Các nghiên cứu về XHTH tại ruột non thường phân chia nguyên nhân thành các nhóm sau: (1) tổn thương tân sinh, (2) bất thường mạch máu, (3) tổn thương túi thừa, (4) loét ruột non và (5) các tổn thương khác 17. Tuy ruột non chiếm tới 75% chiều dài và 90% diện tích bề mặt ống tiêu hoá nhưng tổn thương tân sinh ở ruột non chỉ chiếm tỷ lệ dưới 2% trong số các tổn thương u của ống tiêu hoá và khoảng 0,3% tổng số bệnh lý u trong cơ thể 18. Tổn thương tân sinh ruột non gồm khoảng 40 loại khác nhau có thể được phân loại thành tổn thương biểu mô hoặc tổn thương mô đệm, hoặc phân loại theo tính chất lành tính hay ác tính.

Tổn thương biểu mô gồm u tuyến, ung thư biểu mô tuyến. Tổn thương mô đệm gồm u mỡ, u cơ, u xơ, u mô thừa, u carcinoid, u lympho … 19. Một số tổn thương có tính chất lành tính gồm u mỡ, u mạch và u NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON mô thừa … U tuyến và u cơ, mặc dù được xếp vào nhóm u lành tính nhưng có nguy cơ chuyển dạng ác tính tăng dần theo kích thước u và loại tế bào. Tương tự, u GIST có độ ác tính thay đổi tuỳ theo kích thước và số lượng tế bào phân chia.

Các khối u ác tính của ruột non gồm ung NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON thư biểu mô tuyến, u carcinoid, u lympho hoặc u di căn từ nơi khác … XHTH là một biểu hiện thường gặp của tổn thương tân sinh ruột non, chiếm tỷ lệ 36,3% các tổn thương ác tính và 75,0% các tổn thương lành tính, như theo nghiên cứu của Zhang và cộng sự (CS) ở Trung Quốc 20. Về hình ảnh nội soi, tổn thương tân sinh thường được phân loại thành dạng polyp hoặc không phải polyp, trong đó loại sau bao gồm u thể khối đặc, thể loét hoặc thể thâm nhiễm 21. Việc phân loại này giúp định hướng điều trị vì tổn thương polyp có thể cắt bỏ qua nội soi, giúp người bệnh tránh phải can thiệp phẫu thuật như đối với các thể tổn thương u khác. Các bất thường mạch máu gây XHTH được phân loại thành bất thường mao – tĩnh mạch (loạn sản mạch), động mạch (tổn thương Dieulafoy) hoặc thông động tĩnh mạch … Các bất thường mạch máu thường gặp ở các bệnh nhân Châu Âu, Mỹ hơn là người châu Á.

Tương ứng với mô học, Yano và CS đã phân loại trên nội soi các bất thường mạch máu thành 6 loại (Bảng 2-1). NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON Hình 1-3: phân loại bất thường mạch máu của Yano(nguồn Yano và CS 22) Loại 1 là loạn sản mạch, trong đó loại 1A dưới 1mm và 1B lớn hơn (vài mm), có hoặc không kèm chảy máu với tính chất máu chảy không thành nhịp chứng tỏ không phải từ động mạch. Đây là tổn thương thường gặp nhất, mô bệnh học là các mao tĩnh mạch lớp niêm mạc giãn to chạy ngoằn ngoèo, NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON không có lớp cơ thành mạch nên rất dễ vỡ gây chảy máu 23, 24. Một số nghiên cứu gần đây thấy ruột non (đặc biệt đoạn cao) là vị trí hay gặp loạn sản mạch nhất, chiếm tỷ lệ 57 – 80%, tiếp theo là đại tràng (44%) và dạ dày (32%) 25.

Vì là tổn thương mắc phải nên thường gặp ở bệnh nhân lớn tuổi, tỷ lệ mắc có xu hướng tăng do tuổi thọ trung bình được nâng cao 25.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ