CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 RUỘT NON VÀ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ RUỘT NON 1.1 Giải phẫu ruột non Ruột non là cấu trúc hình ống dài trung bình 6 đến 7 mét, đầu trên nối với dạ dày và đầu dưới nối với đại tràng, được chia làm 3 phần là tá, hỗng và hồi tràng. Tá tràng bắt đầu từ sau môn vị, dài khoảng 25cm, tạo thành hình chữ C tới góc Treitz, bao quanh đầu tuỵ và phần lớn nằm sau phúc mạc. Từ góc Treitz đến van Bauhin là hỗng - hồi tràng, với khoảng 40% chiều dài đầu tiên là hỗng tràng và 60% còn lại là hồi tràng. Không có một dấu mốc rõ rệt phân định ranh giới hỗng hồi tràng, ngoại trừ một số đặc điểm khác biệt như hỗng tràng có đường kính lớn, niêm mạc dầy, nếp niêm mạc ngang nổi rõ và nhiều hơn (Hình 1-1 A, B), mạch máu dưới niêm mạc to hơn (Hình 1-1 C, D), mạc treo ít mỡ với các cung mạch thẳng dài hơn hồi tràng 15.
Hỗng, hồi tràng nằm trong ổ bụng, được neo vào sau phúc mạc bởi mạc treo ruột, do đó tương đối di động. Đặc điểm quan trọng này là cơ sở cho các kĩ thuật nội soi chuyên sâu áp dụng để thực hiện thao tác thăm khám ruột non. NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON Hình 1-1: niêm mạc ruột non trên nội soi. Các nếp niêm mạc hỗng tràng (A) và hồi tràng (B, cùng bệnh nhân).
Mạch máu dưới niêm mạc hỗng tràng (C) và hồi tràng (D, cùng bệnh nhân). (Nguồn bệnh nhân Bệnh viện Bạch Mai) Thành ruột non gồm 4 lớp là lớp niêm mạc, hạ niêm mạc, cơ và thanh mạc 15. Lớp niêm mạc ở trong, có nhiệm vụ hấp thu dinh dưỡng và nước. Lớp NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON hạ niêm mạc cấu tạo bởi tổ chức liên kết dầy đặc, có mạng lưới mạch máu, bạch huyết, các tuyến Brunner và đám rối thần kinh Meissner.
Lớp cơ gồm cơ vòng ở trong và cơ dọc ở ngoài. Lớp thanh mạc ngoài cùng gồm các tế bào trung biểu mô. Lớp niêm mạc và hạ niêm mạc trong chuyên ngành tiêu hoá được coi là khu vực của các thủ thuật nội soi, nếu các can thiệp vượt quá hai lớp này mà xâm lấn vào lớp cơ sẽ có nguy cơ gây thủng ống tiêu hoá. Hình 1-2: cấu tạo 4 lớp của thành ruột non (nguồn Yeo và CS, 2019) 15 Động mạch cấp máu ruột non là động mạch mạc treo tràng trên.
Động mạch này phân nhánh nhiều lần tạo thành các cung mạch, từ cung mạch ngoài cùng sẽ tạo thành động mạch biên, chạy song song với thành ruột, sau đó tách ra các nhánh mạch thẳng chạy xuyên qua lớp cơ rồi phân nhánh tạo thành mạng lưới mạch máu ở lớp hạ niêm mạc để cấp máu cho mao mạch vi nhung mao và NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON 16 các tuyến. Máu từ lưới mao mạch sẽ qua tiểu tĩnh mạch để dẫn vào mạng lưới tĩnh mạch ở lớp dưới niêm mạc, sau đó được các tĩnh mạch ngắn xuyên thành đổ vào các nhánh của tĩnh mạch mạc treo tràng trên. NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON 1.2 Tổng quan về xuất huyết tiêu hoá tại ruột non Xuất huyết tiêu hoá (XHTH) là một cấp cứu y khoa thường gặp. Về vị trí chảy máu, trước khi ra đời các phương pháp nội soi ruột non (NSRN), y văn kinh điển chia XHTH ra làm 2 nhóm: (1) XHTH cao, khi tổn thương nằm từ thực quản đến góc Treitz và (2) XHTH thấp, khi tổn thương nằm dưới góc Treitz.
Hiện nay, theo phân loại mới của Hội Tiêu hoá Hoa Kỳ, XHTH được chia làm 3 nhóm, tương ứng với 3 khu vực giải phẫu mà các hệ thống dây nội soi có thể tiếp cận được, gồm 2: (1) XHTH cao: tổn thương từ thực quản đến papilla, chiếm khoảng 80% các trường hợp, chẩn đoán bằng nội soi đường tiêu hoá trên. (2) XHTH giữa: còn gọi là XHTH ruột non, khi tổn thương nằm ở đoạn ruột non phía dưới papilla đến hết hồi tràng, chiếm khoảng 5% các trường hợp, là đối tượng thăm dò của các phương pháp NSRN. (3) XHTH thấp: tổn thương ở đại trực tràng và ống hậu môn, chiếm 15% các trường hợp, có thể phát hiện bằng nội soi đại tràng toàn bộ. Trong thực hành lâm sàng, bệnh nhân có biểu hiện XHTH thường được làm nội soi dạ dày và nội soi đại tràng toàn bộ trước, nếu không tìm thấy nguyên nhân XHTH sẽ được chẩn đoán theo Hội Tiêu hoá Hoa Kỳ bằng thuật ngữ “XHTH nghi tại ruột non” 2.
Bệnh nhân sau đó sẽ được làm các thăm dò về ruột non như các chẩn đoán hình ảnh hoặc NSRN chuyên sâu 2. Về mức độ chảy máu, XHTH được chia làm 2 loại là chảy máu đại thể và vi thể (hay còn gọi là chảy máu tiềm ẩn) 1. XHTH vi thể là trường hợp bệnh nhân có máu trong phân nhưng không quan sát thấy bằng mắt thường, chỉ xét nghiệm NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON tìm hồng cầu ẩn trong phân dương tính và có biểu hiện thiếu máu thiếu sắt. XHTH đại thể là trường hợp bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng rõ rệt như đại tiện phân đen hoặc phân máu toàn bãi, có thể kèm nôn máu.
Các triệu chứng khác tuỳ thuộc nguyên nhân gây bệnh, có thể gặp là đau bụng, sờ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON thấy khối u ổ bụng. Mức độ máu mất vào đường tiêu hoá càng nhiều sẽ gây rối loạn huyết động và ảnh hưởng toàn trạng người bệnh. Về diễn biến, có những bệnh nhân chảy máu đại thể ồ ạt, dữ dội không cầm dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn và đe doạ tính mạng nhưng cũng có trường hợp chảy máu số lượng ít, ngắt quãng, tự cầm. Tại thời điểm bệnh nhân được NSRN, tình trạng XHTH được các nghiên cứu chia làm 2 nhóm 6: - Chảy máu tiến triển: khi bệnh nhân còn đại tiện phân máu hoặc phân đen trong vòng 24h trước khi NSRN.
- Chảy máu đã cầm: là khi bệnh nhân đại tiện phân máu hoặc phân đen lần cuối cùng cách NSRN trên 24h.3 Các nguyên nhân gây XHTH tại ruột non Có rất nhiều tổn thương có thể gây chảy máu ở ruột non. Các nghiên cứu về XHTH tại ruột non thường phân chia nguyên nhân thành các nhóm sau: (1) tổn thương tân sinh, (2) bất thường mạch máu, (3) tổn thương túi thừa, (4) loét ruột non và (5) các tổn thương khác 17. Tuy ruột non chiếm tới 75% chiều dài và 90% diện tích bề mặt ống tiêu hoá nhưng tổn thương tân sinh ở ruột non chỉ chiếm tỷ lệ dưới 2% trong số các tổn thương u của ống tiêu hoá và khoảng 0,3% tổng số bệnh lý u trong cơ thể 18. Tổn thương tân sinh ruột non gồm khoảng 40 loại khác nhau có thể được phân loại thành tổn thương biểu mô hoặc tổn thương mô đệm, hoặc phân loại theo tính chất lành tính hay ác tính.
Tổn thương biểu mô gồm u tuyến, ung thư biểu mô tuyến. Tổn thương mô đệm gồm u mỡ, u cơ, u xơ, u mô thừa, u carcinoid, u lympho … 19. Một số tổn thương có tính chất lành tính gồm u mỡ, u mạch và u NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON mô thừa … U tuyến và u cơ, mặc dù được xếp vào nhóm u lành tính nhưng có nguy cơ chuyển dạng ác tính tăng dần theo kích thước u và loại tế bào. Tương tự, u GIST có độ ác tính thay đổi tuỳ theo kích thước và số lượng tế bào phân chia.
Các khối u ác tính của ruột non gồm ung NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON thư biểu mô tuyến, u carcinoid, u lympho hoặc u di căn từ nơi khác … XHTH là một biểu hiện thường gặp của tổn thương tân sinh ruột non, chiếm tỷ lệ 36,3% các tổn thương ác tính và 75,0% các tổn thương lành tính, như theo nghiên cứu của Zhang và cộng sự (CS) ở Trung Quốc 20. Về hình ảnh nội soi, tổn thương tân sinh thường được phân loại thành dạng polyp hoặc không phải polyp, trong đó loại sau bao gồm u thể khối đặc, thể loét hoặc thể thâm nhiễm 21. Việc phân loại này giúp định hướng điều trị vì tổn thương polyp có thể cắt bỏ qua nội soi, giúp người bệnh tránh phải can thiệp phẫu thuật như đối với các thể tổn thương u khác. Các bất thường mạch máu gây XHTH được phân loại thành bất thường mao – tĩnh mạch (loạn sản mạch), động mạch (tổn thương Dieulafoy) hoặc thông động tĩnh mạch … Các bất thường mạch máu thường gặp ở các bệnh nhân Châu Âu, Mỹ hơn là người châu Á.
Tương ứng với mô học, Yano và CS đã phân loại trên nội soi các bất thường mạch máu thành 6 loại (Bảng 2-1). NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON Hình 1-3: phân loại bất thường mạch máu của Yano(nguồn Yano và CS 22) Loại 1 là loạn sản mạch, trong đó loại 1A dưới 1mm và 1B lớn hơn (vài mm), có hoặc không kèm chảy máu với tính chất máu chảy không thành nhịp chứng tỏ không phải từ động mạch. Đây là tổn thương thường gặp nhất, mô bệnh học là các mao tĩnh mạch lớp niêm mạc giãn to chạy ngoằn ngoèo, NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON không có lớp cơ thành mạch nên rất dễ vỡ gây chảy máu 23, 24. Một số nghiên cứu gần đây thấy ruột non (đặc biệt đoạn cao) là vị trí hay gặp loạn sản mạch nhất, chiếm tỷ lệ 57 – 80%, tiếp theo là đại tràng (44%) và dạ dày (32%) 25.
Vì là tổn thương mắc phải nên thường gặp ở bệnh nhân lớn tuổi, tỷ lệ mắc có xu hướng tăng do tuổi thọ trung bình được nâng cao 25.