Luận án tiến sĩ: Ứng dụng internet marketing tại doanh nghiệp du lịch Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích ứng dụng internet marketing trong doanh nghiệp du lịch Việt Nam, khám phá xu hướng và giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Kinh doanh Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

162
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CỦA LUẬN ÁN

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ ỨNG DỤNG INTERNET MARKETING TẠI CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH

2.1. Điều kiện ứng dụng internet marketing tại các doanh nghiệp du lịch

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG INTERNET MARKETING TẠI CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH VIỆT NAM

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ TĂNG CƯỜNG ỨNG DỤNG INTERNET MARKETING TẠI CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH VIỆT NAM

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về internet marketing trong doanh nghiệp du lịch

Internet marketing (internet marketing) đã trở thành một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển của các doanh nghiệp du lịch (doanh nghiệp du lịch) tại Việt Nam. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc áp dụng các công cụ marketing trực tuyến (marketing trực tuyến) đã giúp các doanh nghiệp này tiếp cận khách hàng một cách hiệu quả hơn. Theo nghiên cứu, việc sử dụng internet marketing không chỉ giúp tăng cường khả năng tiếp cận mà còn nâng cao trải nghiệm khách hàng (nâng cao trải nghiệm khách hàng). Các doanh nghiệp du lịch cần nhận thức rõ vai trò của internet marketing trong việc xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm du lịch. "Internet marketing là cầu nối giữa doanh nghiệp và khách hàng, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa công cụ tìm kiếm và quảng cáo trực tuyến".

1.1. Lợi ích của internet marketing trong ngành du lịch

Việc ứng dụng internet marketing mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp du lịch. Đầu tiên, nó giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí quảng cáo so với các hình thức truyền thống. Thứ hai, internet marketing cho phép doanh nghiệp tiếp cận một lượng lớn khách hàng tiềm năng thông qua các kênh phân phối trực tuyến (kênh phân phối trực tuyến). Hơn nữa, việc sử dụng các công cụ như social media marketing (social media marketing) giúp doanh nghiệp tương tác trực tiếp với khách hàng, từ đó nâng cao sự hài lòng và trung thành của khách hàng. "Sự hiện diện trực tuyến mạnh mẽ là yếu tố quyết định trong việc thu hút khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ".

II. Thực trạng ứng dụng internet marketing tại doanh nghiệp du lịch Việt Nam

Thực trạng ứng dụng internet marketing tại các doanh nghiệp du lịch Việt Nam cho thấy nhiều doanh nghiệp vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của công nghệ này. Mặc dù có sự gia tăng trong việc sử dụng các công cụ marketing trực tuyến, nhiều doanh nghiệp vẫn còn thiếu chiến lược rõ ràng và bài bản trong việc triển khai. "Nhiều doanh nghiệp vẫn coi internet marketing là một phần bổ sung chứ không phải là một phần cốt lõi trong chiến lược kinh doanh của họ". Việc phân tích thị trường và khách hàng mục tiêu vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến việc không tối ưu hóa được các chiến dịch quảng cáo trực tuyến. Điều này cho thấy cần có sự thay đổi trong nhận thức và hành động của các doanh nghiệp du lịch.

2.1. Các công cụ internet marketing phổ biến

Các công cụ internet marketing phổ biến hiện nay bao gồm SEO (tối ưu hóa công cụ tìm kiếm), SEM (marketing công cụ tìm kiếm), và các nền tảng mạng xã hội. Việc áp dụng các công cụ này giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng hiển thị trên các công cụ tìm kiếm và thu hút khách hàng tiềm năng. "Sự kết hợp giữa SEO và SEM là chìa khóa để tối ưu hóa hiệu quả marketing trực tuyến". Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa đầu tư đúng mức vào các công cụ này, dẫn đến việc không đạt được hiệu quả như mong muốn.

III. Giải pháp tăng cường ứng dụng internet marketing

Để tăng cường ứng dụng internet marketing tại các doanh nghiệp du lịch Việt Nam, cần có một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, doanh nghiệp cần nâng cao nhận thức về vai trò của internet marketing trong chiến lược kinh doanh. Thứ hai, cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin để hỗ trợ cho các hoạt động marketing trực tuyến. "Đầu tư vào công nghệ là đầu tư cho tương lai". Cuối cùng, việc xây dựng một mô hình internet marketing bài bản sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa các hoạt động marketing và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

3.1. Đào tạo nhân lực về internet marketing

Đào tạo nhân lực là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả ứng dụng internet marketing. Doanh nghiệp cần tổ chức các khóa đào tạo về các công cụ và chiến lược marketing trực tuyến cho nhân viên. "Nhân lực chất lượng cao là tài sản quý giá của doanh nghiệp trong thời đại số". Việc trang bị kiến thức cho nhân viên sẽ giúp họ tự tin hơn trong việc triển khai các chiến dịch marketing và tối ưu hóa quy trình làm việc.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Những nghiên cứu về ứng dụng internet marketing tại các doanh nghiệp nói chung Sự xuất hiện lần đầu tiên của World Wide Web tại châu Âu vào năm 1991 có thể coi là một cuộc cách mạng trên internet vì qua đó, con người có thể truy cập, trao đổi thông tin một cách dễ dàng, nhanh chóng. Giai đoạn sau đó, sự bùng nổ internet đã mang đến cho DN rất nhiều lợi ích về marketing hình ảnh thương hiệu (TH).

So với việc marketing qua tạp chí, báo, banner và phát tờ rơi truyền thống thì sử dụng IM tiết kiệm hơn rất nhiều trong việc tiếp cận KH. Ngày càng có nhiều những nghiên cứu về IM và ứng dụng của nó tại các DN nói chung. Sự phát triển của IM thay đổi cách thức kinh doanh, hình thức giao tiếp cũng như mối quan hệ giữa các bên liên quan. IM ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh vực hoạt động và là một yếu tố tăng khả năng cạnh tranh của DN (Chaudhri & Wang, 2007; MacMahan và cộng sự, 2009).

Đã có rất nhiều những khái niệm được đưa ra từ các nhà nghiên cứu khác nhau như Philip Kotler (2003); Kotler và các cộng sự (2017); Dave Chaffey (2016). Một số tác giả quan tâm đến việc sử dụng internet và các công nghệ số có liên quan nhằm đạt được các mục tiêu marketing và hỗ trợ cho khái niệm marketing hiện đại (Trương Đình Chiến, 2010). Joel Reedy và cộng sự (2000) lại nghiên cứu về các hoạt động để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của KH qua internet. Về lợi ích của IM trong kinh doanh, có các tác giả đã nghiên cứu như: Kent Wertime và Ian Fenwick (2008), Judy Strauss, Raymond Frost (2006), Ward Hanson (2000).

Nguyễn Hoàng Việt và cộng sự (2011) đã đưa ra các nhóm điều kiện ứng dụng internet marketing tại các doanh nghiệp. Chuck Martin (2002) đưa ra ý kiến rằng DN hoàn toàn có thể tận dụng được các thông tin do các cá nhân hay các nhà nghiên cứu cũng đã nghiên cứu, tập hợp và cung cấp miễn phí thông qua công cụ tìm kiếm thông tin. Judy Strauss và cộng sự (2006) đưa ra các loại hình nghiên cứu tiêu biểu của nghiên cứu thị trường trực tuyến bao gồm phỏng vấn nhóm tập trung trực tuyến, quan sát trực tuyến, phỏng vấn cá nhân chuyên sâu trực tuyến, khảo sát trực tuyến, khảo sát theo chiều dọc trực luan an 10 tuyến, mẫu cố định, thực nghiệm trực tuyến. Với công cụ nghiên cứu thị trường trực tuyến này, Thái Hùng Tâm (2007) còn nghiên cứu khả năng xác định của internet để xác định rõ KH của mình là ai, họ có hành vi hay thói quen sử dụng internet như thế nào để có được cái thông tin cần thiết phục vụ cho việc ra quyết định của DN.

Phạm Thu Hương (2009), Judy Strauss & Raymond Frost (2006) đưa ra các tiêu chí phân đoạn thị trường liên quan đến internet và công nghệ thông tin, như các hành vi mua hàng hóa online, phân đoạn theo cá tính và hành vi sử dụng internet… Swee Hoon Ang và cộng sự (2004) lại phân tích 5 khía cạnh cơ bản để phát triển khả năng khác biệt hóa trong quá trình định vị của hoạt động IM. Sự khác biệt hóa cho doanh nghiệp/thương hiệu cũng được Alan Charles Worth (2009), Rafi A. Mohammed và cộng sự (2004) nghiên cứu nhằm thu hút nhiều người truy cập và ở lại đó lâu hơn. Dave Chaffey và cộng sự (2003) chỉ ra các khía cạnh khác có thể phát triển khả năng khác biệt hóa này bao gồm website, chính sách giá, quan hệ khách hàng, các dịch vụ hỗ trợ.

Trương Đình Chiến (2010), Rafi A. Mohammed và cộng sự (2004) cho rằng trong môi trường thực, internet có thể bổ sung thêm các thuộc tính mới hay các dịch vụ mới cho sản phẩm như cho phép KH tham gia vào quá trình thiết kế SP, tạo ra SP theo thiết kế riêng có (có thể của chính họ), tư vấn hướng dẫn sử dụng SP, xây dựng và chăm sóc thương hiệu. Al Ries & Laura Ries (2005) đề cập đến việc số hóa và trao đổi các sản phẩm có thể số hóa được qua mạng internet. Chính sách giá truyền thống hay internet vẫn cần căn cứ vào chi phí, giá của đối thủ cạnh tranh, giá trên các thị trường chính, giá tại sở giao dịch, khả năng thanh toán, nhu cầu của KH.

Tuy nhiên, điểm đặc biệt của chính sách giá trong IM lại chính là khả năng định giá động - là việc bán SP với các mức giá hoàn toàn khác nhau cho những người mua khác nhau (Judy Strauss & Raymond Frost, 2001), (Rafi A. Mohammed và cộng sự, 2004). Theo Judy Strauss và cộng sự (2006), internet giúp loại bỏ trung gian. Nguyễn Hoàng Phương (2012) phân tích về địa điểm thực hiện giao dịch của phân phối internet có thể thay đổi theo hướng tiện lợi cho khách hàng.

Trong đó có các loại hình trung gian có thể lựa chọn gồm nhiều hình thức khác nhau (Dave Chaffey và cộng sự (2003), Judy Strauss & Raymond Frost (2001), Phạm Thu Hương (2010)). Nguyễn Đăng Hậu (2004) đi sâu tập trung nghiên cứu công cụ xúc tiến qua internet. Judy Strauss & Raymond Frost (2001) phân tích các tình huống và các công cụ tiếp thị số trong thời đại internet. Lĩnh vực này còn có sự nghiên cứu của các tác giả Dave Chaffey và cộng sự (2003), Pau Gillin (2010), Josiane Chriqui luan an 11 Feigon (2011).

Ngoài ra, còn những tác giả như Ngô Minh Vinh (2011) và Nguyễn Thế Quang (2011) tìm hiểu sâu hơn về một nhánh của IM là mobile marketing. Trong các nghiên cứu về quy trình IM (Efthymios Constantinides, 2002; Philip Kotler và cộng sự, 2010; Phạm Hồng Hoa, 2013, Dave Chaffey và cộng sự, 2016; Hà Tuấn Anh và cộng sự, 2019), các tác giả đã mô tả các bước một doanh nghiệp hay một DNDL cần phải tiến hành khi ứng dụng IM tại DN. Tuy nhiên, mỗi mô hình đưa ra đều có những ưu và nhược điểm riêng. Để có thể xây dựng quy trình IM tại các DNDL, cần phải có những nghiên cứu sâu hơn về hành vi KH, về môi trường marketing, cũng như các hoạt động chiến lược, tác nghiệp cụ thể.

Những nghiên cứu về ứng dụng internet marketing tại các doanh nghiệp du lịch Kể từ đầu những năm 2000, các DNDL trên thế giới đã bắt đầu nhận thức được tác động thực sự của sự chuyển đổi công nghệ số trong hoạt động marketing, mở đường cho sự phát triển một loạt các công cụ và dịch vụ mới, tạo điều kiện tương tác giữa mọi người trên toàn thế giới (Buhalis & Law, 2008). Sự phát triển nhanh của internet cùng với xu hướng thay đổi trong hành vi mua của KDL đã tạo cơ hội cho các DNDL điều chỉnh mô hình kinh doanh khai thác cách thức tiến hành marketing mới hiệu quả và chi phí thấp đó là IM (Bennett và cộng sự, 2017). Về cơ bản, IM tại các DNDL là việc các DN kinh doanh trong lĩnh vực DL triển khai các hoạt động marketing, bán hàng dựa trên kênh internet (Hojeghan & Esfangareh, 2011). Những lợi ích của IM với KDL và với các DNDL cũng được đề cập trong nhiều nghiên cứu.

Theo một số tác giả (Buhalis, 2003; Buhalis & Law, 2008) internet được coi là một công cụ marketing hiệu quả trong du lịch. Nó là một công cụ có giá trị để truyền thông tin tới KDL. Việc thiết kế và duy trì website cho DN là rất quan trọng để duy trì các mối quan hệ đã được thiết lập giữa các DN, tăng cường mối quan hệ với công chúng mục tiêu, đặc biệt là mối quan hệ với KH, do đó, có thể thu hút một lượng lớn số lượng KH lớn hơn trong phân khúc thị trường mục tiêu. Internet được công nhận là một phương tiện hỗ trợ giao tiếp độc đáo, khác với tất cả các phương tiện thông tin đại chúng truyền thống (chẳng hạn như truyền hình, đài phát thanh và báo chí.) do các đặc điểm như tính tương tác, đa phương tiện và KDL có thể đồng thời là người nhận thông tin và người sản xuất nội dung thông tin.

Nhờ IM, các DNDL và các điểm đến du lịch có thể tương tác tốt hơn giữa các chủ luan an 12 thể có liên quan đến hoạt động DL. Thông quá IM, sản phẩm và dịch vụ có thể được cung cấp 24 giờ một ngày, bảy ngày một tuần, trên khắp thế giới (Sutherland và cộng sự, 2018). Chi phí triển khai một chiến dịch IM cho một DNDL là thấp hơn so với các hoạt động marketing truyền thống (Nezakati và cộng sự, 2015; Palos- Sanchez & Saura, 2018). Vai trò của IM tới hoạt động du lịch đã được nghiên cứu bởi nhiều tác giả nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch.

Hầu hết các tác giả đều đồng ý rằng những tiến bộ về công nghệ, đặc biệt là internet cung cấp cho KDL các dịch vụ mới và trải nghiệm mới (Buhalis, 2003; Stamboulis & Skayannis, 2003; Buhalis & Law 2008; Buhalis, Leung & Law, 2011). Buhalis và Jun (2011) cho rằng internet đã thay đổi mô hình trong ngành du lịch, tăng trải nghiệm và tăng giá trị cho KDL. IM giúp tăng khả năng mở rộng sản phẩm dịch vụ bằng cách sử dụng internet nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp và giữ chân KH. Mục đích chính của hoạt động IM có thể là quảng bá thương hiệu, tăng doanh số bán hàng thông qua các hình thức IM khác nhau (Taiminen & Karjaluoto, 2015).

Mc Mahan và cộng sự (2009) đã chỉ ra những lợi thế của IM là cho các DNDL có cơ hội để khẳng định bản sắc DN cũng như thương hiệu của mình. Sự thay đổi hành vi của KDL trong thời đại internet cũng được đề cập đến. Sự phát triển của công nghệ mới này đã khiến người dùng thay đổi hành vi, dành nhiều thời gian hơn để kết nối với Internet (Yousaf & Xiucheng, 2018). Người tiêu dùng có thể dành 6 giờ một ngày trước màn hình kỹ thuật số (Fang và cộng sự, 2016) như điện thoại di động và máy tính của họ (Palos- Sanchez và cộng sự, 2019).

Với xu hướng này của KDL, các DNDL có nhiều phương thức khác nhau để có thể tiếp cận với KDL thông qua internet. Liên quan đến công cụ IM, có rất nhiều các công cụ IM khác nhau tại các DNDL: website, blog, email, các phương tiện truyền thông xã hội, marketing qua điện thoại di động, marketing qua video, qua các công cụ tìm kiếm, cộng đồng trực tuyến. Trương Sỹ Vinh (2008) cho rằng các hoạt động IM mà các DNDL có thể sử dụng bao gồm: tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO), xúc tiến qua các công cụ tìm kiếm (SEM), xúc tiến trực tiếp qua e-mail, qua blog.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Ứng dụng internet marketing tại doanh nghiệp du lịch Việt Nam" của tác giả Kiều Thu Hương, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Bùi Xuân Nhàn và PGS, TS Phạm Thúy Hồng, được thực hiện tại Trường Đại Học Thương Mại vào năm 2021. Bài luận án này tập trung vào việc nghiên cứu và phân tích các ứng dụng của internet marketing trong ngành du lịch tại Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả marketing cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức mà internet marketing có thể cải thiện hoạt động kinh doanh, thu hút khách hàng và tăng cường sự hiện diện trực tuyến của doanh nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến marketing trong ngành du lịch và hành vi tiêu dùng, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận Văn Thạc Sĩ Về Chiến Lược Marketing Trực Tiếp Đến Khách Du Lịch Nội Địa Miền Trung Của Vitours, nơi nghiên cứu các chiến lược marketing trực tiếp cho khách du lịch, và Nghiên cứu thái độ của người tiêu dùng đối với quảng cáo qua mạng xã hội tại TP.HCM, giúp bạn hiểu rõ hơn về thái độ của người tiêu dùng đối với quảng cáo trực tuyến. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về cách thức marketing có thể được áp dụng hiệu quả trong ngành du lịch và các lĩnh vực liên quan.