CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Một số vấn đề về chấn thương và chấn thương khớp cổ chân ở vận động viên.Khái niệm về chấn thương và chấn thương thể thao Chấn thương đó là sự tổn thương cấu trúc giải phẫu bình thường của tổ chức do tác động bên ngoài gây nên kéo theo sự giảm, rối loạn hay mất đi chức năng sinh lý bình thường của tổ chức đó [13314.] Chấn thương khớp đó là tình trạng mất tương quan bình thường của mặt khớp, hai mặt khớp bị xê dịch ra khỏi vị trí bình thường. Nguyên nhân do lực tác động lớn làm đứt, rách bao khớp và dây chằng quanh khớp. Biểu hiện: đau dữ dội sau chấn thương, có thể nghe tiếng “bực” hay “rắc”, khớp mất khả năng vận động, biến dạng: nhát rìu, dấu hiệu lò xo. Ngoài ra có thể sưng bầm quanh khớp với nhiều mức độ khác nhau [24.Micheli and Mark Jenking (1995) và Ủy ban Olympic quốc tế IOC [60.] Chấn thương thể thao là những tổn thương do những hoạt động thể thao gây ra sự giới hạn hay sự tạm ngưng khả năng tham gia các hoạt động thể thao của VĐV.
Chấn thương thể thao có thể do một chấn thương đơn thuần hay do những chấn thương nhẹ lặp đi lặp lại của tình trạng quá tải của một phần cơ thể. Chấn thương thể thao bao gồm chấn thương cấp tính và mãn tính. Chấn thương cấp tính trong thể thao là các chấn thương xảy ra đột ngột, có hiện tượng chảy máu trong tổ chức cơ, sưng nóng đỏ đau. Những dấu hiệu này thường là hậu quả của gẫy xương, rách tổ chức cơ, gân và dây chằng.
Hệ thống theo dõi chấn thương thể thao Quốc gia (Mỹ) (National Athletic Injury/Illess Reporting System) [62.] chia chấn thương thể thao làm ba mức độ như sau: 6 Loại nhẹ: là những chấn thương làm giới hạn thi đấu trong 7 ngày Loại vừa: là những chấn thương làm giới hạn thi đấu trong 7 – 21 ngày Loại nặng: là những chấn thương làm giới hạn thi đấu trong 21 ngày Theo Lyle J.Micheli và Mark Jenking (1995) [73.], mức độ chấn thương được phân loại dựa trên sự đáp ứng của VĐV với vận động thể thao như sau: Chấn thương nhẹ: VĐV có cảm giác đau sau khi tập. Co cứng cơ trên vùng bị chấn thương. Không sưng nền hoặc sưng rất ít, không có hiện tượng bầm tím. Chấn thương ở mức độ trung bình: VĐV đau liên tục trước và sau khi tập và VĐV chỉ tham gia tập luyện được cường độ trung bình.
Sưng nền và bầm tím ở mức độ trung bình. Chấn thương nặng: Đau liên tục và kéo dài không đỡ, VĐV không thể tập luyện được do đau. Đau chói khi ấn trên vùng chấn thương, sưng nề và bầm tím rất rõ. Về cơ chế sinh bệnh học của chấn thương.
Alvarez và cộng sự (1987) mô tả ba giai đoạn phản ứng của mô bị chấn thương (dây chằng, gân cơ, mô xương và sụn) như sau: Giai đoạn viêm cấp (ngay sau chấn thương và trong khoảng 72 giờ sau) Giai đoạn bắt đầu liên kết xơ hóa (từ giờ thứ 72 sau chấn thương và kéo dài từ 6 tuần trở lên). Cho dù cơ chế chấn thương đơn giản như đi vấp nhẹ trẹo cổ chân, bàn chân nhưng chớ nên xem thường. Bởi vì lực như thế cũng đủ làm bạn bị gãy xương mắt cá, toác khớp, đòi hỏi phải phẫu thuật chỉnh sửa lại. Trong các trường hợp này, đa số nạn nhân thường cho rằng bị bong gân nhẹ nên hay tự điều trị theo các phương thức truyền thống như sửa trật đả, đắp lá, bó thuốc rượu,.
Ðiều này thường gây ra nhiều biến chứng, hơn nữa nếu để muộn sẽ khó điều trị hơn rất nhiều. 7 Phân loại chấn thương khớp cổ chân [3.] Các tốn thương của cổ chân được phân loại theo 2 cách. Chúng ta có thể mô tả những thay đổi giải phẫu học trong các dây chằng của cổ chân, chẳng hạn rách một phần nhỏ, rách một phần lớn hay rách hoàn toàn dây chằng. Cách phân loại có ích hơn đối với thầy thuốc gia đình là dựa trên trạng thái chức nǎng của khớp cổ chân.
Cách phân loại này được trình bày dưới đây. - Tổn thương độ 1: Rách một phần dây chằng nhưng không đủ mức để gây ra sự bất ổn của khớp. - Tổn thương độ 2: Rách một phần dây chằng, nhưng vận động khớp sẽ không bình thường khi cổ chân bị ép mạnh bằng tác động vào khớp. - Tổn thương độ 3: Rách toàn bộ dây chằng gây bất ổn định thực sự khớp cổ chân.
Một số chấn thương thể thao và khớp cổ chân thường gặp [25.] Tập thể dục thể thao là một hoạt động cần thiết của con người nhằm năng cao chất lượng sức khỏe, chữa bệnh,… nhưng đồng hành cùng nó là chấn thương, chấn thương không loại trừ một ai, không loại trừ một môn thể thao nào, để hiểu được chấn thương trong thể thao là một điều vô cùng cần thiết. Trong tập luyện thể dục thể thao các chấn thương phải được giảm tới mức tối thiểu. Trong công tác phòng ngừa chấn thương cần có sự tham gia của giáo viên, huấn luyện viên, để đạt hiệu quả cao họ cần phải hiểu biết thấu đáo đặc điểm, nguyên nhân và điều kiện gây nên các chấn thương khác nhau. Các dạng chấn thương: Trong chấn thương thể thao phần đa các chấn thương đều là chấn thương kín như: đụng dập, dãn dây chằng, đứt cơ và dây chằng.
Chấn thương đụng dập thường rơi vào chấn thương khớp (gần 50%), trong đó có tới 30% là chấn thương khớp gối. Theo vị trí tổn thương, trong thể thao thường gặp các chấn thương tứ chi trong đó có 80% là chấn thương 8 khớp chủ yếu là khớp gối và khớp cổ chân. Trong thể dục dụng cụ thường gặp các chấn thương chi trên (gần70%), nhưng đại đa số các môn thể thao thì chấn thương chi dưới gặp nhiều hơn. Nếu so sánh, tỷ lệ gãy xương, sai khớp của thể thao lớn hơn 8 – 10 lần các hoạt động phi thể thao [4.] Những chấn thương thường gặp trong tập luyện TDTT và cách xử trí ban đầu: Sai khớp: Là sự dịch chuyển của 2 đầu xương và diện khớp vượt quá giới hạn của cấu trúc giải phẫu cho phép và diện khớp mất đi sự tiếp xúc.
Sai khớp có thể gây rách bao khớp, đứt dãn dây chằng, gây tổn thương phần mềm. Sai khớp có thể hoàn toàn hoặc một phần. Triệu chứng: Đau mạnh ở vùng khớp, chi bị sai. Mọi cố gắng để đưa chi trở lại vị trí bình thường rất khó khăn và gây đau đớn.
Khi quan sát so sánh ta nhận thấy hình dạng khớp thay đổi. Phương pháp sờ nắn đôi khi có thể xác định được đầu xương sai lệch còn ở vị trí thông thường xuất hiện rãnh lõm. Sơ cứu ban đầu: Cố gắng giữ bất động hoàn toàn chi bị sai khớp ở vị trí thuận lợi nhất. Nếu nặng sử dụng nẹp chuyên dùng để cố định, sau đó nhanh chóng chuyển tới cơ sở y tế.
Tuyệt đối nghiêm cấm việc cố gắng phục khớp của bạn tập, hoặc người không có chuyên môn vì rất dễ dẫn tới những tổn thương phụ. Gãy xương: Là sự phá hủy cấu trúc giải phẫu bình thường của xương dưới tác động của lực cơ học trực tiếp hay gián tiếp gây nên, thường với xương bị gãy bao giờ cũng gây tổn thương cho các tổ chức cơ, gân, dây chằng, thần kinh và mạch máu bao quanh. Gãy xương thuộc loại chấn thương nặng, có gãy xương hoàn toàn và gãy xương không hoàn toàn. Triệu chứng: Thường chính nạn nhân cũng xác định được mình bị gãy xương vì ở thời điểm gãy nghe tiếng gãy và tiếng lạo xạo, cảm giác đau buốt tăng lên rất nhanh khi cố gắng chuyển động.
Gãy xương làm thay đổi độ dài, tại điểm gãy tạo thành khớp giả, vùng tổn thương sưng tấy, nề. Đặt tay lên 9 vùng nghi vấn lay nhẹ cảm giác lạo xạo xuất hiện. Trường hợp gãy xương hở đầu xương gãy gây tổn thương phần mềm và da. Phương pháp chung và chuẩn xác nhất là chụp X quang.
Sơ cứu ban đầu: Trường hợp gãy xương hở ngoài việc bất động cần tiến hành cầm máu và sử lý sơ bộ vết thương. Khi bất động cần lưu ý phải bất động hai khớp về phía hai đầu gãy của xương trong trường hợp không có nẹp có thể cố định chi trên vào thân mình, chi dưới vào chân còn lành. Bong gân: Đây là dạng chấn thương khá phổ biến. Hiện tượng căng hoặc rách dây chằng gây nên những cơn đau nhói và sưng tấy ở các khớp bị tổn thương.
Các biểu hiện của bong gân rất giống với gãy xương. Triệu chứng: Khi bị bong gân, người tập cảm thấy đau nhói như điện giật ở vùng khớp bị trẹo. Sau đó, khớp tê dại không còn đau nữa. Khoảng 1 giờ sau, cảm giác đau nhức dần dần trở lại.
Nếu bong gân ở bàn chân, mắt cá chân, người tập sẽ không bước đi được nữa, phải đặt bàn chân nằm xuống đất. Xử trí ban đầu: Nên chườm lạnh bên ngoài bằng nước đá (hoặc nước lạnh) trong 4 giờ đầu. Việc chườm đá làm dịu đau và co mạch, ngưng chảy máu, bớt phù nề. Và sau ngày thứ 2, nên ngâm chỗ bị bong gân trong nước ấm từ 3-4 lần trong ngày.
Ngay sau khi bị bong gân, phải làm ngừng chảy máu (nếu có) và hạn chế phù nề tối đa. Có thể dùng băng thun băng ép khớp bị bong gân giúp khớp có chỗ tựa và giữ cố định cho khớp. Có thể dùng Ethyl clorua xịt vào nơi bong gân để gây tê làm lạnh tại chỗ giúp giảm đau cho người bệnh. Ngoài ra, có thể dùng thuốc giảm đau, tiện nhất là Alaxan uống 1-2 viên/lần, 3 lần trong ngày.
Nghiêm cấm dùng rượu, xoa cao vào nơi bị tổn thương, các chất nóng tác động tại chỗ do những chất này gây chảy máu mạnh hơn. Những trường hợp bong gân nặng: không cử động được khớp, dây chằng khớp bị đứt hoàn toàn,… hãy đến ngay cơ sở y tế để khám và điều trị. Đau cơ: Những cơn đau nhức mà người tập phải trải qua sau khi tập luyện vốn thường xảy ra vào ngày hôm sau, ngay cả khi chỉ thực hiện những 10 bài tập với cường độ nhẹ nhàng. Nguyên nhân: Do mới tập luyện, hoặc tập luyện không thường xuyên.
Cách khắc phục: Nghỉ ngơi, xoa bóp nhẹ nhàng vùng cơ bị đau và chế độ ăn uống cân đối sẽ giúp loại bỏ được cơn đau. Duy trì lượng vận động đều đặn, hoặc tăng dần với khối lượng thích hợp. Nguyên nhân: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến chuột rút.