Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các bài tập kết hợp vật lý trị liệu phục hồi chức năng vận động sau chấn thương khớp cổ chân cho vận động viên

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các bài tập kết hợp vật lý trị liệu phục hồi chức năng vận động sau, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Giáo Dục Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

173
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số vấn đề về chấn thương và chấn thương khớp cổ chân ở vận động viên

1.2. Khái niệm về chấn thương và chấn thương thể thao

1.3. Một số chấn thương thể thao và khớp cổ chân thường gặp

1.4. Đặc điểm giải phẫu khớp cổ chân

1.5. Một số phương pháp điều trị hiện nay và phương pháp phục hồi Isometric - Isokinetic đối với vận động viên sau chấn thương

1.6. Một số vấn đề về bài tập thể chất, phục hồi chức năng và vật lý trị liệu

1.7. Khái quát về Bệnh viện thể thao Việt Nam

1.8. Một số công trình khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

2.4. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu và tiến cứu

2.5. Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu

2.6. Phương pháp quan sát mô tả lâm sàng

2.7. Phương pháp ứng dụng bài tập phục hồi kết hợp vật lý trị liệu sử dụng trong điều trị chấn thương khớp cổ chân

2.8. Phương pháp thử nghiệm lâm sàng

2.9. Phương pháp toán học thống kê

2.10. Tổ chức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đánh giá thực trạng chấn thương khớp cổ chân và thực trạng các bài tập phục hồi chức năng sau chấn thương khớp cổ chân cho VĐV

3.2. Tình hình và đặc điểm chấn thương khớp cổ chân của bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện thể thao Việt Nam

3.3. Phương pháp điều trị, phục hồi chấn thương khớp cổ chân

3.4. Lựa chọn và xây dựng phác đồ các bài tập kết hợp vật lý trị liệu phục hồi chức năng vận động sau chấn thương khớp cổ chân cho VĐV

3.5. Lựa chọn các bài tập điều trị, phục hồi, kết hợp với vật lý trị liệu cho các vận động viên/người tập thể thao sau chấn thương khớp cổ chân

3.6. Xây dựng phác đồ điều trị và mô tả kỹ thuật thực hiện các bài tập phục hồi cho vận động viên sau chấn thương khớp cổ chân

3.7. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả tổ hợp các bài tập kết hợp vật lý trị liệu phục hồi chức năng sau chấn thương khớp cổ chân cho VĐV

3.8. Đặc điểm khách thể nghiên cứu theo tuổi và giới

3.9. Môn thể thao và giới của vận động viên

3.10. Vị trí chấn thương

3.11. Tổn thương đơn thuần hay phối hợp

3.12. Triệu chứng lâm sàng khi nhập viện

3.13. Đánh giá kết quả điều trị theo bảng lượng giá chức năng sinh hoạt của người bệnh tại Bệnh viện thể thao Việt Nam

3.14. Kết quả phục hồi biên độ vận động khớp

3.15. Đánh giá kết quả theo các triệu chứng lâm sàng

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Phiếu phỏng vấn chuyên gia (lần 1)

Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn chuyên gia (lần 2)

Phụ lục 3: Tổng hợp bệnh nhân – vận động viên tham gia nghiên cứu hồi cứu

Phụ lục 4: Tổng hợp bệnh nhân – người tập thể thao tham gia nghiên cứu hồi cứu

Phụ lục 5: Danh sách vận động viên - bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Phụ lục 6: Bảng lượng giá chức năng sinh hoạt của người bệnh

Phụ lục 7: Bảng lượng giá chức năng sinh hoạt của người bệnh

Phụ lục 8: Bệnh án điều dưỡng và phục hồi chức năng (Mẫu)

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Ứng Dụng Bài Tập Vật Lý Trị Liệu

Nghiên cứu ứng dụng bài tập vật lý trị liệu phục hồi chức năng khớp cổ chân cho vận động viên là một lĩnh vực quan trọng trong y học thể thao. Chấn thương khớp cổ chân thường gặp ở vận động viên, ảnh hưởng lớn đến khả năng thi đấu và tập luyện. Việc áp dụng các bài tập phục hồi chức năng không chỉ giúp giảm thiểu thời gian hồi phục mà còn nâng cao hiệu quả điều trị. Nghiên cứu này sẽ làm rõ các phương pháp và bài tập cụ thể nhằm phục hồi chức năng khớp cổ chân cho vận động viên.

1.1. Khái Niệm Về Chấn Thương Khớp Cổ Chân

Chấn thương khớp cổ chân là tình trạng tổn thương cấu trúc giải phẫu do tác động bên ngoài. Các nguyên nhân phổ biến bao gồm lực tác động mạnh, dẫn đến đau đớn và giảm khả năng vận động. Việc hiểu rõ về chấn thương này là cần thiết để có phương pháp điều trị hiệu quả.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Phục Hồi Chức Năng

Phục hồi chức năng khớp cổ chân đóng vai trò quan trọng trong việc giúp vận động viên trở lại thi đấu. Các bài tập phục hồi không chỉ giúp giảm đau mà còn cải thiện biên độ vận động, tăng cường sức mạnh cho khớp cổ chân.

II. Vấn Đề Chấn Thương Khớp Cổ Chân Ở Vận Động Viên

Chấn thương khớp cổ chân là một trong những loại chấn thương phổ biến nhất trong thể thao. Nguyên nhân chủ yếu là do quá tải trong quá trình tập luyện hoặc thi đấu. Các vận động viên thường gặp phải tình trạng này, dẫn đến việc giảm hiệu suất và thời gian hồi phục kéo dài. Việc nhận diện và xử lý kịp thời các chấn thương này là rất quan trọng.

2.1. Nguyên Nhân Gây Chấn Thương

Nguyên nhân gây chấn thương khớp cổ chân có thể do các yếu tố như kỹ thuật thi đấu không đúng, thiếu sự chuẩn bị thể lực, hoặc các yếu tố môi trường. Việc hiểu rõ nguyên nhân sẽ giúp các huấn luyện viên và vận động viên có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

2.2. Tác Động Của Chấn Thương Đến Vận Động Viên

Chấn thương khớp cổ chân không chỉ ảnh hưởng đến khả năng thi đấu mà còn tác động đến tâm lý của vận động viên. Nỗi lo sợ tái chấn thương có thể làm giảm hiệu suất và động lực tập luyện.

III. Phương Pháp Phục Hồi Chức Năng Khớp Cổ Chân

Để phục hồi chức năng khớp cổ chân, các phương pháp vật lý trị liệu kết hợp với bài tập phục hồi là rất cần thiết. Các bài tập này giúp tăng cường sức mạnh, cải thiện biên độ vận động và giảm đau. Việc lựa chọn bài tập phù hợp với từng loại chấn thương là rất quan trọng.

3.1. Các Bài Tập Vật Lý Trị Liệu Hiệu Quả

Các bài tập vật lý trị liệu như tập lăn bóng, kéo giãn cơ và bài tập sức mạnh là những phương pháp hiệu quả trong phục hồi chức năng khớp cổ chân. Những bài tập này giúp cải thiện khả năng vận động và giảm thiểu nguy cơ tái chấn thương.

3.2. Kỹ Thuật Thực Hiện Bài Tập

Kỹ thuật thực hiện bài tập cần được hướng dẫn rõ ràng để đảm bảo an toàn và hiệu quả. Việc thực hiện đúng kỹ thuật sẽ giúp tối ưu hóa quá trình phục hồi và giảm thiểu rủi ro.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Bài Tập Vật Lý Trị Liệu

Việc ứng dụng các bài tập vật lý trị liệu trong phục hồi chức năng khớp cổ chân đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các vận động viên thực hiện các bài tập này có thời gian hồi phục nhanh hơn và đạt được kết quả tốt hơn trong thi đấu.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Phục Hồi

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các bài tập phục hồi chức năng giúp cải thiện đáng kể biên độ vận động và sức mạnh của khớp cổ chân. Điều này không chỉ giúp vận động viên hồi phục nhanh chóng mà còn nâng cao hiệu suất thi đấu.

4.2. Trường Hợp Cụ Thể Về Vận Động Viên

Nhiều vận động viên đã áp dụng thành công các bài tập phục hồi chức năng và đạt được thành tích cao trong thi đấu. Những trường hợp này minh chứng cho hiệu quả của việc kết hợp vật lý trị liệu trong phục hồi chức năng.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Ứng Dụng Bài Tập Vật Lý Trị Liệu

Nghiên cứu ứng dụng bài tập vật lý trị liệu phục hồi chức năng khớp cổ chân cho vận động viên là một lĩnh vực quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và phục hồi. Việc áp dụng các phương pháp khoa học trong phục hồi chức năng sẽ giúp vận động viên trở lại thi đấu nhanh chóng và hiệu quả.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Tương lai của nghiên cứu này sẽ tiếp tục mở rộng để tìm ra các phương pháp và bài tập mới, nhằm nâng cao hiệu quả phục hồi chức năng cho vận động viên.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Huấn Luyện Viên

Huấn luyện viên cần chú trọng đến việc áp dụng các bài tập phục hồi chức năng trong quá trình đào tạo, nhằm đảm bảo sức khỏe và hiệu suất thi đấu cho vận động viên.

09/07/2025
Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các bài tập kết hợp vật lý trị liệu phục hồi chức năng vận động sau chấn thương khớp cổ chân cho vận động viên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Một số vấn đề về chấn thương và chấn thương khớp cổ chân ở vận động viên.Khái niệm về chấn thương và chấn thương thể thao Chấn thương đó là sự tổn thương cấu trúc giải phẫu bình thường của tổ chức do tác động bên ngoài gây nên kéo theo sự giảm, rối loạn hay mất đi chức năng sinh lý bình thường của tổ chức đó [13314.] Chấn thương khớp đó là tình trạng mất tương quan bình thường của mặt khớp, hai mặt khớp bị xê dịch ra khỏi vị trí bình thường. Nguyên nhân do lực tác động lớn làm đứt, rách bao khớp và dây chằng quanh khớp. Biểu hiện: đau dữ dội sau chấn thương, có thể nghe tiếng “bực” hay “rắc”, khớp mất khả năng vận động, biến dạng: nhát rìu, dấu hiệu lò xo. Ngoài ra có thể sưng bầm quanh khớp với nhiều mức độ khác nhau [24.Micheli and Mark Jenking (1995) và Ủy ban Olympic quốc tế IOC [60.] Chấn thương thể thao là những tổn thương do những hoạt động thể thao gây ra sự giới hạn hay sự tạm ngưng khả năng tham gia các hoạt động thể thao của VĐV.

Chấn thương thể thao có thể do một chấn thương đơn thuần hay do những chấn thương nhẹ lặp đi lặp lại của tình trạng quá tải của một phần cơ thể. Chấn thương thể thao bao gồm chấn thương cấp tính và mãn tính. Chấn thương cấp tính trong thể thao là các chấn thương xảy ra đột ngột, có hiện tượng chảy máu trong tổ chức cơ, sưng nóng đỏ đau. Những dấu hiệu này thường là hậu quả của gẫy xương, rách tổ chức cơ, gân và dây chằng.

Hệ thống theo dõi chấn thương thể thao Quốc gia (Mỹ) (National Athletic Injury/Illess Reporting System) [62.] chia chấn thương thể thao làm ba mức độ như sau: 6 Loại nhẹ: là những chấn thương làm giới hạn thi đấu trong 7 ngày Loại vừa: là những chấn thương làm giới hạn thi đấu trong 7 – 21 ngày Loại nặng: là những chấn thương làm giới hạn thi đấu trong 21 ngày Theo Lyle J.Micheli và Mark Jenking (1995) [73.], mức độ chấn thương được phân loại dựa trên sự đáp ứng của VĐV với vận động thể thao như sau: Chấn thương nhẹ: VĐV có cảm giác đau sau khi tập. Co cứng cơ trên vùng bị chấn thương. Không sưng nền hoặc sưng rất ít, không có hiện tượng bầm tím. Chấn thương ở mức độ trung bình: VĐV đau liên tục trước và sau khi tập và VĐV chỉ tham gia tập luyện được cường độ trung bình.

Sưng nền và bầm tím ở mức độ trung bình. Chấn thương nặng: Đau liên tục và kéo dài không đỡ, VĐV không thể tập luyện được do đau. Đau chói khi ấn trên vùng chấn thương, sưng nề và bầm tím rất rõ. Về cơ chế sinh bệnh học của chấn thương.

Alvarez và cộng sự (1987) mô tả ba giai đoạn phản ứng của mô bị chấn thương (dây chằng, gân cơ, mô xương và sụn) như sau: Giai đoạn viêm cấp (ngay sau chấn thương và trong khoảng 72 giờ sau) Giai đoạn bắt đầu liên kết xơ hóa (từ giờ thứ 72 sau chấn thương và kéo dài từ 6 tuần trở lên). Cho dù cơ chế chấn thương đơn giản như đi vấp nhẹ trẹo cổ chân, bàn chân nhưng chớ nên xem thường. Bởi vì lực như thế cũng đủ làm bạn bị gãy xương mắt cá, toác khớp, đòi hỏi phải phẫu thuật chỉnh sửa lại. Trong các trường hợp này, đa số nạn nhân thường cho rằng bị bong gân nhẹ nên hay tự điều trị theo các phương thức truyền thống như sửa trật đả, đắp lá, bó thuốc rượu,.

Ðiều này thường gây ra nhiều biến chứng, hơn nữa nếu để muộn sẽ khó điều trị hơn rất nhiều. 7 Phân loại chấn thương khớp cổ chân [3.] Các tốn thương của cổ chân được phân loại theo 2 cách. Chúng ta có thể mô tả những thay đổi giải phẫu học trong các dây chằng của cổ chân, chẳng hạn rách một phần nhỏ, rách một phần lớn hay rách hoàn toàn dây chằng. Cách phân loại có ích hơn đối với thầy thuốc gia đình là dựa trên trạng thái chức nǎng của khớp cổ chân.

Cách phân loại này được trình bày dưới đây. - Tổn thương độ 1: Rách một phần dây chằng nhưng không đủ mức để gây ra sự bất ổn của khớp. - Tổn thương độ 2: Rách một phần dây chằng, nhưng vận động khớp sẽ không bình thường khi cổ chân bị ép mạnh bằng tác động vào khớp. - Tổn thương độ 3: Rách toàn bộ dây chằng gây bất ổn định thực sự khớp cổ chân.

Một số chấn thương thể thao và khớp cổ chân thường gặp [25.] Tập thể dục thể thao là một hoạt động cần thiết của con người nhằm năng cao chất lượng sức khỏe, chữa bệnh,… nhưng đồng hành cùng nó là chấn thương, chấn thương không loại trừ một ai, không loại trừ một môn thể thao nào, để hiểu được chấn thương trong thể thao là một điều vô cùng cần thiết. Trong tập luyện thể dục thể thao các chấn thương phải được giảm tới mức tối thiểu. Trong công tác phòng ngừa chấn thương cần có sự tham gia của giáo viên, huấn luyện viên, để đạt hiệu quả cao họ cần phải hiểu biết thấu đáo đặc điểm, nguyên nhân và điều kiện gây nên các chấn thương khác nhau. Các dạng chấn thương: Trong chấn thương thể thao phần đa các chấn thương đều là chấn thương kín như: đụng dập, dãn dây chằng, đứt cơ và dây chằng.

Chấn thương đụng dập thường rơi vào chấn thương khớp (gần 50%), trong đó có tới 30% là chấn thương khớp gối. Theo vị trí tổn thương, trong thể thao thường gặp các chấn thương tứ chi trong đó có 80% là chấn thương 8 khớp chủ yếu là khớp gối và khớp cổ chân. Trong thể dục dụng cụ thường gặp các chấn thương chi trên (gần70%), nhưng đại đa số các môn thể thao thì chấn thương chi dưới gặp nhiều hơn. Nếu so sánh, tỷ lệ gãy xương, sai khớp của thể thao lớn hơn 8 – 10 lần các hoạt động phi thể thao [4.] Những chấn thương thường gặp trong tập luyện TDTT và cách xử trí ban đầu: Sai khớp: Là sự dịch chuyển của 2 đầu xương và diện khớp vượt quá giới hạn của cấu trúc giải phẫu cho phép và diện khớp mất đi sự tiếp xúc.

Sai khớp có thể gây rách bao khớp, đứt dãn dây chằng, gây tổn thương phần mềm. Sai khớp có thể hoàn toàn hoặc một phần. Triệu chứng: Đau mạnh ở vùng khớp, chi bị sai. Mọi cố gắng để đưa chi trở lại vị trí bình thường rất khó khăn và gây đau đớn.

Khi quan sát so sánh ta nhận thấy hình dạng khớp thay đổi. Phương pháp sờ nắn đôi khi có thể xác định được đầu xương sai lệch còn ở vị trí thông thường xuất hiện rãnh lõm. Sơ cứu ban đầu: Cố gắng giữ bất động hoàn toàn chi bị sai khớp ở vị trí thuận lợi nhất. Nếu nặng sử dụng nẹp chuyên dùng để cố định, sau đó nhanh chóng chuyển tới cơ sở y tế.

Tuyệt đối nghiêm cấm việc cố gắng phục khớp của bạn tập, hoặc người không có chuyên môn vì rất dễ dẫn tới những tổn thương phụ. Gãy xương: Là sự phá hủy cấu trúc giải phẫu bình thường của xương dưới tác động của lực cơ học trực tiếp hay gián tiếp gây nên, thường với xương bị gãy bao giờ cũng gây tổn thương cho các tổ chức cơ, gân, dây chằng, thần kinh và mạch máu bao quanh. Gãy xương thuộc loại chấn thương nặng, có gãy xương hoàn toàn và gãy xương không hoàn toàn. Triệu chứng: Thường chính nạn nhân cũng xác định được mình bị gãy xương vì ở thời điểm gãy nghe tiếng gãy và tiếng lạo xạo, cảm giác đau buốt tăng lên rất nhanh khi cố gắng chuyển động.

Gãy xương làm thay đổi độ dài, tại điểm gãy tạo thành khớp giả, vùng tổn thương sưng tấy, nề. Đặt tay lên 9 vùng nghi vấn lay nhẹ cảm giác lạo xạo xuất hiện. Trường hợp gãy xương hở đầu xương gãy gây tổn thương phần mềm và da. Phương pháp chung và chuẩn xác nhất là chụp X quang.

Sơ cứu ban đầu: Trường hợp gãy xương hở ngoài việc bất động cần tiến hành cầm máu và sử lý sơ bộ vết thương. Khi bất động cần lưu ý phải bất động hai khớp về phía hai đầu gãy của xương trong trường hợp không có nẹp có thể cố định chi trên vào thân mình, chi dưới vào chân còn lành. Bong gân: Đây là dạng chấn thương khá phổ biến. Hiện tượng căng hoặc rách dây chằng gây nên những cơn đau nhói và sưng tấy ở các khớp bị tổn thương.

Các biểu hiện của bong gân rất giống với gãy xương. Triệu chứng: Khi bị bong gân, người tập cảm thấy đau nhói như điện giật ở vùng khớp bị trẹo. Sau đó, khớp tê dại không còn đau nữa. Khoảng 1 giờ sau, cảm giác đau nhức dần dần trở lại.

Nếu bong gân ở bàn chân, mắt cá chân, người tập sẽ không bước đi được nữa, phải đặt bàn chân nằm xuống đất. Xử trí ban đầu: Nên chườm lạnh bên ngoài bằng nước đá (hoặc nước lạnh) trong 4 giờ đầu. Việc chườm đá làm dịu đau và co mạch, ngưng chảy máu, bớt phù nề. Và sau ngày thứ 2, nên ngâm chỗ bị bong gân trong nước ấm từ 3-4 lần trong ngày.

Ngay sau khi bị bong gân, phải làm ngừng chảy máu (nếu có) và hạn chế phù nề tối đa. Có thể dùng băng thun băng ép khớp bị bong gân giúp khớp có chỗ tựa và giữ cố định cho khớp. Có thể dùng Ethyl clorua xịt vào nơi bong gân để gây tê làm lạnh tại chỗ giúp giảm đau cho người bệnh. Ngoài ra, có thể dùng thuốc giảm đau, tiện nhất là Alaxan uống 1-2 viên/lần, 3 lần trong ngày.

Nghiêm cấm dùng rượu, xoa cao vào nơi bị tổn thương, các chất nóng tác động tại chỗ do những chất này gây chảy máu mạnh hơn. Những trường hợp bong gân nặng: không cử động được khớp, dây chằng khớp bị đứt hoàn toàn,… hãy đến ngay cơ sở y tế để khám và điều trị. Đau cơ: Những cơn đau nhức mà người tập phải trải qua sau khi tập luyện vốn thường xảy ra vào ngày hôm sau, ngay cả khi chỉ thực hiện những 10 bài tập với cường độ nhẹ nhàng. Nguyên nhân: Do mới tập luyện, hoặc tập luyện không thường xuyên.

Cách khắc phục: Nghỉ ngơi, xoa bóp nhẹ nhàng vùng cơ bị đau và chế độ ăn uống cân đối sẽ giúp loại bỏ được cơn đau. Duy trì lượng vận động đều đặn, hoặc tăng dần với khối lượng thích hợp. Nguyên nhân: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến chuột rút.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Nghiên Cứu Ứng Dụng Bài Tập Vật Lý Trị Liệu Phục Hồi Chức Năng Khớp Cổ Chân Cho Vận Động Viên cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng các bài tập vật lý trị liệu nhằm phục hồi chức năng khớp cổ chân cho vận động viên. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ các phương pháp tập luyện hiệu quả mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phục hồi chức năng trong quá trình điều trị chấn thương. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các bài tập này, giúp cải thiện khả năng vận động và giảm thiểu nguy cơ tái chấn thương.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Đánh giá kết quả điều trị không mổ tennis elbow, nơi cung cấp thông tin về các phương pháp điều trị không phẫu thuật cho chấn thương liên quan đến khớp. Tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các phương pháp phục hồi chức năng trong thể thao.