CHƯƠNG 1. Tổng quan về Melanin Melanin là một trong những sắc tố phân bố rộng nhất và được tìm thấy trong vi khuẩn, nấm, động vật, thực vật và động vật. Màu sắc của da và tóc động vật có vú được quyết định bởi một số yếu tố, trong đó quan trọng nhất là mật độ và sự phân bố của sắc tố melanin. Melanin được tiết ra bởi tế bào biểu bì tạo hắc tố (melanocyte) phân bố ở lớp đáy của biểu bì [58].
Vai trò của melanin là bảo vệ da khỏi tác hại của tia cực tím (UV) bằng cách hấp thụ UV của ánh sáng mặt trời và loại bỏ các gốc oxy hoá tự do. Các rối loạn bất thường ở da là kết quả của sự tích tụ quá mức sắc tố ở biểu bì như nám lentigo gồm nám da, đồi mồi và điểm tổn thương do dánh nắng. Đáng chú ý là sự có mặt của melanin trong khối u ác tính nhất là các khối u ở da [20]. Tổng hợp melanin Các tế bào melanocyte của động vật có vú có thể sản xuất hai loại melanin: - Eumelenin có màu từ nâu đến đen không tan trong hầu hết các dung môi, liên kết chặt chẽ với protein thông qua các liên kết đồng hoá trị.
- Pheomelanin có bộ khung được tạo bởi các tiểu đơn vị là các benzothiazin có màu từ vàng đến đỏ nâu và cũng liên kết chặt chẽ với protein thông qua các liên kết đồng hoá trị. Kết hợp khác nhau giữa số lượng và mật độ của melanin này sẽ quyết định màu sắc của da, mắt và tóc [64]. Cấu trúc hóa học của 2 loại melanin Trong nang tế bào hắc tố có xảy ra sự chuyển đổi giữa hai loại melanin từ hình thành eumelanin thành hình thành pheomelanin. Con đường hình thành sắc tố eumelanin có thể chia thành hai giai đoạn (Hình 1.
Sơ đồ biểu diễn con đường sinh tổng hợp melanin. - Giai đoạn đầu L-tyrosin được hydroxyl hóa thành 3,4-dihydroxyphenylalanin (L- DOPA) bởi enzym tyrosinase và được gọi là quá trình monophenolase (đây là bước bắt buộc của quá trình sinh tổng hợp melanin). Tiếp theo L-DOPA được oxy hóa thành dopaquinon cũng bởi enzym tyrosinase và được gọi là quá trình diphenolase. Dopaquinon là một hợp chất được sử dụng trong cả 2 con đường sinh tổng hợp eumelanin và pheomelanin.
Dopaquinon tiếp tục phản ứng nội phân tử tạo leucodopachrom, trung gian này nhanh chóng bị oxy hóa tạo dopachrom hoặc khử trở lại thành L-DOPA. - Giai đoạn sau: gồm một loạt các phản ứng hóa học tổng hợp eumelanin từ dopachrom. Giai đoạn này bắt đầu với phản ứng khử carboxyl hóa chậm của dopachrom tạo 5,6-dihydroxyindol (DHI) và oxy hóa tiếp để tạo indol-5,6-quinon. 4 Dopachrom có thể bị chuyển hóa bởi enzyme tautomerase thành acid 5,6- dihydroxyindol-2-carboxylic (DHICA) [7].
DHICA tiếp tục bị oxy hóa bởi một phản ứng oxi hóa khử với dopaquinon để tạo thành acid indol-5,6-quinon cacboxylic hoặc tạo eumelanin. Trong quá trình hình thành sắc tố pheomelanin nhóm thiol của các hợp chất sulfhydryl như glutathion và cystein nucleophilically tấn công dopaquinon để sản xuất cysteinyldopa hoặc glutathionyldopa [35]. Cysteinyldopa hoặc glutathionyldopa tiếp tục trải qua một loạt các phản ứng để tạo thành pheomelanin. Melanin là một hợp chất phức tạp chứa cả eumelanin và pheomelanin.
Các bệnh ở da liên quan đến melanin Sự gia tăng sản xuất và tích tụ các melanin đặc trưng cho các bệnh tăng sắc tố như sạm da, rám má, đồi mồi, tàn nhang.và ngiêm trọng hơn là bệnh u hắc tố ác tính ở da. Tăng sắc tố có thể do tăng tế bào tạo sắc tố hoặc do tăng hoạt động của các enzym hình thành sắc tố [75]. Bệnh sạm da Sạm da là tình trạng tăng sắc tố trên da làm cho da vùng tổn thương có màu nâu, nâu đen, vàng nâu, xanh, xanh đen, có thể gặp ở bất kỳ vùng da nào của cơ thể, tuy nhiên vị trí hay gặp là vùng da hở, đặc biệt là mặt, cổ. Bệnh ảnh hưởng nhiều đến tâm lý và thẩm mỹ của người bệnh.
Sạm da là kết quả của nhiều nguyên nhân gây nên như di truyền, rối loạn nội tiết, rối loạn chuyển hoá, yếu tố vật lý, tăng sắc tố sau viêm, bệnh tự miễn, dị ứng thuốc.kết quả cuối cùng làm rối loạn quá trình sản sinh sắc tố melanin và sự phân bố của sắc tố melanin ở các lớp tế bào thượng bì, đôi khi cả trung bì, hoặc ảnh hưởng tới số lượng tế bào hắc tố [1]. - Sạm da là do di truyền như là hội chứng Leopard, hội chứng Peutz-jeghers, hội chứng Clam, bệnh Becker, bệnh tàn nhang. - Sạm da do rối loạn nội tiết tố như bệnh Addison, dát sắc tố trong thời kỳ mang thai. 5 - Sạm da do hoá chất, do dị ứng thuốc trong bệnh hồng ban (những hoá chất hay thuốc gây tăng sắc tố da thường là các hoá chất có nguồn gốc dầu mỏ, mỹ phẩm, nước hoa.
Những hoá chất này đóng vai trò là chất cảm quang gây nhiễm sắc tố da ở vùng tiếp xúc với ánh sáng). - Ngoài ra sạm da còn có thể do một số nguyên nhân khác, như: + Nguyên nhân dinh dưỡng mà hàng đầu phải kể đến là thiếu vitamin A, B12, vitamin PP: sạm da gặp chủ yếu ở vùng da hở. + Yếu tố vật lý: như cháy nắng, rám nắng ở vùng có tiếp xúc với ánh sáng mặt trời mà không được bảo vệ. + Tăng sắc tố sau viêm: có thể khu trú ở thượng bì, cũng có khi ở cả trung bì do đại thực bào ăn sắc tố sau đó khu trú ở trung bì, vùng tăng sắc tố này có thể xảy ra sau một đợt viêm cấp hay mạn, hay sau một đợt nhiễm nấm hay nhiễm khuẩn.
+ Tăng sắc tố trong các khối u lành tính và ác tính. + Tăng sắc tố trong bệnh hệ thống, bệnh lao, sốt rét, xơ cứng bì. Bệnh rám má Rám má là một hiện tượng tăng sắc tố, thường xuất hiện ở mặt nhất là hai bên gò má. Bệnh có ở cả hai giới, nhưng phụ nữ gặp nhiều hơn.
Bệnh tuy lành tính, không gây tử vong nhưng lại ảnh hưởng nhiều đến tâm sinh lý và thẩm mỹ của người bệnh đặc biệt là phụ nữ. Tổn thương thường là các dát tăng sắc tố màu nâu, nâu đen, xanh đen màu sắc có thể đồng đều, có thể không, ranh giới tổn thương thường không đều và thường có tính chất đối xứng, tổng thương nhẵn, không có vảy, không ngứa, không đau. Tổn thương thường khu trú ở hai bên gò má, thái dương, trán, mũi, quanh miệng. Đôi khi tổn thương còn xuất hiện ở cánh tay trên.
Các dát sắc tố này tăng đậm lên về mùa xuân và mùa hè, có giảm về mùa thu và mùa đông [1]. Rám má là bệnh do rối loạn chuyển hoá sắc tố ở da. Số lượng tế bào sắc tố hoàn toàn bình thường, nhưng do rối loạn nội tiết đặc biệt là estrogen làm cho tế bào sắc tố tăng cường sản xuất ra sắc tố và được vận chuyển sang các tế bào thượng bì, vì vậy làm tăng sắc tố của da. Chính vì lẽ đó người ta cho rằng rám má là bệnh tăng sắc tố 6 nguyên nhân do nội tiết.
Vì vậy, bất kể nguyên nhân nào ảnh hưởng tới nội tiết của cơ thể đều có thể làm phát sinh rám má, đặc biệt các nội tiết tố sinh dục như estrogen, progesteron. Ngoài ra, một số loại hormon khác cũng có thể làm phát sinh bệnh như hormon tuyến giáp, tuyện thượng thận, tuyến yên [1]. Một số yếu tố thuận lợi làm phát sinh bệnh như uống thuốc tránh thai, viêm nhiễm cấp hay mạn tính, hay gặp trong viêm xoang, viêm phần phụ, chửa đẻ, và một số nghề nghiệp, nhất là những người làm nghề có liên quan đến dầu mỏ và các sản phẩm hoá dầu, những người sản xuất và sử dụng nhiều nước hoa. Bệnh ung thư tế bào hắc tố Bệnh ung thư tế bào hắc tố (malignant melanoma) chiếm khoảng 5% các bệnh ung thư da và khoảng 1% các loại ung thư.
Bệnh gặp ở mọi chủng tộc, tỷ lệ người da trắng mắc bệnh nhiều hơn các loại màu da khác. Tại một số vùng ở Úc có khoảng 40 ca mắc trên 100. Ung thư tế bào hắc tố thường gặp ở người lớn tuổi và hiếm gặp ở trẻ em. Tỉ lệ mắc bệnh ở cả hai giới là tương đương nhau và ngày càng gia tăng ở cả nam và nữ.
Tuy nhiên thì mức độ gia tăng cao hơn ở những người tiếp xúc quá nhiều với bức xạ tia cực tím [1]. Những người sống ở khu vực có ánh nắng mặt trời chiều ánh sáng quanh năm hoặc với cường độ ánh sáng mạnh và gay gắt sẽ có nguy cơ cao mắc các bệnh ung thư da. Ngoài ra thì những người phải làm việc ngoài trời dưới ánh nắng mặt trời vào buổi trưa lúc cường độ ánh sáng là mạnh nhất cũng có nguy cơ mắc các bệnh ung thư da cao hơn. Tiếp xúc với bức xạ tia cực tím B (UVB) từ mặt trời làm tăng sự phát triển của khối u ác tính cũng như sự phát triển của tế bào ung thư da.
Ngoài ra, theo những thông tin gần đây thì tia cực tím A (UVA) cũng có thể đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của bệnh ung thư da. Trong các thử nghiệm lâm sàng phát hiện tyrosinase trong máu và nước tiểu là một dấu hiệu chẩn đoán khối u ác tính. Thực tế hầu hết các khối u ác tính xuất hiện khi mật độ sắc tố cao do đó can thiệp vào quá trình sản xuất melanin là một mục tiêu trong chẩn đoán và điều trị chống lại khối u hắc tố ác tính [66]. Enzym tyrosinase và các chất ức chế 1.
Enzym tyrosinase Tyrosinase tồn tại trong thực vật và động vật tham gia vào sự hình thành sắc tố melanin. Tyrosinase là một enzym có chứa đồng, xúc tác cho hai phản ứng riêng biệt của quá trình tổng hợp melanin: hydroxyl hóa tyrosin (quá trình monophenolase) và quá trình oxy hóa của L-DOPA thành dopaquinon (quá trình diphenolase) [10]. Sơ đồ hai bước đầu quá trình tổng hợp melanin xúc tác bởi enzyme tyrosinase [48]. Các chất ức chế tyrosinase ngày càng quan trọng trong các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm sử dụng để ngăn ngừa hoặc điều trị các bệnh rối loạn sắc tố [48].
Các chất ức chế tyrosinase Tyrosinase đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp melanin, do đó việc ức chế enzym này góp phần làm giảm gia tăng sắc tố da [49]. Các dược liệu có tác dụng ức chế enzym tyrosinase Lô hội (Họ Liliaceae) được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp mỹ phẩm như một chất làm trắng da. Khoảng 350 loài lô hội đã được xác định. Lô hội đã được sử dụng từ lâu đời như một thảo dược truyền thống để chăm sóc da.
Aloesin và 2-o- feruloylaloesin được phân lập từ Aloe arborescens Mill.