ĐẶT VẤN ĐỀ Trong ngành chăn nuôi, chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí rất quan trọng, các sản phẩm của chăn nuôi gia cầm luôn có vị trí tiêu thụ đứng đầu so với các sản phẩm động vật khác, sản phẩm gia cầm không chỉ có hàm lượng dinh dưỡng cao, cân đối mà còn chế biến được nhiều món ăn ngon phù hợp với thị yếu người tiêu dùng. Bên cạnh đó chăn nuôi gia cầm phù hợp với thị yếu của người chăn nuôi, chi phí đầu tư thấp, quay vòng vốn nhanh góp phần cải thiện đời sống của người chăn nuôi. Ngành chăn nuôi còn cung cấp các sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến và nguồn phân bón dồi dào cho ngành trồng trọt…Chính vì vậy mà trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm rất được chú trọng đầu tư, nhiều giống mới được tạo ra, được nhập ngoại về nước ta, những tiến bộ di truyền mới đã nâng cao chất lượng và năng suất của các giống gia cầm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi. Trong đó giống gà lông màu Sasso do hãng SASSO của Pháp tạo ra đang là một trong những lựa chọn được nhiều người chăn nuôi quan tâm.
Tuy nhiên cùng với sự phát triển nhanh của ngành chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm thì dịch bệnh cũng diễn biến vô cùng phức tạp. Trong đó bệnh Cầu trùng là một tác nhân gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi gia cầm, làm giảm khả năng sinh trưởng, giảm chất lượng thịt và trứng gia cầm. Từ thực tế đó em tiến hành nghiên cứu đề tài tốt nghiệp “Xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm cầu trùng ở gà Sasso nuôi tại trại giống gia cầm Thịnh Đán - Thái Nguyên và n 17 xác định hiệu lực của hai loại thuốc Avicoc, Rigecocin-WS trong phòng bệnh Cầu trùng”. Mục tiêu của đề tài + Xác định tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm Cầu trùng ở gà Sasso nuôi tại trại giống gia cầm Thịnh Đán - Thái Nguyên.
+ Xác định hiệu lực của hai loại thuốc Avicoc, Rigecoccin-WS trong phòng bệnh. Mục đích nghiên cứu Từ kết quả nghiên cứu lấy đó làm cơ sở khoa học để xây dựng quy trình phòng bệnh bệnh Cầu trùng có hiệu quả cao mang lại lợi ích kinh tế cho người chăn nuôi. Bản thân được làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đại cương về cơ thể gia cầm Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dại. Gia cầm có đặc điểm giống với bò sát đồng thời khác với gia súc và thú hoang là có bộ xương nhẹ, thân phủ lông vũ, chi trước phát triển thành cánh để bay và là loài đẻ trứng sau ấp nở thành gia cầm non. Quá trình trao đổi chất của gia cầm lớn, thân nhiệt cao (40 - 420C) nhờ đó mà gia cầm sinh trưởng nhanh.
Gia cầm có cấu tạo đầy đủ các cơ quan bộ phận như: Hệ tiêu hóa, hô hấp, bài tiết, tuần hoàn, sinh dục. Nhưng cấu tạo giải phẫu sinh lý gia cầm lại có nhiều điểm khác với gia súc. Đặc biệt là hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ sinh dục…trong đó: - Hệ hô hấp của gia cầm gồm: Xoang mũi, khí quản, phế quản phổi và 9 túi khí chính nhờ đó mà cơ thể gia cầm nhẹ có thể bay được, bơi được, hơn nữa dịch hoàn của gia cầm nằm trong mà quá trình sinh sản vẫn diễn ra bình thường. n 18 - Hệ tiêu hóa: Cũng có nhiều điểm khác về cấu tạo chức năng, nó bao gồm: Khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràn, lỗ huyệt, tuyến tụy và gan.
Khoang miệng của gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ có vai trò lấy, thu nhận thức ăn, không có tác dụng nghiền nhỏ. Thức ăn vào miệng được thấm nước bọt, sau được nuốt xuống thực quản, thực quản phình to tạo thành diều. Trong diều thức ăn được thấm ướt, làm mềm và một phần hydrat cacbon được phân hủy dưới tác dụng của men amylase (quá trình đường hóa) tạo ra quá trình vi sinh vật diều. Thức ăn từ diều qua dạ dày tuyến tương đối nhanh.
Dịch vị của dạ dày tuyến có HCL và men pepsin tham gia phân giải protein thành pepton. Sau đó thức ăn được nghiền nhỏ và thấm đều dịch vị. Ở dạ dày cơ dưới tác dụng của HCL và men pepsin protein tiếp tục được phân hủy, hydrat cacbon cũng được phân giải nhờ tác dụng của vi sinh vật trong thức ăn. Thức ăn từ dạ dày cơ được chuyển xuống ruột non dưới tác dụng của dịch ruột, dịch vị và dịch mật các chất dinh dưỡng cơ bản trong thức ăn được chuyển hóa tạo thành những chất dễ hấp thu.
Ở ruột non quá trình tiêu hóa diễn ra là chủ yếu, glucid được phân giải thành đường đơn. Lipit thành glyxerin và acid béo, protein thành các peptid và các acid amin để cơ thể dễ hấp thu và lợi dụng được. Ở manh tràng quá trình phân giải các chất trên còn tiếp tục diễn ra nhờ men của đường ruột tồn tại và do vi sinh vật diễn ra nhưng rất ít. Quá trình tiêu hóa chất xơ của gia cầm cũng nhờ tác dụng của hệ vi sinh vật lên men nhưng hoạt động kém.
Thức ăn qua đường của gà rất nhanh (gà con 2-4 giờ, gà lớn 4-5 giờ). Do đặc điểm này mà khi nuốt phải noãn nang Cầu trùng thì noãn nang sẽ cùng thức ăn theo đường tiêu hóa xuống ruột non, manh tràng, trực tràng, nên quá trình xâm nhập, gây bệnh của Cầu trùng xảy ra nhanh, vòng đời của Cầu trùng ngắn (5-7 ngày). Những hiểu biết về bệnh Cầu trùng gia cầm * Đặc điểm của bệnh Cầu trùng gà Mỗi loại Cầu trùng thường chỉ gây tác hại cho gà ở một lứa tuổi nhất định.Tenella chủ yếu gây bệnh cho gà con dưới 45 ngày tuổi.brunetti chủ yếu ở gà lớn. Gà ở mọi lứa tuổi đều bị nhiễm Cầu trùng nhưng ở mỗi lứa tuổi khác nhau thì nhiễm ở mức độ khác nhau.
Gà con bị nhiễm nặng và chết nhiều hơn gà lớn, gà lớn chủ yếu là vật mang trùng. * Đặc điểm của mầm bệnh Cầu trùng thuộc ngành protozoa, lớp Spotozoa, bộ coccidian, họ Eimeridae. Họ này thuộc nhiều giống nhưng có hai giống có quan hệ y học và thú y là: Eimridiae và Isospora. Khi Cầu trùng mới theo phân ra ngoài là một kén hay một noãn nang, Oocyst là những tế bào tử hình bầu dục, hình trứng, hình cầu có ba lớp vỏ.
Lớp vỏ ngoài cùng rất mỏng, bên trong có chứa nguyên sinh chất lổn nhổn thành hạt, giữa nguyên sinh chất có chứa một nhân tương đối to. Cầu trùng thuộc giống Eimeria thì nhân và nguyên sinh chất sẽ hình thành bốn bào tử con và cũng xâm nhập vào niêm mạc ruột. Giống Isospora ít gặp hơn và thường gặp ở chó và mèo. * Vòng đời của Cầu trùng gà (chu kỳ sinh học) Chu kỳ của Cầu trùng trải qua ba giai đoạn phát triển: Giai đoạn sinh sản vô tính, sinh sản hữu tính, sinh sản bào tử.
Hai giai đoạn đầu thực hiện trong tế bào niêm mạc ruột của ký chủ nên còn được gọi là giai đoạn nội sinh sản (kéo dài 5-7 ngày), giai đoạn 3 thực hiện ở môi trường bên ngoài. - Giai đoạn 1: Sinh sản vô tính tự nhân đôi của cầu trùng trong tế bào biểu bì để hình thành nên các thể phân lập gọi là Schizont. - Giai đoạn 2: Là giai đoạn sinh sản hữu tính, tức là đến thế hệ Schizont cuối cùng chúng chuyển sang sinh sản hữu tính, tạo ra các thể Gamet từ đó n 20 hình thành các thể giao tử đực (Microgamet), giao tử đực chui vào giao tử cái để thụ tinh tạo nên các hợp tử. Hợp tử phân tiết thành một màng bao bọc bên ngoài, lúc này được gọi là noãn nang (Oocyst) - Giai đoạn 3: Là giai đoạn ngoài cơ thể, khi các noãn nang (nang trứng) cùng các chất bài tiết thải ra ngoài và dưới tác động là các yếu tố môi trường chúng nhanh chóng phân chia để tạo thành các bào tử Sporozoit.
Lúc này trong Oocyst hình thành 8 bào tử con và trở thành Oocyst có sức gây bệnh. Khi ký chủ nuốt phải Oocyst có sức gây bệnh vào đường tiêu hóa, noãn nang giải phóng các bào tử con ra ngoài, các bào tử lại tiếp tục xâm nhập vào biểu mô ruột, lớn dần lên và tiếp tục sinh sản vô tính, tính hữu tính, vòng đời lại tiếp tục như trên. * Sức đề kháng của mầm bệnh Sức đề kháng của mầm bệnh là khả năng chống lại các tác nhân của môi trường như ẩm độ, nhiệt độ, ánh sáng, môi trường nhân tạo, các dung dịch hóa chất tác động đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của chúng. Nó có ý nghĩa rất lớn trong việc tìm ra phương pháp phòng và chống bệnh Cầu trùng trong chăn nuôi.
+ Đối với nhiệt độ Theo Lê văn Năm (2003) [13] nhiệt độ thích hợp cho quá trình phát triển bào tử nang ở ngoài cơ thể là 150C - 350C, lạnh là -150C và nóng trên 400C bào tử nang sẽ chết. C (1986) [29] cho rằng: Khi điều kiện thấp ocyst đã sinh bào tử tồn tại được 14 ngày ở 120C -200C những Oocyst chưa sinh bào tử chỉ chịu đựng được không quá 56 giờ. + Đối với độ ẩm: Vai trò của độ ẩm rất quan trọng trong sự phân chia của nang trứng. n 21 Theo Steve Henry (2002) [32] nang trứng Cầu trùng chứa trong phân thải ra để nhiệt độ 200C và thoáng gió thì không phát triển được sau 48 giờ, ở 300C là 12 giờ.
+ Đối với oxy: Nang trứng muốn phát triển được đòi hỏi phải có oxy, trong môi trường thối nát nang trứng không phát triển được và phân bào ngừng lại. + Đối với các hóa chất: Cầu trùng có chất đề kháng với chất sát trùng nhưng cũng có nhiều công trình nghiên cứu để làm giảm noãn nang bằng hợp chất có thể xâm nhập được vào tế bào Cầu trùng. Horton Smith (1996) [30] cho biết dung dịch Greolin 5% sẽ giết chết noãn nang non và thành thục sau 20- 30 ngày. * Tác nhân gây bệnh Cầu trùng Trải qua quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã chỉ ra tác nhân gây bệnh Cầu trùng gia cầm với những đặc điểm sinh học của chúng.1: Một số đặc điểm phân loại Cầu trùng Diễn giải Hình Sinh sản Kích thước ( m) Lỗ noãn bào tử dạng Loài (giờ) E.
Telella Bầu dục 14,2-20 x 9,5-24,8 Không 18-48 E. Maxima Bầu dục 21,4-42,5 x 16,5-29,8 Có 21-24 E. Mitis Tròn 11-19 x 10-17 Không 24-48 E.necatrix Bầu dục 13-20 x 13,1-18,3 Không 21-24 E.brunetti Bầu dục 20,7-30,3 x 18,1-24,2 Không 24 E.