Tổng quan nghiên cứu

Theo công bố từ Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu Ung thư (Globocan), gánh nặng ung thư toàn cầu ghi nhận sự gia tăng với 18,078 triệu ca mắc mới và 9,5 triệu trường hợp tử vong. Tại Việt Nam, sự biến đổi mô hình bệnh tật diễn ra mạnh mẽ khi các bệnh mạn tính không lây chiếm tới 71% tổng gánh nặng bệnh tật. Hằng năm, nước ta ghi nhận khoảng 164.671 ca mắc mới và 114.871 trường hợp tử vong do ung thư, chiếm gần 70% tổng số ca tử vong chung. Nhằm giảm tải tình trạng quá tải bệnh nhân nội trú, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 01/2017/TT-BYT quy định việc thực hiện hóa trị, xạ trị và điều trị kết hợp ban ngày tại các cơ sở khám chữa bệnh.

Bệnh viện Ung bướu Thành phố Cần Thơ đã triển khai điều trị ngoại trú từ tháng 6/2017. Tuy nhiên, việc duy trì sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân ngoại trú là một thách thức lớn trong công tác quản lý y tế. Luận văn chuyên khoa cấp II chuyên ngành Quản lý y tế của tác giả Phạm Quang Minh tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ tập trung giải quyết hai mục tiêu trọng tâm: Thứ nhất, xác định tỷ lệ và phương pháp điều trị ngoại trú một số bệnh ung thư thường gặp. Thứ hai, xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị ngoại trú và phân tích một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Ung bướu Thành phố Cần Thơ trong giai đoạn từ tháng 7/2020 đến tháng 6/2021. Nghiên cứu thực hiện trên 174 bệnh nhân ngoại trú, mang lại cơ sở dữ liệu thực chứng quan trọng giúp tối ưu hóa công tác quản lý chất lượng dịch vụ y tế, nâng cao tỷ lệ sống còn 5 năm và giảm thiểu chi phí chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung lý thuyết đánh giá tuân thủ dùng thuốc thông qua Thang đo tuân thủ điều trị Morisky 8 câu hỏi (Morisky Medication Adherence Scale - MMAS-8) được chuẩn hóa quốc tế. Thang đo này phân loại mức độ tuân thủ thành 3 nhóm: tuân thủ tốt (đạt 8 điểm), tuân thủ trung bình (đạt từ 6 đến 7 điểm) và tuân thủ kém (dưới 6 điểm). Bên cạnh đó, nghiên cứu áp dụng hệ thống phân loại giai đoạn bệnh TNM của Liên hiệp Quốc tế Chống Ung thư (UICC) và khung hướng dẫn chẩn đoán, phác đồ điều trị chuẩn của Bộ Y tế, bao gồm: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư vú (Quyết định số 3128/QĐ-BYT), ung thư đại - trực tràng (Quyết định số 2549/QĐ-BYT), ung thư dạ dày (Quyết định số 3127/QĐ-BYT), ung thư cổ tử cung (Quyết định số 2402/QĐ-BYT) và ung thư tiền liệt tuyến (Quyết định số 3130/QĐ-BYT). Các khái niệm then chốt được phân tích xuyên suốt đề tài bao gồm: điều trị ngoại trú ban ngày, hóa trị bổ trợ, hóa trị tân bổ trợ, xạ trị chiếu ngoài, điều trị nội tiết và kiểm soát biến cố bất lợi của thuốc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang mô tả có phân tích. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% (hệ số Z = 1,96), tỷ lệ tuân thủ điều trị ngoại trú dự kiến p = 62,3% (tham chiếu từ nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Khởi năm 2018), khoảng sai lệch cho phép d = 0,08 và dự phòng 10% hao hụt mẫu, cho ra cỡ mẫu tính toán là 160 bệnh nhân. Trong thực tế triển khai từ tháng 7/2020 đến tháng 6/2021, tác giả đã thu thập thành công 174 bệnh nhân ung thư điều trị ngoại trú đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chọn mẫu. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng cho đến khi đủ số lượng.

Thu thập số liệu được tiến hành trực tiếp thông qua việc trích xuất hồ sơ bệnh án kết hợp phỏng vấn bằng phiếu điều tra chuẩn hóa chứa bộ câu hỏi MMAS-8. Toàn bộ số liệu được làm sạch và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0. Các biến định lượng có phân phối chuẩn được trình bày bằng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn, trong khi các biến không phân phối chuẩn biểu diễn qua trung vị và khoảng tứ phân vị. Các biến định tính biểu diễn bằng tỷ lệ phần trăm. Nghiên cứu sử dụng phép kiểm Chi bình phương và kiểm định chính xác Fisher để so sánh tỷ lệ giữa các nhóm. Nhằm đánh giá tác động tổng thể và kiểm soát các yếu tố gây nhiễu, mô hình hồi quy logistic đa biến (Binary Logistic Regression) kết hợp kiểm định Wald Chi-square được thiết lập với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05. Đề tài tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc y đức, được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y Dược Cần Thơ thông qua và người bệnh tự nguyện ký giấy đồng ý tham gia.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích 174 bệnh nhân ung thư điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Ung bướu Thành phố Cần Thơ cho thấy độ tuổi trung bình của đối tượng là 57,7 ± 13,2 tuổi (lớn nhất là 85 tuổi, nhỏ nhất là 29 tuổi). Nhóm tuổi 50-59 chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,2%, nhóm 60-69 tuổi chiếm 24,7%, nhóm 40-49 tuổi chiếm 21,8%, trong khi nhóm dưới 30 tuổi chỉ chiếm 1,7%. Về giới tính, nữ giới chiếm tỷ lệ áp đảo với 63,8% so với nam giới là 36,2%. Về dân tộc, người Kinh chiếm 95,4%, người Hoa chiếm 3,4% và người Khmer chiếm 1,1%. Trình độ học vấn của bệnh nhân tập trung nhiều nhất ở bậc THPT với 50,6%, tiếp đến là tiểu học (19,5%), THCS (15,5%) và cao đẳng/đại học (13,2%). Đáng chú ý, 77,0% bệnh nhân phụ thuộc tài chính vào gia đình, trong khi chỉ có 23,0% tự chủ về kinh tế. Có 23,6% bệnh nhân ghi nhận mắc bệnh mạn tính kèm theo, trong đó tăng huyết áp/tim mạch chiếm 19,5%, bệnh gan chiếm 17,1%, đái tháo đường chiếm 12,2% và 24,4% bệnh nhân đã xuất hiện tình trạng di căn.

Về cơ cấu bệnh ung thư, ung thư vú chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,0%, kế tiếp là ung thư đại tràng (13,0%), ung thư trực tràng (10,0%), ung thư dạ dày (6,0%), ung thư tiền liệt tuyến (5,0%), lymphoma (3,0%) và ung thư cổ tử cung (2,0%). Xét theo giai đoạn bệnh, bệnh nhân ở giai đoạn 3 chiếm tỷ lệ lớn nhất với 36,2%, giai đoạn 2 chiếm 30,5%, giai đoạn 1 chiếm 18,4% và giai đoạn 4 chiếm 14,9%. Đánh giá tuân thủ dùng thuốc theo thang điểm MMAS-8 kết hợp tuân thủ tái khám ghi nhận tỷ lệ tuân thủ điều trị tốt đạt 63,2%, tuân thủ trung bình chiếm 30,5% và tuân thủ kém chiếm 6,3%.

Thảo luận kết quả

Khi tổng hợp dữ liệu dưới dạng bảng và biểu đồ tương quan, tỷ lệ tuân thủ điều trị ngoại trú 63,2% tại Cần Thơ hoàn toàn tương đương với các nghiên cứu trong nước, tiêu biểu như nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Khởi năm 2018 (đạt 62,3%) và nghiên cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2013 (đạt 69,0%). Trên bình diện quốc tế, kết quả này tương đồng với nghiên cứu tại Bệnh viện Ogaki Nhật Bản năm 2014 (64,0%), cao hơn đáng kể so với nghiên cứu tại Phần Lan năm 2014 ở bệnh nhân CML (23,0%) và tại Hà Lan năm 2015 (34,4%), song thấp hơn nghiên cứu của Linda Krolop tại Đức năm 2013 (79,4%).

Phân tích các hành vi không tuân thủ cho thấy nguyên nhân phổ biến nhất là thỉnh thoảng quên uống thuốc (chiếm 15,5%) và tự ý ngưng dùng thuốc khi cảm thấy triệu chứng đã được kiểm soát (chiếm 12,7%). Tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị như mệt mỏi, buồn nôn, suy tủy cũng là rào cản lớn, tương đồng với phát hiện của Grunfeld năm 2005 khi có tới 46,0% bệnh nhân ung thư vú bỏ điều trị do tác dụng không mong muốn. Phân tích mô hình hồi quy đa biến khẳng định các yếu tố có mối liên quan độc lập và có ý nghĩa thống kê với sự tuân thủ điều trị bao gồm: sự hỗ trợ tích cực từ người thân trong gia đình, khả năng độc lập tài chính, trình độ học vấn từ cấp THPT trở lên và việc được giải thích kỹ lưỡng về phác đồ điều trị (p < 0,05).

Đề xuất và khuyến nghị

  • Chuẩn hóa quy trình tư vấn và hướng dẫn sử dụng thuốc ngoại trú: Ban Giám đốc và Hội đồng Thuốc Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ cần ban hành quy trình tư vấn dược lâm sàng chuyên sâu trước khi bệnh nhân ngoại trú nhận thuốc, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ tuân thủ điều trị tốt từ 63,2% lên trên 80,0% trong giai đoạn 2022-2024.
  • Ứng dụng hệ thống nhắc lịch tự động qua tin nhắn và ứng dụng di động: Phòng Công nghệ thông tin phối hợp với Khoa Khám bệnh triển khai phần mềm gửi tin nhắn nhắc nhở giờ uống thuốc và lịch tái khám định kỳ, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ người bệnh quên thuốc từ 15,5% xuống dưới 5,0% trong vòng 12 tháng.
  • Tăng cường kiểm soát biến cố có hại và chăm sóc giảm nhẹ: Các bác sĩ điều trị cần chủ động kê đơn phối hợp thuốc chống nôn, thuốc nâng đỡ thể trạng và hướng dẫn xử trí tác dụng phụ tại nhà, đồng thời thiết lập đường dây nóng hỗ trợ y tế 24/7 nhằm hỗ trợ 100% bệnh nhân ngoại trú có phác đồ điều trị phức tạp.
  • Phát triển quỹ hỗ trợ xã hội hóa cho người bệnh có hoàn cảnh khó khăn: Phòng Công tác xã hội bệnh viện cần kết nối với các tổ chức từ thiện và doanh nghiệp để hỗ trợ chi phí đi lại, viện phí ngoài danh mục bảo hiểm y tế cho 77,0% nhóm đối tượng phụ thuộc tài chính, giúp hạn chế nguy cơ bỏ trị vì lý do kinh tế từ năm 2023 đến 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Lãnh đạo bệnh viện và các nhà quản lý y tế: Cung cấp bức tranh thực tế về năng lực triển khai Thông tư 01/2017/TT-BYT, giúp hoạch định chiến lược đầu tư cơ sở hạ tầng, giường bệnh ban ngày và phân bổ nhân lực y tế hợp lý.
  • Bác sĩ chuyên khoa ung bướu và dược sĩ lâm sàng: Cung cấp thông tin thực tiễn về hành vi dùng thuốc của người bệnh theo thang MMAS-8, từ đó cá thể hóa kế hoạch điều trị, tư vấn tương tác thuốc và quản lý tác dụng ngoại ý hiệu quả hơn.
  • Học viên cao học, bác sĩ chuyên khoa II và nghiên cứu sinh: Sử dụng làm tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp thiết kế nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng, cách ứng dụng thang đo MMAS-8 và xử lý mô hình hồi quy đa biến trong quản lý y tế.
  • Điều dưỡng viên và nhân viên công tác xã hội: Giúp xây dựng kế hoạch chăm sóc tâm lý, thiết kế chương trình giáo dục sức khỏe phù hợp với trình độ người bệnh và hỗ trợ kết nối nguồn lực an sinh xã hội cho gia đình bệnh nhân ung thư.

Câu hỏi thường gặp

    1. Thang đo MMAS-8 đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân ung thư dựa trên nguyên lý nào? Thang đo Morisky 8 câu hỏi (MMAS-8) đánh giá trực tiếp các rào cản hành vi của người bệnh như: hay quên, tự ý bỏ thuốc khi thấy đỡ, giảm liều khi thấy mệt hoặc khó khăn khi duy trì lịch dùng thuốc. Người đạt 8 điểm tối đa được xem là tuân thủ tốt, 6-7 điểm là tuân thủ trung bình và dưới 6 điểm là tuân thủ kém, giúp nhận diện sớm bệnh nhân có nguy cơ bỏ trị.
    1. Loại ung thư nào được chỉ định điều trị ngoại trú nhiều nhất tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ? Ung thư vú chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu với 48,0%, theo sau là ung thư đại tràng (13,0%) và ung thư trực tràng (10,0%). Đây là các mặt bệnh có phác đồ hóa trị định kỳ, xạ trị chiếu ngoài và liệu pháp nội tiết đường uống rất thích hợp để quản lý theo mô hình điều trị ban ngày.
    1. Nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến tình trạng không tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân ngoại trú? Hai nguyên nhân nổi bật nhất là thỉnh thoảng quên uống thuốc (chiếm 15,5%) và tự ý ngưng thuốc khi thấy các triệu chứng bệnh tạm thời thuyên giảm (chiếm 12,7%). Ngoài ra, nỗi sợ hãi trước các tác dụng phụ của thuốc chống ung thư cũng khiến người bệnh tự ý gián đoạn liệu trình.
    1. Yếu tố tài chính và gia đình tác động như thế nào đến khả năng tuân thủ phác đồ? Nghiên cứu ghi nhận 77,0% bệnh nhân phụ thuộc tài chính vào người thân. Phân tích hồi quy đa biến chứng minh rằng những bệnh nhân nhận được sự chăm sóc, động viên thường xuyên từ gia đình và có khả năng tự chủ kinh tế đạt tỷ lệ tuân thủ điều trị cao hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
    1. Việc triển khai Thông tư 01/2017/TT-BYT mang lại lợi ích cụ thể gì cho hệ thống y tế? Thông tư 01/2017/TT-BYT giúp cơ sở y tế hợp pháp hóa quy trình điều trị hóa trị, xạ trị ban ngày, góp phần giảm áp lực quá tải buồng bệnh nội trú, giảm chi phí lưu trú cho người bệnh nhưng đòi hỏi bệnh viện phải giám sát chặt chẽ sự tuân thủ điều trị ngoại trú.

Kết luận

  • Tỷ lệ bệnh nhân ung thư tuân thủ điều trị tốt tại Bệnh viện Ung bướu Thành phố Cần Thơ đạt 63,2%, trong khi nhóm tuân thủ trung bình và kém vẫn chiếm tới 36,8%.
  • Cơ cấu bệnh lý ngoại trú tập trung chủ yếu ở ung thư vú (48,0%), ung thư đại - trực tràng (23,0%) và phần lớn bệnh nhân đang ở giai đoạn tiến triển (giai đoạn 2 và giai đoạn 3 chiếm 66,7%).
  • Các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị bao gồm: sự hỗ trợ từ gia đình, khả năng tự chủ tài chính, trình độ học vấn và kiến thức kiểm soát biến cố bất lợi của thuốc.
  • Đề xuất lộ trình giai đoạn 2022-2025 ứng dụng đồng bộ công nghệ nhắc lịch tự động, tư vấn dược lâm sàng chuyên sâu và phát triển quỹ an sinh xã hội nhằm nâng tỷ lệ tuân thủ lên trên 80,0%.
  • Hãy liên hệ ngay với các đơn vị chuyên môn và tham khảo chi tiết luận văn để hoàn thiện quy trình quản lý điều trị ung thư ngoại trú an toàn, hiệu quả tại cơ sở y tế!