ĐẶT VẤN ĐỀ Theo cơ quan Quốc tế Nghiên cứu Ung thư (Globocan), số liệu ung thư toàn cầu năm 2018 được công bố như sau: tổng số ung thư mắc mới là 18,078 triệu bệnh nhân, cứ 100.000 người dân, có 197,9 trường hợp mới mắc (xuất độ 197,9/100. Nguy cơ mắc ung thư ở nam giới nhiều hơn nữ giới. Tổng số trường hợp tử vong do bệnh ung thư là 9,5 triệu ca, xuất độ tử vong 101,1/100. Có 43,8 triệu người sống còn 5 năm.
So với Globocan 2012, với số ca mới mắc là 14,09 triệu, số ca chết là 8,2 triệu [8], [63], [64], rõ ràng đang có sự gia tăng gánh nặng ung thư hiện nay. Việt nam, với dân số 96,2 triệu dân, có nền kinh tế đang phát triển với tốc độ tăng trưởng nhanh ở khu vực Đông Nam Á. Trong giai đoạn phát triển này, Việt Nam trải qua sự thay đổi đáng kể mô hình bệnh tật. Ở giai đoạn trước 1980, nếu nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử vong là bệnh nhiễm trùng và chu sinh, thì từ năm 1990 đến nay, số liệu thống kê cho thấy 71% gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam là do bệnh mãn tính không lây, với 60% số tử vong là do các nguyên nhân hàng đầu như ung thư, đái tháo đường, tim mạch và bệnh phổi.
Trong số này, số tử vong hằng năm do ung thư ở nam giới là 58.200 trường hợp và ở nữ giới là 33.400 trường hợp. Ngoài ra, theo số liệu của Globocan năm 2018, tình hình mắc bệnh ung thư tăng nhanh với số trường hợp ung thư mới mắc ở Việt Nam là 16.4671 trường hợp và số tử vong do ung thư là 114.871 trường hợp, chiếm khoảng 70% các trường hợp bệnh nói chung và xu hướng này tiếp tục tăng [8], [63], [64]. Các bằng chứng khoa học đã chứng minh rằng, ung thư không phải là bệnh vô phương cứu chữa, 1/3 người bệnh ung thư có thể phòng ngừa, 1/3 có thể chữa khỏi nếu được ch n đoán sớm, điều trị kịp thời và đúng phương pháp, 1/3 người bệnh ung thư còn lại, được kéo dài thời gian sống, cải thiện 2 chất lượng sống, nhờ sự can thiệp các biện pháp điều trị và chăm sóc giảm nhẹ. Trong điều trị ung thư hiện nay, có ba phương pháp trị liệu chu n: phẫu trị, xạ trị và hóa trị.
Giữa thế kỷ trước, đa số bệnh ung thư được xử lý bằng phẫu thuật (phẫu trị), hoặc tia phóng xạ (xạ trị), nhằm vào những khối u còn khu trú (tại vị trí nguyên phát hoặc tại vùng – hạch lymphô). Liệu pháp toàn thân chưa thực sự có vai trò đáng kể. Khoảng ba thập kỷ trở lại đây, việc dùng thuốc đặc trị ung thư (hóa trị ung thư hay liệu pháp toàn thân) mới dần dần được hòa nhịp cùng hai liệu pháp chu n kia, phẫu và xạ trị, để làm tăng hiệu quả trị khỏi bệnh cho bệnh nhân ung thư [5] Nhằm làm giảm tải bệnh nhân nội trú tại các bệnh viện, Bộ Y tế ban hành thông tư 01/2017/TT-BYT ngày 06 tháng 3 năm 2017: ”Quy định việc thực hiện hóa trị, xạ trị, hóa trị kết hợp xạ trị ban ngày tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”. Bệnh viện Ung bướu Thành phố Cần Thơ đã triển khai điều trị ngoại trú cho một số bệnh nhân ung thư theo thông tư này tháng 6-2017.
Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu đánh giá kết quả của việc triển khai qui định này một cách toàn diện tại Bệnh viện. Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu tình hình tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân ung thư được điều trị ngoại trú tại Bệnh Viện Ung Bướu Thành phố Cần Thơ, năm 2020-2021” với hai mục tiêu: 1/ Xác định tỉ lệ và phương pháp điều trị ngoại trú một số bệnh ung thư thường gặp tại Bệnh viện Ung Bướu Thành Phố Cần Thơ, năm 2020-2021. 2/ Xác định tỉ lệ tuân thủ điều trị ngoại trú và tìm hiểu một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân ung thư đã được ch n đoán và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ, năm 2020-2021 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát bệnh ung thƣ 1.1 Khái niệm ung thƣ Ngày nay, mặc dù khoa học y học đã có những tiến bộ vượt bậc, đặc biệt là trong lĩnh vực sinh học phân tử, tuy nhiên, để định nghĩa bệnh ung thư là gì vẫn không dễ dàng.
Chúng ta có thể định nghĩa ung thư như là quá trình bệnh lý, trong đó, một số tế bào thoát ra khỏi sự kiểm soát, sự biệt hóa sinh học của tế bào và tiếp tục nhân lên. Những tế bào này có khả năng xâm lấn và phá hủy các tổ chức xung quanh. Đồng thời, chúng có thể di trú và đến phát triển ở nhiều cơ quan khác nhau, hình thành nên di căn và cuối cùng, ung thư gây tử vong do: Các biến chứng cấp tính (như xuất huyết ồ ạt, chèn ép não, ngạt thở); hay tiến triển nặng dần, tiến đến rối loạn chức năng của các cơ quan do tế bào khối u di căn đến (như thiểu năng hô hấp, suy chức năng gan, thận,.); hoặc thoái triển dần dần, kéo dài, dẫn đến suy kiệt và bệnh nhân tử vong.2 Xếp hạng ung thƣ Trong số các yếu tố góp phần vào tiên lượng và chỉ định điều trị, những yếu tố về khối ung thư (hình thái, kích thước, những mối liên hệ về giải phẫu học, sự hiện diện của di căn) thường được diễn tả dưới dạng mã số. Mã số giúp đơn giản hóa những chỉ định điều trị, tạo nên sự dễ dàng trong trao đổi thông tin giữa các trung tâm điều trị và góp phần vào việc nghiên cứu và điều trị bệnh ung thư [5].
Để đáp ứng những mục đích này, mã số phải có tính phổ thông và những phương pháp nghiên cứu được đề xuất phải được mọi người chấp nhận và đơn giản [5].1 Xếp hạng ung thƣ theo giai đoạn Khái niệm về giai đoạn dựa trên cơ sở là ung thư luôn diễn ra theo cùng một trình tự: lan rộng tại chỗ, xâm nhập mạch lymphô, di căn đến các tạng, bộ phận khác trong cơ thể [5]. Cách phân chia theo giai đoạn đã được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là cho ung thư cổ tử cung, ung thư thân tử cung, ung thư buồng trứng, cho bệnh Hodgkin và lymphô không Hodgkin [5]. Xếp hạng ung thư theo giai đoạn [5] Giai đoạn 0 Ung thư tại chỗ (ung thư không phá vỡ màng đáy, do đó, không xâm nhập tại chỗ, không lan rộng tại vùng hoặc di căn xa) Giai đoạn I Bướu nguyên phát có thể tích nhỏ, không kèm hạch, cũng như không có di căn xa Giai đoạn II Bướu ăn lan tại chỗ hơn, kèm theo sự xâm nhập hạch ở mức tối thiểu Giai đoạn III Bướu tràn ngập cơ quan bị bệnh và/hoặc kèm theo hạch quan trọng Giai đoạn IV Bướu không thể mổ được nữa, vì ăn lan quá rộng, có kèm theo hay không hạch vùng quan trọng, hoặc có di căn xa có thể phát hiện được Nguồn: Bộ y tế (2013), [2], [5].2 Xếp hạng ung thƣ theo hệ thống TNM Liên hợp quốc tế chống ung thư (UICC: The Union for International Cancer Control) [5], đề xuất: T: Sự lan rộng của bướu nguyên phát 5 N: Tình trạng hạch lymphô trên vùng hoặc hạch cạnh vùng (cho một số trường hợp) M: Có hoặc không có di căn xa Để diễn đạt kết quả, mỗi yếu tố TNM cho một con số, chỉ ra thể tích bướu và tiên lượng về mức trầm trọng của sự tăng trưởng bướu. Theo qui ước, xếp hạng TNM đòi hỏi sự xác định bản chất mô học của bướu.
Xếp hạng này dựa trên những nhận định trước khi quyết định điều trị, là kết quả của khám lâm sàng, hình ảnh học, nội soi và những xét nghiệm khác. Không dựa vào mổ thám sát trước đó (mổ thám sát chỉ được làm trong một số trường hợp nhất định) [5]. Trước khi xếp hạng, phải thực hiện một số khảo sát để đánh giá mức độ lan rộng của bệnh. Khi đã xếp hạng TNM rồi, thì dù bệnh có tiến triển như thế nào, xếp hạng này cũng không thay đổi [5].
Ngoài phân loại bướu theo lâm sàng trước khi điều trị, xếp hạng TNM còn cung cấp những chi tiết khác có giá trị bổ sung cho việc tiên lượng bệnh [5], như: - Sự xâm nhập theo chiều sâu của bướu đến những lớp khác nhau của cơ quan bị bệnh (cần thiết để phân loại các ung thư dạ dày, đại tràng, trực tràng, bàng quang.) - Sự xâm nhập hạch trên vi thể (chính xác hơn quan sát đại thể và trên lâm sàng) - Mức lan rộng của di căn - Mức độ biệt hóa của bướu nguyên phát, được xếp hạng dưới ký hiệu G (Histologic Grade): [5] G1: Độ biệt hóa rõ G2: Độ biệt hóa vừa G3: Độ biệt hóa kém hoặc không biệt hóa G4: Không thể đánh giá độ biệt hóa 6 Sự xâm nhập hạch trên xét nghiệm mô học, được xếp hạng là N: N (-) nếu không có xâm nhập hạch và N (+) nếu có xâm nhập hạch. Nếu đã có xét nghiệm sau mổ thì dùng ký hiệu pN0, pN1, pN2, pN3 [5]. Tình hình bệnh ung thƣ trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Thống kê cho thấy, các bệnh ung thư thường gặp trên thế giới theo Globocan 2018 ở nam giới [8], [63], [64]: - Ung thư phổi: thường gặp nhất, gồm 2,1 triệu ca mắc mới, chiếm 11,6% tổng số ung thư và 1,8 triệu ca chết.
Bệnh có mối liên quan chặt chẽ với thuốc lá - Ung thư vú: gồm 2,1 triệu ca mắc mới, chiếm tỷ lệ 11,6%, là bệnh ung thư hàng đầu ở phụ nữ. Có mối liên hệ giữa ung thư vú với lối sống phương Tây. - Ung thư đại tràng: gồm 1,8 triệu ca mắc mới, chiếm tỷ lệ 10,2%, là loại ung thư thường gặp thứ ba, chế độ sử dụng thực ph m khác nhau giải thích cho sự chênh lệch về nguy cơ mắc ung thư này. - Ung thư tuyến tiền liệt: có 1,3 triệu ca mắc mới, chiếm tỉ lệ 7,1%, đứng hàng thứ tư trong các loại ung thư, phổ biến các nước phương tây, hiện chưa biết nhiều về nguyên nhân và bệnh sinh của loại ung thư này.
- Ung thư dạ dày: có khoảng 1 triệu ca mắc mới, chiếm tỉ lệ 5,7%, nguyên nhân chính là do vi khu n Helicobacter pylori, có mối liên quan chặt chẽ với các thức ăn ướp muối như: các loại dưa muối, thịt muối, thịt hun khói… - Ung thư gan nguyên phát: có khoảng 841 ngàn ca mắc mới, chiếm tỷ lệ 4,7%, là bệnh gây tử vong hàng thứ ba trên toàn cầu.