Tổng quan luận án

Văn học trung đại Việt Nam trải qua tiến trình lịch sử khoảng mười thế kỷ, tích lũy hệ thống di sản văn hóa tinh thần phong phú. Trong tiến trình này, giai đoạn thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX đánh dấu bước chuyển biến đáng chú ý khi các nhà nho bên cạnh hoạt động sáng tác đã dành sự quan tâm đặc biệt đến học thuật nói chung và học thuật văn chương nói riêng. Mặc dù công việc sưu tầm, biên định đã xuất hiện từ các thế kỷ trước, giai đoạn này mới thực sự hình thành một thế hệ học giả với quy mô biên soạn hệ thống và bài bản. Trong số đó, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích và Phan Huy Chú là ba tác giả tiêu biểu xác lập diện mạo cho nền học thuật văn chương giai đoạn này.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả luận án chỉ ra xuất phát từ thực tế: các công trình trước đây chủ yếu tìm hiểu riêng rẽ từng tác giả ở các khía cạnh lịch sử, địa lý hoặc từng tập thơ văn cụ thể, chưa đặt ba tác giả trong một hệ thống vận động chung để so sánh, đối chiếu nhằm làm rõ tính kế thừa, tiếp biến và sự phát triển trong tư tưởng học thuật cũng như phương pháp biên định di sản văn chương của họ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ tư tưởng học thuật và phương pháp biên định di sản văn chương của ba tác giả tiêu biểu cho loại hình nhà nho làm học thuật thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX gồm Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích và Phan Huy Chú; qua đó chỉ ra những điểm tương đồng, kế thừa và phát triển trong tư tưởng cũng như phương thức làm việc của ba tác giả.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Nghiên cứu tư tưởng học thuật của ba tác giả Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích và Phan Huy Chú.
  2. Nghiên cứu những bộ tổng tập, tuyển tập và những công trình thư mục học về văn chương của ba tác giả để làm nổi bật tư tưởng học thuật và phương pháp biên định di sản văn chương của họ.
  3. So sánh ba tác giả để làm rõ tính kế thừa và sự phát triển trong việc sưu tầm và biên định di sản văn chương của họ, qua đó làm rõ thêm thành tựu của cả một giai đoạn văn học.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tư tưởng học thuật và sự tác động của tư tưởng đó đến phương pháp biên định di sản văn chương cùng thành tựu học thuật của Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích và Phan Huy Chú.

Phạm vi nghiên cứu được xác định:

  • Về thời gian và không gian: Tập trung vào các trước tác văn học và học thuật thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX tại Việt Nam trong mối liên hệ với không gian văn hóa Đông Á.
  • Về ngữ liệu văn bản: Khảo sát các tuyển tập, tổng tập thơ văn và phần viết về thơ văn trong các công trình thư mục học do ba tác giả sưu tầm, biên soạn. Luận án sử dụng các văn bản dịch chuẩn mực: Toàn Việt thi lục (tập 1-2-3, Mai Quốc Liên chủ biên, NXB Văn học, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2019); Hoàng Việt văn tuyển (tập 1-2-3, Tô Nam Nguyễn Đình Diệm dịch, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, 1972); Hoàng Việt thi tuyển (Trung tâm Nghiên cứu Quốc học chủ biên, NXB Văn học, 2007); Lịch triều hiến chương loại chí (tập 1 đến 6, NXB Trẻ, 2014); cùng các công trình Đại Việt thông sử (thiên "Nghệ văn chí"), Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục, và các tuyển tập thơ văn thời kỳ trước như Việt âm thi tập, Trích diễm thi tập.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm vấn đề:

Các nghiên cứu chung về học thuật văn chương Việt Nam thời trung đại:

  • Giai đoạn trước năm 1945: Các công trình bước đầu tiếp cận như Văn chương thi phú An Nam của Hồ Ngọc Cẩn (1924), Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính (1930), Quốc văn cụ thể của Bùi Kỷ (1932), Việt Nam cổ sử văn học của Nguyễn Đổng Chi (1942), Việt Nam văn học của Ngô Tất Tố (1942), Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (1943). Các nghiên cứu này còn tản mạn, chủ yếu đặt văn học Việt Nam trong mối quan hệ tham chiếu với văn học Trung Quốc.
  • Giai đoạn sau năm 1945 đến nay: Các công trình chuyên sâu nghiên cứu tư tưởng văn học và học thuật trung đại, tiêu biểu như Từ trong di sản - những ý kiến về văn học từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XX ở nước ta do Nguyễn Minh Tấn chủ biên (1981), Người xưa bàn về văn chương của Đỗ Văn Hỉ (1993), 10 thế kỉ bàn luận về văn chương của Phan Trọng Thưởng, Vũ Thanh, Trần Nho Thìn (2008), Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa của Trần Nho Thìn (2008), Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam của Lê Trí Viễn (2001), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX của Nguyễn Lộc (1976), Ý thức văn học cổ Việt Nam trung đại của Đoàn Lê Giang (2001).

Các nghiên cứu về từng tác giả cụ thể:

  • Về Lê Quý Đôn: Các bài viết và chuyên khảo của Văn Tân, Trần Nghĩa, Trần Lê Sáng ("Tìm hiểu đóng góp của Lê Quý Đôn về mặt lí luận văn học"), Mai Quốc Liên ("Lê Quý Đôn nhà bác học lớn, nhà văn lỗi lạc của dân tộc Việt Nam"), Trần Nho Thìn ("Một vài vấn đề đặt ra xung quanh việc phân loại thư tịch của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú"), Trần Thanh Mại ("Vài nét trong quan niệm văn học của Lê Quý Đôn", 1960), Đinh Thị Minh Hằng (luận án về lý luận văn học của Lê Quý Đôn), Phạm Hồng Toàn (Thư mục phân tích tác phẩm của Lê Quý Đôn, 1976; Lê Quý Đôn nhà thư tịch hàng đầu Việt Nam). Về nghiên cứu quốc tế có Vu Hướng Đông (1991, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á - Quảng Châu), Lâm Nguyệt Huệ (2009, nghiên cứu về lý khí trong Vân đài loại ngữ), Lâm Duy Kiệt (2011, nghiên cứu về tư tưởng kinh thế và bác vật học), Tiêu Lệ Hoa (2011, nghiên cứu về thi học Nho gia của Lê Quý Đôn).
  • Về Bùi Huy Bích: Được đề cập trong một số giáo trình và luận văn lịch sử văn học, tuy nhiên số lượng công trình nghiên cứu chuyên sâu về di sản học thuật và hai bộ tuyển tập Hoàng Việt thi tuyển, Hoàng Việt văn tuyển còn tương đối hạn chế so với vị thế của tác giả.
  • Về Phan Huy Chú: Các nghiên cứu của Đặng Thai Mai, Nguyễn Vinh Phúc ("Tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc trong Lịch triều hiến chương loại chí"), Nguyễn Tuấn Thịnh ("Phan Huy Chú - nhà thư tịch lớn"). Các nghiên cứu tập trung nhiều vào giá trị sử học, địa lý học, chưa phân tích toàn diện tư tưởng học thuật và phương pháp thư tịch học tại thiên "Văn tịch chí".

Khoảng trống luận án giải quyết: Luận án định vị và phân tích ba tác giả trong một chuỗi liên tục của tiến trình phát triển học thuật văn chương trung đại, xác lập mô hình loại hình "nhà nho làm học thuật" thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, từ đó chỉ ra quy luật vận động nội tại từ việc sưu tầm tổng hợp (Lê Quý Đôn) sang tinh tuyển (Bùi Huy Bích) và hệ thống hóa bách khoa thư tịch (Phan Huy Chú).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm nền tảng của văn học và học thuật trung đại phương Đông:

  • Giới thuyết các khái niệm: Khái niệm "văn", "văn chương", "văn học" qua các thời kỳ lịch sử văn hóa khu vực Đông Á (tham chiếu các nghiên cứu của N.I. Konrad, B.L. Riftin, Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long, Tiêu Thống trong Văn tuyển, Hàn Dũ, Ban Cố trong Hán thư mục "Nghệ văn chí"). Văn bản chỉ ra sự chuyển dịch từ trạng thái "văn - sử - triết bất phân" và quan niệm văn cử tử sang ý thức phân loại văn bản nghệ thuật.
  • Khái niệm "học thuật văn chương": Xác định đây là hoạt động tìm hiểu, nghiên cứu, phân loại, biên định và biên soạn các tuyển tập, tổng tập, thư mục văn chương; phân biệt rõ giữa tư cách "thi nhân" (người thuần túy sáng tác) và "học giả / nhà trước thuật" (người làm học thuật văn chương có phương pháp, tiêu chí tuyển lựa khách quan).
  • Khung lý thuyết loại hình học tác giả: Tiếp cận tác giả trung đại từ góc độ loại hình nhà nho làm học thuật, gắn liền với trào lưu Thực học (kinh thế trí dụng, bác vật, khảo chứng) phát triển ở khu vực Đông Á và Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu loại hình: Khảo sát ba tác giả dưới tư cách những nhà sưu tầm, biên soạn; phân loại và xác định các đặc trưng của loại hình nhà nho học thuật trong sự biến đổi cơ cấu văn học trung đại.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức văn học sử, văn hóa học, sử học, ngôn ngữ học và thư tịch học Hán Nôm để giải mã các văn bản cổ.
  • Phương pháp so sánh văn học: So sánh đồng đại và lịch đại giữa ba tác giả với nhau và với các tác giả thời kỳ trước (Phan Phu Tiên, Hoàng Đức Lương...) nhằm chỉ ra điểm tương đồng, khác biệt và sự tiếp biến phương pháp.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý các dẫn chứng văn bản, kết hợp thao tác thống kê, lập bảng biểu đối chiếu số lượng tác giả, tác phẩm, thể loại trong các bộ hợp tuyển và thư mục.

Nguồn tư liệu sử dụng gồm các bộ tổng tập, thi tuyển, văn tuyển và các thiên chí thư mục học chính thống bằng chữ Hán cùng các bản dịch quốc ngữ đã được thẩm định khoa học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 tập trung giới thuyết hệ thống khái niệm công cụ và khảo sát lịch sử nghiên cứu. Tác giả làm rõ nội hàm các khái niệm: quan niệm văn chương thời trung đại, khái niệm học thuật văn chương, sự phân hóa giữa người sáng tác và người làm công tác biên định di sản. Chương này phân tích chi tiết tình hình nghiên cứu về văn học trung đại từ trước 1945 đến nay, tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về ba tác giả Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú, từ đó xác lập tính cấp thiết, mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.

Chương 2: Cơ sở hình thành tư tưởng văn học và nền tảng học thuật của Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích và Phan Huy Chú

Chương 2 phân tích các tiền đề lịch sử, tư tưởng và văn hóa định hình nền tảng học thuật của ba tác giả:

  • Tư tưởng, học thuật nước ngoài: Tiếp thu hệ thống kinh điển Nho giáo, học thuật khảo chứng và kinh thế đời Thanh qua các chuyến đi sứ; tiếp nhận bước đầu các tri thức khoa học, địa lý phương Tây qua sách dịch chữ Hán.
  • Lịch sử hình thành và phát triển nền học thuật văn chương Việt Nam trước thế kỷ XVIII: Nhu cầu khôi phục di sản văn hóa sau các biến cố lịch sử (đặc biệt là sự hủy diệt thư tịch của nhà Minh), vai trò mở đường của Phan Phu Tiên (Việt âm thi tập), Hoàng Đức Lương (Trích diễm thi tập).
  • Phong trào Thực học và nhu cầu phát triển học thuật thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX: Ảnh hưởng của khuynh hướng "kinh bang tế thế", "bác vật học", đề cao tính hữu dụng của tri thức, chuyển trọng tâm từ học thuật từ chương sang khảo cứu thực tiễn.
  • Sự xuất hiện của loại hình tác giả nhà nho làm học thuật: Đặc điểm thế hệ nhà nho gắn liền với hoạt động trước thư lập ngôn, tạo nên bước chuyển trong cơ cấu tổng thể của văn học trung đại Việt Nam.

Chương 3: Tư tưởng học thuật và phương pháp biên định di sản văn chương của Lê Quý Đôn và Bùi Huy Bích

Chương 3 đi sâu khảo sát tư tưởng và thao tác biên định của hai tác giả tiêu biểu thế kỷ XVIII:

  • Tư tưởng và phương pháp của Lê Quý Đôn:
    • Tư tưởng văn học đề cao nội dung hiện thực, tính chân thực của tình cảm, chủ trương "tiên khí thức, hậu văn nghệ", văn chương phục vụ quản lý xã hội ("đạo xử trị").
    • Phương pháp biên soạn dựa trên nguyên tắc "lục" (ghi chép trung thực, khách quan) và "biện" (khảo cứu, đính chính, bình luận). Tiêu chí tuyển chọn trong Toàn Việt thi lục mô phỏng quy chuẩn 5 tiêu chuẩn của Lã Đông Lai khi soạn Tống văn giám.
  • Tư tưởng và phương pháp của Bùi Huy Bích:
    • Tiếp thu tư tưởng học thuật của Lê Quý Đôn nhưng có sự chọn lọc hướng vào tính quy phạm và tinh tuyển.
    • Phương pháp biên định thể hiện qua hai công trình: Hoàng Việt thi tuyển (kế thừa Toàn Việt thi lục, chép nối thêm các tác giả từ đời Cảnh Thống về sau) và Hoàng Việt văn tuyển (tổ chức theo mô hình Văn tuyển của Tiêu Thống nhưng có điều chỉnh phù hợp với thực tiễn văn học Việt Nam).

Dưới đây là bảng tổng hợp cấu trúc và quy mô hai bộ thi tuyển tiêu biểu do Lê Quý Đôn và Bùi Huy Bích biên soạn được luận án thống kê, so sánh:

Tiêu chí so sánh Toàn Việt thi lục (Lê Quý Đôn) Hoàng Việt thi tuyển (Bùi Huy Bích)
Quy mô tập sách Bộ tổng tập lớn gồm nhiều quyển, chia theo triều đại Bộ tuyển tập gồm 5 quyển chính và phụ lục
Phạm vi thời gian Từ thời Lý - Trần đến hết thời Lê sơ Từ thời Lý - Trần đến thời Lê - Trịnh (bổ sung từ đời Cảnh Thống trở đi)
Tính chất biên soạn Tính chất "tổng tập" - sưu tầm tối đa các tác phẩm còn lưu lại ("lục") Tính chất "tinh tuyển" - chọn lọc các bài thơ tiêu biểu, chia tiết mục rõ ràng
Thể loại thơ Đa dạng các thể loại cổ phong, cận thể, thơ ngâm vịnh Phân loại theo thể loại và đề tài, chú trọng tính điển phạm
Định hướng học thuật Khảo cứu văn bản, bảo tồn di sản sau biến thiên lịch sử Tuyển chọn phục vụ giáo khoa, tra cứu và thưởng thức văn chương

Chương 4: Tư tưởng học thuật và phương pháp biên định di sản văn chương của Phan Huy Chú

Chương 4 phân tích thành tựu học thuật của Phan Huy Chú ở nửa đầu thế kỷ XIX:

  • Tư tưởng học thuật của Phan Huy Chú: Hình thành từ truyền thống gia đình dòng họ Phan Huy, trải nghiệm thực tiễn qua các chức vụ và chuyến đi sứ, xác lập ý thức độc lập văn hiến ("vô tốn Trung Hoa"), phân định ranh giới rõ ràng giữa tài năng sáng tác văn chương và năng lực khảo cứu học thuật.
  • Phương pháp biên định trong thiên "Văn tịch chí" (Lịch triều hiến chương loại chí):
    • Kế thừa và cải tiến mô hình phân loại thư tịch từ "Nghệ văn chí" của Lê Quý Đôn.
    • Sắp xếp toàn bộ thư tịch cổ Việt Nam thành 4 loại hình nhất quán: Hiến chương, Kinh sử, Thi văn, Truyện ký.
    • Phương pháp khảo tả thư tịch: Ghi rõ tên sách, số quyển, tên tác giả, tóm tắt nội dung, dẫn các bài tựa/bạt quan trọng, ghi chú rõ tình trạng "sách còn" hay "sách mất", kèm lời bình luận thẩm định giá trị văn bản học và giá trị tư tưởng.

Dưới đây là bảng so sánh phương pháp phân loại thư tịch giữa Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú được luận án chỉ ra:

Phương diện đối chiếu "Nghệ văn chí" (Đại Việt thông sử - Lê Quý Đôn) "Văn tịch chí" (Lịch triều hiến chương loại chí - Phan Huy Chú)
Mô hình phân loại Phân chia thành các mục thư tịch dựa trên quy chế cổ Hệ thống hóa thành 4 loại lớn: Hiến chương, Kinh sử, Thi văn, Truyện ký
Quy mô khảo sát Khảo sát thư tịch từ thời Lý - Trần đến thời Lê sơ Khảo sát thư tịch toàn diện từ khởi thủy đến thời Lê mạt - Nguyễn sơ
Xử lý tình trạng văn bản Chép tên sách và lược thuật theo tư liệu hiện còn Nêu đủ tên sách, phân định rõ sách còn hay mất, bổ sung số quyển và tác giả
Phương thức thẩm định Kết hợp ghi chép sự kiện và khảo biện điển cố Lồng ghép lời phê bình, đánh giá giá trị văn học và phương pháp trước thuật

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Luận án xác lập và làm rõ sự tồn tại khách quan của loại hình tác giả "nhà nho làm học thuật văn chương" trong cơ cấu tác giả của văn học trung đại Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX.
  • Chỉ ra quy luật vận động và tiến trình tiếp biến của tư tưởng học thuật và phương pháp biên định di sản văn chương: từ giai đoạn tập đại thành, sưu tầm bảo tồn quy mô lớn của Lê Quý Đôn, qua giai đoạn tinh tuyển thể loại của Bùi Huy Bích, đến giai đoạn tổng hợp phân loại theo mô hình bách khoa thư tịch của Phan Huy Chú.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp hệ thống tư liệu, số liệu thống kê và bảng biểu so sánh cụ thể về cấu trúc văn bản, số lượng tác giả, tác phẩm, thể loại trong các bộ hợp tuyển và công trình thư mục học lớn: Toàn Việt thi lục, Hoàng Việt thi tuyển, Hoàng Việt văn tuyển, Lịch triều hiến chương loại chí (thiên "Văn tịch chí").
  • Phục hồi và khẳng định đúng mức vị trí, đóng góp học thuật của Bùi Huy Bích trong việc biên soạn thi tuyển và văn tuyển; làm rõ đóng góp cách tân trong phương pháp thư mục học của Phan Huy Chú.

Kiến nghị và đề xuất:

  • Kết quả nghiên cứu được đề xuất ứng dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy các chuyên đề văn học trung đại Việt Nam, lịch sử tư tưởng học thuật và văn bản học Hán Nôm tại các trường đại học và viện nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Nghiên cứu tập trung khảo sát ba tác giả tiêu biểu mang tính đại diện (Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú) trong khung thời gian thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX; chưa bao quát toàn bộ các tác giả biên soạn thư tịch khác trong cùng thời kỳ hoặc các giai đoạn sau thế kỷ XIX.
  • Việc đối chiếu văn bản chủ yếu dựa trên các bộ hợp tuyển chữ Hán đã được dịch sang quốc ngữ kết hợp khảo sát văn bản Hán Nôm hiện hành, trong bối cảnh một số dị bản thư tịch cổ vẫn đang trong quá trình tiếp tục chỉnh lý và tranh luận học thuật.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu loại hình nhà nho làm học thuật sang các tác giả thời kỳ Lý - Trần, Lê sơ và giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX.
  • Đi sâu khảo sát toàn diện các văn bản thư tịch cổ Hán Nôm chưa được dịch thuật, đối chiếu sâu hơn với hệ thống loại thư và thư mục học của các nước trong khu vực đồng văn Đông Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Hán Nôm học, Lịch sử Việt Nam và Văn hóa học khi nghiên cứu về lịch sử học thuật và lý luận phê bình văn học trung đại.
  • Các nhà nghiên cứu thư mục học và văn bản học Hán Nôm có thể khai thác hệ thống bảng biểu so sánh, phân loại tác phẩm và phương pháp xử lý văn bản cổ của các học giả thế kỷ XVIII - XIX.
  • Phần đáng tham khảo nhất là Chương 3 và Chương 4 với hệ thống bảng thống kê đối chiếu chi tiết giữa Toàn Việt thi lục với Hoàng Việt thi tuyển, và giữa "Nghệ văn chí" với "Văn tịch chí".

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định vị loại hình "nhà nho làm học thuật văn chương" dựa trên những đặc điểm căn bản nào? Loại hình này được xác định là những học giả Nho học có ý thức vượt lên hoạt động sáng tác ngâm vịnh thuần túy để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, tìm tòi, sưu tầm, phân loại và biên định di sản văn chương của các thế hệ trước. Họ hoạt động với tinh thần khách quan khoa học, có phương pháp làm việc rõ ràng (như phương pháp "lục và biện"), thiết lập các tiêu chí tuyển chọn cụ thể và có ý thức bảo tồn truyền thống văn hiến dân tộc.

2. Bùi Huy Bích đã kế thừa và phát triển công trình của Lê Quý Đôn như thế nào qua Hoàng Việt thi tuyển? Bùi Huy Bích kế thừa nguồn tư liệu đồ sộ từ bộ tổng tập Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn nhưng chuyển đổi từ hình thức "tổng tập" sang "tinh tuyển". Ông phân chia tác phẩm theo các tiết mục cụ thể, chọn lựa các tác phẩm tiêu biểu hơn về mặt nghệ thuật và bổ sung thêm các tác giả, tác phẩm từ thời vua Lê Hiến Tông (niên hiệu Cảnh Thống) cho đến thời đại của ông mà Lê Quý Đôn chưa chép tới.

3. Điểm đổi mới trong phương pháp phân loại thư tịch của Phan Huy Chú tại "Văn tịch chí" so với "Nghệ văn chí" của Lê Quý Đôn là gì? Phan Huy Chú đã hệ thống hóa toàn bộ kho tàng sách vở dân tộc thành 4 loại hình rành mạch: Hiến chương, Kinh sử, Thi văn và Truyện ký. Ông khảo sát quy mô thư tịch rộng hơn, phân định rõ ràng những sách còn nguyên vẹn và những sách đã mất, đồng thời bổ sung số quyển, tên tác giả và viết lời bình luận thẩm định trực tiếp cho từng tác phẩm.

4. Phong trào Thực học đã tác động đến tư tưởng và phương pháp biên định của ba tác giả ra sao? Phong trào Thực học thúc đẩy tư tưởng "kinh thế trí dụng" (học để giúp ích cho đời) và khuynh hướng "bác vật học" (khảo cứu sâu rộng sự vật, hiện tượng). Điều này khiến ba tác giả chú trọng tính xác thực của tư liệu, phản đối thứ văn chương từ chương cử tử sáo rỗng, áp dụng thao tác khảo chứng, đính chính văn bản và ưu tiên ghi chép những tác phẩm phản ánh chân thực đời sống xã hội và thể chế chính trị.

5. Luận án sử dụng những nguồn bản dịch và văn bản ngữ liệu chính nào? Luận án căn cứ vào các bộ sách dịch chuẩn mực gồm: Toàn Việt thi lục (3 tập, Mai Quốc Liên chủ biên, 2019), Hoàng Việt văn tuyển (3 tập, Tô Nam Nguyễn Đình Diệm dịch, 1972), Hoàng Việt thi tuyển (Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2007), Lịch triều hiến chương loại chí (6 tập, NXB Trẻ, 2014), cùng các công trình Đại Việt thông sử, Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục.

Kết luận

Luận án của tác giả Vũ Thị Thanh đã phân tích toàn diện tư tưởng học thuật và phương pháp biên định di sản văn chương của Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích và Phan Huy Chú trong bối cảnh văn hóa thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX. Công trình chỉ ra bước chuyển dịch quan trọng của nền văn học trung đại Việt Nam khi hình thành loại hình nhà nho học thuật với ý thức phương pháp luận rõ ràng trong việc khảo cứu, phân loại và bảo tồn di sản văn hiến. Bằng hệ thống tư liệu Hán Nôm và bảng biểu đối chiếu cụ thể, luận án làm sáng tỏ tính kế thừa, tiếp biến và phát triển liên tục giữa ba học giả, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu văn học sử và thư tịch học nước nhà.