Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thuyết khái niệm Văn học trung đại Việt Nam là giai đoạn văn học để lại nhiều thành tựu rực rỡ trên tiến trình văn học dân tộc. Trong khoảng một nghìn năm hình thành và phát triển, di sản văn học cũng như những quan niệm, tư tưởng về văn học, văn chương, học thuật mà tiền nhân để lại là vô cùng đồ sộ và quý báu. Tuy có những khoảng cách nhất định với khoa học văn chương hiện đại, những quan niệm này lại không phải lúc nào cũng được phát biểu một cách trực tiếp mà tản mát trong những trang viết của người xưa khi sáng tác thơ văn hay viết lời bàn, bạt, tựa cho sách của người cùng thời… nhưng không phải là không có một hệ thống những quan niệm về văn chương và học thuật.
Trân trọng quá khứ, bảo tồn và phát huy những di sản văn chương quý báu của cha ông - những giá trị đặt nền móng cho văn học hiện đại, các nhà nghiên cứu đã lội ngược dòng lịch sử, tìm về quá khứ để “truy tìm” và góp nhặt những giá trị vô giá mà người xưa để lại, bất chấp sự khác biệt của văn tự, của khoảng cách thời gian, không gian và những vênh lệch về văn hóa để mang đến cho hậu nhân một cái nhìn ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn về di sản của tiền nhân. Một trong những thành công của các nhà nghiên cứu hiện đại là đã khám phá ra hệ thống những quan niệm về văn chương, học thuật góp phần làm rõ hơn công việc sáng tác và nghiên cứu văn học của các nhà văn, nhà thơ, nhà học thuật thời trung đại. Hệ thống quan niệm về văn chương, học thuật của người xưa vô cùng rộng lớn và đã được rất nhiều nhà nghiên cứu khám phá thành công. Trong khuôn khổ của luận án này, tác giả chỉ xin được bàn đến những quan niệm khái quát nhất về văn chương, học thuật của cha ông ta để làm cơ sở tiền đề cho bước tiếp theo khi tiếp cận nghiên cứu một loại hình tác gia đặc biệt của thời trung đại - nhà nho làm học thuật văn chương.
Quan niệm văn chương thời trung đại. Trước khi đi vào tìm hiểu tư tưởng và phương thức trước thuật văn chương của Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích và Phan Huy Chú chúng ta không thể không tìm hiểu những quan niệm về văn chương, học thuật thời trung đại ở Việt Nam và những ảnh hưởng từ Trung Quốc, bởi những quan niệm này sẽ chi phối trực tiếp tới các nhà nho làm học thuật ở Việt Nam thời trung đại. 7 Đối với các nhà nho vùng văn hóa Đông Á mà Trung Quốc là trung tâm, ban đầu các khái niệm “văn”, “văn chương”, “văn học” chưa được dùng với nghĩa như hiện nay. Konrad trong bài viết Về khái niệm “Văn” ở Trung Quốc [88, tr.
Riptin (đều là các nhà khoa học người Nga) trong bài viết Thể loại trong văn học Trung Quốc thời trung đại [134, tr.24 - 54] thì từ thời cổ đại đã có khái niệm “văn”, “từ này ổn định nhất và cũng là cổ nhất” (Konrad), sau đó mới xuất hiện thuật ngữ “văn chương” để chỉ các sáng tác văn học. Khái niệm “văn chương” xuất hiện sau nhưng lại cụ thể và phù hợp hơn với khái niệm “văn” theo quan niệm về văn học ngày nay của chúng ta. Trong bài viết của mình Viện sĩ N. Konrad cho rằng chỉ đến thời cận hiện đại, kể từ khi sáng tạo văn học được ý thức một cách vững chắc như là hoạt động của trí tuệ và xếp ngang hàng với các hoạt động khác như triết học, sử học, khảo cổ học… thì khái niệm “văn học” - khái niệm biểu thị lĩnh vực hoạt động trí tuệ sáng tạo nghệ thuật viết văn của con người [88, tr.138] mới mang nội dung khoa học hoàn chỉnh như ngày nay chúng ta quan niệm.
Khái niệm “văn học” được chúng ta sử dụng bao hàm hai nghĩa: 1. Chỉ sáng tác văn học và hoạt động sáng tác văn học. Với nghĩa này, “văn học” và “văn chương” được dùng đôi khi không phân biệt; 2. Chỉ các hoạt động nghiên cứu văn học, coi văn học như một đối tượng khoa học, giống như sử học nghiên cứu lịch sử một dân tộc hoặc toàn thế giới, triết học nghiên cứu lịch sử triết học… Văn học với tư cách là đối tượng của ngành nghiên cứu văn học chỉ thực sự phát triển vào thời kỳ cận hiện đại, ở Việt Nam là bắt đầu từ thế kỷ XX với ảnh hưởng của khoa học phương Tây.
Nhưng điều đó không có nghĩa là bộ môn khoa học này chưa từng có trong thời trung đại. Trong văn học cổ trung đại Trung Quốc, nghiên cứu phê bình văn chương ở dạng sơ khai đã xuất hiện không xa trước Công nguyên, khá phát triển vào thế kỷ V, VI và có nhiều thành tựu vào các giai đoạn lịch sử tiếp theo. Ở Việt Nam từ thế kỷ XV, các tuyển tập văn học, thi thoại và các đề, tựa văn chương đã xuất hiện và có nhiều thành tựu vào thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Để phân biệt với ngành nghiên cứu văn học khá phát triển vào thế kỷ XX, XXI, chúng tôi gọi các hoạt động biên định di sản, nghiên cứu, tìm hiểu văn chương của các nhà nho - học giả thời trung đại là hoạt động học thuật văn chương, các tác giả làm công việc này là nhà nho làm học thuật hay nhà nho học giả.
8 Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu một cách sơ lược khái niệm ‘văn” và “văn chương”, “văn học” trong lịch sử văn học trung đại, để từ đó hiểu rõ hơn quan niệm và công việc của các nhà nho làm học thuật Việt Nam như Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú… trong bối cảnh văn hóa, văn học Đông Á. Như đã nói ở trên, khái niệm ‘văn” xuất hiện từ khá sớm trong lịch sử văn hóa, văn học Trung Quốc. “Văn” là một trong những nội dung giảng dạy (văn, hạnh, trung, tín) của Khổng Tử (551 TCN - 479 TCN). Theo khảo sát sơ bộ của chúng tôi thì trong cuốn Luận ngữ (lời của Khổng Tử được các học trò ghi chép lại) đã xuất hiện các khái niệm “văn”, “văn chương” và cả “văn học”.
Tuy nhiên, nghĩa của các từ này trong Luận ngữ rộng hơn và có phần khác với nội dung khái niệm của các thuật ngữ này khi được các học giả sau này sử dụng. Ví dụ khi Tử Cống hỏi rằng: “Vì sao ông Khổng Văn Tử lại được đặt tên thụy là Văn?”. Khổng Tử nói rằng: “Minh mẫn mà ham học, hỏi người dưới không thẹn, vì thế ông ấy được đặt tên thụy là Văn”1 thì có thể hiểu “văn” là sự minh mẫn, ham học hỏi”. Vẫn sách Luận ngữ, chương “Ung dã” viết: “Khổng Tử nói rằng: “Chất thắng văn chất dã, văn thắng chất tắc sử, văn chất bân bân, nhiên hậu quân tử” (Chất mà trội hơn văn thì thô kệch, văn mà trội hơn chất thì phù phiếm.
Văn và chất đều hài hòa, thì mới là quân tử). Ở đây “văn” lại được hiểu là hình thức (văn sức) của con người. Chất là phẩm chất đạo đức bên trong con người. Người quân tử là người hài hòa giữa văn và chất.
Sau này quan niệm văn học “Văn dĩ tải đạo” cũng nghiêng về việc coi văn là hình thức để chở Đạo, để chở được Đạo thì văn phải đẹp, hấp dẫn. Ở Chương “Thái Bá” có nhắc đến khái niệm “văn chương” nhưng khá xa với nghĩa “văn chương” sau này: trong một đoạn văn ca ngợi công đức của vua Nghiêu, Khổng Tử nói: “Cao vòi vọi là sự thành công của ngài! Rực rỡ thay là văn chương của ngài!”. Chữ “văn chương” ở đây được hiểu là những thể chế và pháp độ được ghi trong Kinh Thi có từ thời vua Nghiêu. Còn ở Chương “Tiên Tiến”, Khổng Tử nói “Những người theo ta qua các nước Trần, Thái nay đều không còn theo học ta nữa.
Về đức hạnh có Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung. Về khoa ngôn ngữ có: Tế Ngã, Tử Cống. Về chính sự có: Nhiễm Hữu, Quý Lộ. Về văn học có: Tử Du, Tử Hạ”.
“Văn học” ở đây có thể có nghĩa là học vấn, là việc am hiểu thơ văn. 1 Ở đây, chúng tôi sử dụng bản Luận ngữ trong cuốn: Chu Hy (1998), Tứ thư ngũ kinh, Nguyễn Đức Lân dịch và chú giải, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội. Các dẫn chứng lấy ở các trang 299, 442. 9 Ở giai đoạn cổ đại và cho đến mãi cuối thời trung đại, khái niệm “văn” có nghĩa rất rộng, thể hiện rõ đặc trưng “văn, sử, triết bất phân” của văn hóa, văn học trung đại.
Tác phẩm Sử ký của Tư Mã Thiên (khoảng 145 - 86 TCN) không chỉ được coi là mẫu mực của các nhà viết sử như Viện sĩ V. Alechseev trong bài viết “Nhà sử học, nhà văn và sự sùng bái” (trích cuốn Bức tranh dân tộc Trung Hoa nổi tiếng của ông) đã viết: “Người ta tiếp tục công việc của Tư Mã Thiên, bút pháp viết sử của ông được chính thức coi là mẫu mực nhất. Và mỗi thời đại lại viết lịch sử của các triều đại trước mình dưới ảnh hưởng của Tư Mã Thiên” [Dẫn lại theo 153, tr.13], mà Sử ký còn được coi là mẫu mực của sáng tác văn học và được các học giả cổ trung đại xếp vào các tuyển tập văn chương. Cho đến thời kỳ sau Công nguyên, Vương Sung (khoảng năm 27 - 100 SCN) vẫn hiểu “văn” theo nghĩa rộng như vậy.
Với ông “văn” không chỉ là Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Xuân Thu và Lễ Kí, nghĩa là hầu như toàn bộ kinh sách Nho giáo, mà còn là tất cả các tác phẩm của Bách Gia, Chu Tử, trong đó có cả luận, thuyết, kí và sớ. Quan niệm này còn tồn tại trong một thời gian dài. Sau này Lưu Hiệp (485 - 520) trong Văn tâm điêu long khi nói về quan niệm “văn” ở giai đoạn này đã viết: “Khắp cả vạn vật, động vật, thực vật đều có văn. Văn cùng trời đất mà sinh ra.
Còn Chương Thái Viêm trong Văn học tổng lược thì cho rằng ở giai đoạn này: “Phàm văn tự ghi trên trúc lụa gọi là văn. Luận về pháp thức của nó gọi là văn học. Tiến thêm một bước, Từ Cán (sinh năm 171 - ?