Tổng quan luận án

Tiếp xúc ngôn ngữ là một hiện tượng phổ biến trong lịch sử phát triển của nhân loại, diễn ra do các hoạt động giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa, thương mại hoặc chiến tranh và di dân. Hệ quả trực tiếp và rõ nét nhất của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ là sự vay mượn từ vựng nhằm đáp ứng nhu cầu định danh các sự vật, hiện tượng và khái niệm mới mà ngôn ngữ bản địa chưa có. Trong hệ thống từ vựng tiếng Hán và tiếng Việt, lớp từ mượn tiếng Anh chiếm một tỷ lệ đáng kể và có tốc độ gia tăng nhanh chóng cùng tiến trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa.

Đối với tiếng Hán, trước thời kỳ cải cách mở cửa, các từ mượn tiếng Anh chủ yếu du nhập qua các phương thức truyền thống như dịch âm, dịch nghĩa, phỏng dịch hoặc kết hợp dịch âm với dịch nghĩa. Từ sau khi thực hiện cải cách mở cửa đến nay, tiếng Hán ghi nhận sự xuất hiện của các tổ hợp chữ cái Latin viết tắt nguyên dạng như OPEC, CPU, CEO, GDP, MBA hoặc các tổ hợp kết hợp giữa chữ cái Latin và chữ Hán như BP 机, IC 卡, ATM 机. Đối với một hệ thống chữ viết tượng hình biểu ý, việc tiếp nhận các đơn vị từ vựng mang ký tự Latin đánh dấu một sự thay đổi lớn về diện mạo văn tự và cấu trúc từ vựng. Tương tự, tiếng Việt trong giai đoạn đổi mới và hội nhập cũng tiếp nhận một khối lượng lớn từ ngữ gốc Anh - Mỹ như WTO, GDP, Internet, Email, photocopy, máy ATM.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là phần lớn các công trình trước đây tại Trung Quốc và Việt Nam chủ yếu là các bài viết chuyên ngành khảo sát từng khía cạnh riêng lẻ như biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp hoặc các hiện tượng Hán hóa, Việt hóa cục bộ. Các công trình nghiên cứu toàn diện, bao quát và tiến hành so sánh đối chiếu có hệ thống giữa tiếng Hán và tiếng Việt về lớp từ mượn tiếng Anh còn rất hạn chế. Đồng thời, các tài liệu và giáo trình giảng dạy chuyên đề về từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán dành cho sinh viên Việt Nam hầu như chưa được xây dựng hoàn chỉnh.

Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo sát, phân tích toàn diện lớp từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán, xác định các đặc trưng, xu hướng biến đổi và ảnh hưởng của chúng đối với hệ thống từ vựng tiếng Hán; trên cơ sở đó tiến hành so sánh đối chiếu với hiện tượng tương ứng trong tiếng Việt để tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt; đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy lớp từ này cho sinh viên Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung chính:

  1. Xác định cơ sở lý thuyết về tiếp xúc ngôn ngữ, các hệ quả tiếp xúc và xác lập giới hạn thuật ngữ "từ mượn", "từ ngoại lai" trong tiếng Hán và tiếng Việt.
  2. Nghiên cứu toàn diện lớp từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán qua các phương diện: bối cảnh lịch sử, phân loại ngữ nghĩa, phương thức vay mượn, quá trình Hán hóa về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp và vấn đề chuẩn hóa.
  3. So sánh, đối chiếu lớp từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán với tiếng Việt trên các bình diện cấu trúc, phân tích nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt; khảo sát thực nghiệm nhận thức và thái độ của sinh viên Việt Nam đối với lớp từ này nhằm đưa ra các đề xuất sư phạm cụ thể.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các đơn vị từ vựng có nguồn gốc vay mượn từ tiếng Anh (bao gồm các đơn vị dưới từ/hình vị, từ đơn, từ phức và cụm từ cố định) trong tiếng Hán phổ thông và tiếng Việt toàn dân. Luận án tập trung khảo sát ở ngôn ngữ cho vay trực tiếp.

Phạm vi nghiên cứu được xác định theo các mốc thời gian:

  • Đối với tiếng Hán: Khảo sát các từ ngữ mượn tiếng Anh xuất hiện từ năm 1840 (mốc Chiến tranh Nha phiến) đến thời điểm nghiên cứu.
  • Đối với tiếng Việt: Khảo sát các từ ngữ mượn tiếng Anh xuất hiện từ năm 1954 đến thời điểm nghiên cứu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn từ vựng đã được nhiều học giả quốc tế và trong nước khảo sát qua các giai đoạn lịch sử khác nhau:

Trên bình diện quốc tế, các công trình đặt nền tảng lý thuyết ban đầu gồm có:

  • Edward Sapir (1921) trong tác phẩm Language: An Introduction to the Study of Speech đã khảo sát sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các ngôn ngữ và quá trình vay mượn văn hóa.
  • Leonard Bloomfield (1933) trong công trình Language đã phân chia các nguồn vay mượn thành ba loại: vay mượn văn hóa (cultural borrowing), vay mượn thân mật (intimate borrowing) và vay mượn phương ngữ (dialect borrowing).
  • Einar Haugen (1950, 1953) với bài báo The Analysis of Linguistic Borrowing và các nghiên cứu tiếp theo đã phân loại các hình thức vay mượn và mô hình tái sinh ngôn ngữ.
  • André Martinet (1950, 1952) với tham luận Diffusion of Language and Structural Linguistics đã đưa ra các luận điểm về động lực biến đổi ngôn ngữ thông qua tiếp xúc.
  • Uriel Weinreich (1953) với tác phẩm Languages in Contact đặt trọng tâm vào môi trường song ngữ và sự tiếp xúc trực tiếp giữa các cá nhân.
  • Sarah Thomason và Terrence Kaufman (1988) trong công trình Language Contact, Creolization and Genetic Linguistics đã mở rộng khái niệm tiếp xúc sang các hình thức gián tiếp qua văn bản viết, phân biệt vay mượn ngôn ngữ (language borrowing) với giao thoa ngôn ngữ (language interference), đồng thời thiết lập mô hình 5 cấp độ vay mượn dựa trên cường độ tiếp xúc.
  • Terence Odlin (1989) trong Language Transfer hệ thống hóa hiện tượng chuyển di ngôn ngữ trên các bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và ngữ dụng.
  • Alice Harris và Lyle Campbell (1995) xem tiếp xúc ngôn ngữ là chất xúc tác cho sự phát triển nội tại của ngôn ngữ.
  • Martin Haspelmath và Uri Tadmor (2009) chủ biên công trình Loanwords in the World’s Languages, trong đó Thekla Wiebusch và Uri Tadmor khảo sát từ mượn trong tiếng Quan Thoại.
  • Jerry Norman (1988) với tác phẩm Chinese nghiên cứu lịch sử phát triển và các phương ngữ tiếng Hán hiện đại.
  • Các công trình khác của Ilse Lehiste (1988), Andrei Danchev (1984), Lisa Lim và Umberto Ansaldo (2016), Mark Donald Hansell (1989), Jean Dubois (1973), Philip Durkin (2014).

Tại Trung Quốc, các nghiên cứu tiêu biểu bao gồm:

  • Trần Vọng Đạo (1934) khẳng định tính tất yếu của việc tiếp nhận từ ngoại lai trong tiếng Hán.
  • Cao Danh Khải và Lưu Chính Đàm (1958) xuất bản Nghiên cứu từ ngoại lai trong tiếng Hán hiện đại, phân tích có hệ thống diện mạo từ mượn ở giữa thế kỷ XX và sự xuất hiện ban đầu của ký tự Latin.
  • Dụ Thế Trường (1984) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu ảnh hưởng qua lại giữa các ngôn ngữ.
  • Hội thảo toàn quốc về ngôn ngữ của Học viện Dân tộc Trung ương (1988) và Hội thảo bàn tròn quốc tế về tiếp xúc ngôn ngữ tại Đại học Thành phố Hong Kong (2000).
  • Sử Hữu Vi với các công trình Sứ giả của các nền văn hóa khác - Từ ngoại lai (1991), Từ ngoại lai tiếng Hán (1999) và Tân Hoa ngoại lai từ từ điển (2019) đã kết hợp phương pháp đồng đại và lịch đại để phân loại, phân tích xu hướng chuẩn hóa từ mượn.
  • Federico Masini (1997, bản dịch của Hoàng Hà Thanh) nghiên cứu từ ngoại lai tiếng Hán thế kỷ XIX.
  • Lương Mẫn (2004), Vạn Hồng (2007), Trần Quang Lỗi (2008), Hứa Uy Hán (1992), Quách Hồng Kiệt (2002) khảo sát các phương thức du nhập, hiện tượng ngữ tố hóa và Latin hóa của từ mượn tiếng Anh.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về tiếp xúc ngôn ngữ và từ ngoại lai gồm có:

  • Bùi Khánh Thế (1973, 2005, 2016) với các công trình về lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và ứng dụng nghiên cứu dân tộc học ngôn ngữ tại Việt Nam.
  • Phan Ngọc và Phạm Đức Dương (1983, 2011) trong Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á phân tích cơ sở lý luận tiếp xúc và ảnh hưởng của ngữ pháp châu Âu đối với tiếng Việt.
  • Nguyễn Văn Khang (2006) với chuyên khảo Từ ngoại lai trong tiếng Việt hệ thống hóa toàn diện các bình diện và phương thức vay mượn từ vựng.
  • Nguyễn Tài Cẩn (1979), Nguyễn Thiện Giáp (1985, 2000), Vương Toàn (1992), Nguyễn Kiên Trường (2005), Lê Quang Thiêm (2003), Hà Quang Năng, Chu Bích Thu (2002), Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang và Vương Toàn (1986).
  • Diệp Tiểu Hoa (2014) thực hiện luận văn cao học khảo sát từ vay mượn gốc Ấn - Âu trong tiếng Hán có so sánh với tiếng Việt.

Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là thực hiện một công trình chuyên sâu, đối chiếu có hệ thống cấu trúc hình thái, ngữ âm, ngữ nghĩa của lớp từ mượn tiếng Anh giữa tiếng Hán và tiếng Việt, làm rõ các biến đổi đặc thù của từ ngữ chứa ký tự Latin, đồng thời gắn kết lý luận ngôn ngữ học tiếp xúc với thực tiễn thụ đắc ngôn ngữ của người học Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết về tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn từ vựng của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước:

  1. Lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và các hệ quả:
  • Khái niệm tiếp xúc ngôn ngữ được xác định là sự tác động qua lại giữa hai hoặc nhiều ngôn ngữ khi cùng tồn tại trong không gian giao tiếp của các cá nhân hoặc cộng đồng. Luận án tiếp thu quan điểm của Thomason và Kaufman (1988) rằng tiếp xúc không chỉ giới hạn ở giao tiếp khẩu ngữ trực tiếp giữa các cá nhân song ngữ mà còn diễn ra gián tiếp qua văn bản viết, các phương tiện truyền thông và mạng Internet.
  • Các hệ quả cơ bản của tiếp xúc ngôn ngữ gồm: giao thoa ngôn ngữ (interference), chuyển mã (code-switching), trộn mã (code-mixing), tiếng bồi (pidgin), hiện tượng quy tụ (convergence), tích hợp (integration), phân li (divergence) và vay mượn ngôn ngữ (borrowing).
  • Phân biệt hai khái niệm: ngôn ngữ cho vay (ngôn ngữ nguồn/donor language/source language) và ngôn ngữ đi vay (ngôn ngữ đích/recipient language/target language).
  1. Các bình diện và phương thức vay mượn từ vựng:
  • Bình diện ngữ âm - chữ viết: Gồm giữ nguyên cách viết và phát âm; giữ nguyên cách viết nhưng thay đổi cách đọc theo ngữ âm bản ngữ; chuyển tự giữa các hệ thống chữ viết khác nhau; phỏng âm (thay đổi cả cách đọc và cách viết cho phù hợp hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ tiếp nhận).
  • Bình diện hình thái - cấu trúc: Gồm giữ nguyên cấu trúc từ; thay đổi cấu trúc/trật tự hình vị cho phù hợp với ngữ pháp ngôn ngữ đích; mượn các phụ tố/ngữ tố để tạo từ mới (như các tiền tố, hậu tố trong tiếng Anh hoặc các yếu tố cấu tạo từ Hán - Việt).
  • Bình diện ngữ nghĩa: Gồm tiếp nhận trọn vẹn toàn bộ các nét nghĩa; tiếp nhận một phần nét nghĩa; phái sinh thêm các nét nghĩa mới; hoặc biến đổi nội dung ngữ nghĩa so với nguyên ngữ.
  • Phương thức vay mượn: Gồm sao phỏng ngữ nghĩa (dịch nghĩa), sao phỏng cấu tạo từ (phỏng dịch), phỏng âm (phiên âm), chuyển tự và mượn nguyên dạng chữ cái Latin.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được thực hiện bằng sự kết hợp của ba phương pháp chính:

  • Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Miêu tả chi tiết diện mạo ngữ âm, hình thái, chữ viết và ngữ nghĩa của các từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: Đối chiếu có hệ thống các điểm tương đồng và khác biệt về bối cảnh lịch sử, phương thức vay mượn, quy luật đồng hóa ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp giữa hai ngôn ngữ.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi đối với sinh viên từ năm thứ hai trở lên thuộc khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm đánh giá khả năng nhận diện, tần số sử dụng và thái độ tiếp nhận đối với từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán.
  • Các thao tác nghiên cứu bổ trợ: Thống kê định lượng, phân loại, giải thích và hệ thống hóa ngữ liệu.

Nguồn tư liệu và ngữ liệu khảo sát của luận án được trích xuất từ các công trình từ điển chuẩn mực và các nguồn văn bản chính thống:

Ngôn ngữ Nguồn ngữ liệu / Từ điển Tác giả / Chủ biên Năm xuất bản Quy mô / Đặc điểm ngữ liệu
Tiếng Hán Từ điển từ ngoại lai tiếng Hán (汉语外来词词典) Cao Danh Khải, Lưu Chính Đàm, Mạch Vĩnh Càn, Sử Hữu Vi 1984 Hơn 10.000 từ mượn xuất hiện từ năm 1980 trở về trước (giai đoạn 1).
Tiếng Hán Đại từ điển từ ngữ mới (新词语大词典) Kháng Thế Dũng, Lưu Hải Nhuận 2006 Hơn 20.000 từ ngữ mới xuất hiện từ sau năm 1978 (giai đoạn 2).
Tiếng Hán Từ điển từ nguyên từ mới tiếng Hán cận hiện đại (近现代汉语新词词源词典) Hiệp hội Ngữ văn Hồng Kông 2001 Hơn 5.000 từ ngữ mới từ đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX.
Tiếng Hán Tân Hoa ngoại lai từ từ điển (新华外来词词典) Sử Hữu Vi 2019 Cập nhật các từ ngữ mượn mới và từ mượn có ký tự Latin; ngữ liệu bổ sung từ Internet.
Tiếng Việt Từ điển từ mới tiếng Việt Chu Bích Thu (chủ biên) 2002 Các từ ngữ và nghĩa mới xuất hiện trong giai đoạn 1985–2000.
Tiếng Việt Từ điển tiếng Việt Hoàng Phê (chủ biên) 2006, 2011 Nguồn đối chiếu chuẩn mực từ vựng tiếng Việt toàn dân.
Tiếng Việt Đại từ điển tiếng Việt Nguyễn Như Ý (chủ biên) 2013 Nguồn đối chiếu chuẩn mực và giải nghĩa từ ngữ tiếng Việt.
Tiếng Việt Báo chí điện tử Tác giả thu thập Khảo sát bổ sung Ngữ liệu từ mượn tiếng Anh mới xuất hiện trên truyền thông.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 1 xác lập hệ thống tiền đề lý luận phục vụ cho toàn bộ đề tài. Tác giả phân tích khái niệm tiếp xúc ngôn ngữ từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, khẳng định tiếp xúc là nguyên nhân bên ngoài quan trọng thúc đẩy sự biến đổi ngôn ngữ. Khảo sát các hệ quả tiếp xúc, chương làm rõ ranh giới giữa giao thoa ngôn ngữ và vay mượn ngôn ngữ, trong đó giao thoa gắn với sự chệch chuẩn của các cá nhân song ngữ, còn vay mượn là sự tiếp nhận các yếu tố ngoại lai vào hệ thống ngôn ngữ bản địa.

Chương 1 phân tích các cấp độ vay mượn theo quan điểm của Thomason và Kaufman (1988), xác định từ vựng là thành phần có tần suất vay mượn cao nhất do tính linh hoạt và ít bị ràng buộc bởi cấu trúc nội tại. Về mặt phân loại, tác giả trình bày cụ thể các bình diện vay mượn (ngữ âm - chữ viết, hình thái - cấu trúc, ngữ nghĩa) và các phương thức vay mượn (sao phỏng ngữ nghĩa, sao phỏng cấu tạo từ, phỏng âm, chuyển tự, mượn nguyên dạng). Đồng thời, tác giả xác định cách sử dụng thuật ngữ "từ mượn" và "từ ngoại lai" trong luận án là các khái niệm có nội hàm tương đương, bao gồm cả đơn vị dưới từ (hình vị), từ đơn, từ phức và tổ hợp từ.

Chương 2: Từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán

Chương 2 tập trung phân tích diện mạo, đặc điểm và quy luật biến đổi của từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán qua các thời kỳ lịch sử:

  1. Bối cảnh xuất hiện và hai cao trào du nhập:
  • Giai đoạn 1 (từ 1840 đến trước 1978): Bắt đầu từ Chiến tranh Nha phiến, từ mượn tiếng Anh du nhập chủ yếu qua con đường dịch thuật văn bản khoa học, tôn giáo và hiệp ước thương mại.
  • Giai đoạn 2 (từ sau cải cách mở cửa năm 1978 đến nay): Gắn liền với sự phát triển kinh tế thị trường, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế, số lượng từ mượn tiếng Anh tăng vọt với tốc độ nhanh.
  1. Thống kê phương thức vay mượn qua hai giai đoạn:
  • Dựa trên dữ liệu từ Từ điển từ ngoại lai tiếng Hán (1984) và Đại từ điển từ ngữ mới (2006), luận án thiết lập Bảng 2.1 và Bảng 2.2 thể hiện sự chuyển dịch rõ rệt về phương thức vay mượn giữa hai thời kỳ:
Giai đoạn lịch sử Phương thức vay mượn ưu thế Đặc điểm cấu trúc và chữ viết
Giai đoạn 1 (trước 1978) (Bảng 2.1, Biểu đồ 2.1) Phỏng âm (dịch âm thuần túy), Dịch âm kết hợp dịch nghĩa, Dịch nghĩa/Phỏng dịch. Sử dụng hoàn toàn chữ Hán biểu ý để ghi âm hoặc dịch nghĩa; triệt để Hán hóa về mặt văn tự.
Giai đoạn 2 (sau 1978) (Bảng 2.2, Biểu đồ 2.2, 2.3) Xuất hiện phương thức mượn nguyên dạng ký tự Latin và cấu tạo từ lai ghép (chữ Hán + ký tự Latin). Tồn tại đồng thời các từ viết tắt nguyên dạng (CEO, GDP, WTO) và từ ghép hỗn hợp (BP机, IC卡, ATM机).
  1. Quá trình Hán hóa lớp từ mượn tiếng Anh:
  • Hán hóa về ngữ âm: Thay thế các âm vị tiếng Anh không có trong tiếng Hán bằng các âm vị Hán ngữ gần nhất; đơn giản hóa các cụm phụ âm đầu và phụ âm cuối bằng cách lược bỏ hoặc chèn thêm nguyên âm để tạo thành các âm tiết đơn lập mang thanh điệu.
  • Hán hóa về ngữ nghĩa: Hiện tượng thu hẹp nghĩa (từ đa nghĩa trong tiếng Anh khi vào tiếng Hán thường chỉ giữ lại một nét nghĩa chuyên biệt); hiện tượng mở rộng nghĩa hoặc phát sinh nét nghĩa mới phù hợp với bối cảnh văn hóa Trung Quốc.
  • Hán hóa về ngữ pháp: Chuyển đổi các từ ngữ đa tiết tiếng Anh thành các ngữ tố có khả năng tham gia cấu tạo từ mới theo các mô hình ngữ pháp tiếng Hán (ngữ tố hóa).
  1. Vấn đề sử dụng và chuẩn hóa:
  • Khảo sát xu hướng sử dụng từ mượn chữ cái Latin trong xã hội Trung Quốc hiện đại; phân tích các nhân tố ngôn ngữ - xã hội và tâm lý xã hội quy định sự lựa chọn từ ngữ.
  • Nêu các nguyên tắc xử lý và chuẩn hóa từ mượn tiếng Hán nhằm bảo vệ tính toàn vẹn của hệ thống văn tự chữ Hán nhưng vẫn đảm bảo tính tiện dụng trong giao tiếp quốc tế.

Chương 3: So sánh từ mượn Anh trong tiếng Hán và từ mượn Anh trong tiếng Việt

Chương 3 tiến hành đối chiếu toàn diện hiện tượng vay mượn từ tiếng Anh giữa hai ngôn ngữ và phân tích kết quả điều tra thực nghiệm:

  1. Những tương đồng và khác biệt giữa tiếng Hán và tiếng Việt:
  • Về bối cảnh: Cả hai ngôn ngữ đều tiếp nhận từ mượn tiếng Anh mạnh mẽ nhất trong giai đoạn đổi mới, cải cách mở cửa và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, tiếng Hán tiếp xúc quy mô lớn sớm hơn (từ 1840), trong khi tiếng Việt tiếp xúc sâu rộng với tiếng Anh chủ yếu từ sau năm 1954 và bùng nổ sau năm 1986.
  • Về phương thức vay mượn (Bảng 3.1, Bảng 3.2): Tiếng Hán có xu hướng ưu tiên dịch nghĩa, phỏng dịch hoặc dịch âm kết hợp dịch nghĩa để tận dụng tính năng biểu ý của chữ Hán; khi mượn nguyên dạng chữ cái Latin thì tạo nên sự xung đột hình thái chữ viết. Ngược lại, tiếng Việt sử dụng hệ chữ viết ghi âm Latin (chữ Quốc ngữ) nên dễ dàng tiếp nhận các từ ngữ tiếng Anh theo hình thức mượn nguyên dạng hoặc phỏng âm có gán thanh điệu.
  • Về quy luật biến đổi ngữ âm (Bảng 3.3): Tiếng Việt và tiếng Hán đều gán thanh điệu cho các âm tiết tiếng Anh không mang thanh điệu; cấu trúc lại các âm tiết khép và cụm phụ âm tiếng Anh cho phù hợp với cơ chế phát âm đơn lập của mỗi ngôn ngữ.
  1. Khảo sát thực nghiệm xã hội học về việc thụ đắc từ mượn tiếng Hán của sinh viên Việt Nam:
  • Kênh thông tin tiếp cận (Biểu đồ 3.1): Sinh viên tiếp cận từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán chủ yếu qua mạng xã hội, phim ảnh, âm nhạc và sách báo, trong khi kênh giáo trình chính quy chiếm tỷ lệ thấp.
  • Khả năng nhận diện (Biểu đồ 3.2): Sinh viên gặp khó khăn trong việc nhận biết các từ mượn được chuyển dịch bằng phương thức phỏng âm thuần túy chữ Hán do sự khác biệt giữa âm đọc Hán - Việt và âm đọc Quan Thoại (Pinyin).
  • Tần số sử dụng và thái độ tiếp nhận (Biểu đồ 3.3, 3.4): Tỷ lệ sử dụng các từ mượn có ký tự Latin ở mức cao do tính ngắn gọn; đa số sinh viên ủng hộ việc đưa nội dung từ mượn vào chương trình giảng dạy chính quy.
  1. Đề xuất sư phạm:
  • Biên soạn nội dung giảng dạy có hệ thống về từ ngoại lai và từ mượn tiếng Anh trong các giáo trình Hán ngữ tại Việt Nam.
  • Hướng dẫn sinh viên nắm vững các quy luật chuyển âm Anh - Hán và cấu trúc tạo từ lai ghép nhằm nâng cao năng lực biên phiên dịch và giao tiếp thực tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Đóng góp về mặt lý luận:
  • Bổ sung và cụ thể hóa lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn từ vựng thông qua cứ liệu đối chiếu giữa hai ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập nhưng sử dụng hai hệ thống chữ viết khác nhau: chữ tượng hình biểu ý (tiếng Hán) và chữ ghi âm Latin (tiếng Việt).
  • Làm sáng tỏ cơ chế tác động của các nhân tố ngôn ngữ - xã hội và tâm lý tiếp nhận ngôn ngữ đối với xu hướng biến đổi của hệ thống từ vựng trong thời kỳ toàn cầu hóa.
  • Phân tích cơ chế "ngữ tố hóa" và sự biến đổi cấu trúc hình thái của các từ ngữ có nguồn gốc tiếng Anh khi nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Hán.
  1. Đóng góp về mặt thực tiễn:
  • Khảo sát và miêu tả có hệ thống diện mạo lớp từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán qua hai giai đoạn lịch sử (trước và sau năm 1978), chỉ rõ sự dịch chuyển từ phương thức dịch âm/dịch nghĩa truyền thống sang phương thức mượn nguyên dạng chữ cái Latin và cấu tạo từ lai ghép.
  • Đưa ra bảng đối chiếu ngữ âm, phương thức vay mượn và cách gán thanh điệu đối với các thuật ngữ, khái niệm tiếng Anh giữa tiếng Hán và tiếng Việt.
  • Đánh giá thực trạng nhận thức của sinh viên chuyên ngành tiếng Hán tại Việt Nam đối với lớp từ mượn tiếng Anh, cung cấp cơ sở thực tiễn để đề xuất cải tiến nội dung giảng dạy ngôn ngữ học và biên phiên dịch.
  • Xây dựng phần phụ lục tra cứu hệ thống hóa các từ mượn tiếng Anh có ký tự Latin trong tiếng Hán và các từ mượn tiếng Anh thường gặp trong tiếng Việt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án xác định các điểm giới hạn dựa trên phạm vi nghiên cứu:

  • Luận án chỉ tập trung khảo sát ở ngôn ngữ cho vay trực tiếp (tiếng Anh), chưa thể truy nguyên triệt để nguồn gốc lịch sử của các từ ngữ được du nhập theo con đường "mượn của mượn" qua các ngôn ngữ trung gian khác do giới hạn về nguồn tư liệu.
  • Về mặt thời gian, luận án giới hạn phạm vi khảo sát từ năm 1840 đối với tiếng Hán và từ năm 1954 đối với tiếng Việt.
  • Mẫu khảo sát điều tra xã hội học chỉ mới thực hiện đối với bộ phận sinh viên từ năm thứ hai trở lên thuộc khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng ra các cơ sở đào tạo khác trên toàn quốc.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra gồm:

  • Mở rộng khảo sát nguồn gốc từ nguyên của các từ ngoại lai du nhập gián tiếp qua các ngôn ngữ cầu nối.
  • Mở rộng phạm vi điều tra xã hội học đối với các nhóm đối tượng người sử dụng ngôn ngữ đa dạng hơn trong xã hội (như giới nghiên cứu, dịch giả, người đi làm).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị đối với các đối tượng cụ thể:

  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Cung cấp khung lý thuyết và nguồn ngữ liệu thực chứng về ngôn ngữ học tiếp xúc, ngôn ngữ học so sánh đối chiếu Hán - Việt, lịch sử từ vựng học tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại.
  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp phương pháp luận kết hợp giữa miêu tả ngôn ngữ học, so sánh đối chiếu và điều tra xã hội học trong nghiên cứu từ vựng học.
  • Sinh viên chuyên ngành Hán ngữ: Giúp nâng cao khả năng nhận diện, phân tích và sử dụng chính xác các từ ngữ gốc Anh và từ ngữ chứa ký tự Latin trong tiếng Hán.
  • Người làm công tác biên phiên dịch và biên soạn từ điển: Phần phụ lục thống kê đối chiếu các từ ngữ mượn tiếng Anh là tài liệu tra cứu hữu ích phục vụ công tác chuẩn hóa thuật ngữ và biên dịch tài liệu đa ngữ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Phạm vi thời gian khảo sát ngữ liệu từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt của luận án được xác định như thế nào?
    Luận án xác định phạm vi khảo sát đối với tiếng Hán là từ năm 1840 (Chiến tranh Nha phiến) đến năm 2021; đối với tiếng Việt là từ năm 1954 đến năm 2021.

  2. Sự khác biệt căn bản về phương thức tiếp nhận từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán trước và sau năm 1978 là gì?
    Trước năm 1978, tiếng Hán tiếp nhận từ mượn tiếng Anh chủ yếu qua phỏng âm (dịch âm), dịch nghĩa, phỏng dịch hoặc dịch âm kết hợp dịch nghĩa bằng chữ Hán. Sau năm 1978 (cải cách mở cửa), tiếng Hán xuất hiện thêm phương thức mượn nguyên dạng các tổ hợp chữ cái Latin (như CEO, GDP) và cấu tạo từ lai ghép giữa chữ Hán với chữ cái Latin (như BP机, IC卡, ATM机).

  3. Luận án sử dụng các nguồn từ điển chính nào để thu thập ngữ liệu tiếng Hán và tiếng Việt?
    Đối với tiếng Hán: Từ điển từ ngoại lai tiếng Hán (Cao Danh Khải, Lưu Chính Đàm, 1984), Đại từ điển từ ngữ mới (Kháng Thế Dũng, Lưu Hải Nhuận, 2006), Từ điển từ nguyên từ mới tiếng Hán cận hiện đại (Hiệp hội Ngữ văn Hồng Kông, 2001) và Tân Hoa ngoại lai từ từ điển (Sử Hữu Vi, 2019). Đối với tiếng Việt: Từ điển từ mới tiếng Việt (Chu Bích Thu, 2002), đối chiếu với Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2006/2011) và Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý, 2013).

  4. Đối tượng nào được lựa chọn tham gia khảo sát trong phương pháp điều tra xã hội học của luận án?
    Đối tượng khảo sát là các sinh viên từ năm thứ hai trở lên đang theo học tại khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Luận án phân chia quá trình vay mượn từ vựng thành các bình diện nào?
    Luận án xác định ba bình diện vay mượn cơ bản: bình diện ngữ âm - chữ viết, bình diện hình thái - cấu trúc và bình diện ngữ nghĩa.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Hương Trà đã nghiên cứu có hệ thống và toàn diện hiện tượng vay mượn từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Hán, đồng thời tiến hành so sánh đối chiếu với tiếng Việt trên các bình diện ngữ âm, cấu trúc, ngữ nghĩa và chữ viết. Công trình đã làm rõ sự biến chuyển phương thức tiếp nhận từ mượn của tiếng Hán trong bối cảnh toàn cầu hóa, đặc biệt là sự xuất hiện của các từ ngữ chứa ký tự Latin. Kết quả nghiên cứu kết hợp giữa lý luận tiếp xúc ngôn ngữ và điều tra thực nghiệm xã hội học mang lại cơ sở khoa học tin cậy, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ học so sánh đối chiếu và nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Hán cho người Việt Nam.