Chương 1 LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1. Khái niệm định tội danh Quan điểm thứ nhất, cho rằng: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” [45, tr. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của BLHS hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện” [15, tr. Tuy nhiên, theo tác giả, khái niệm định tội danh cần phải bao hàm được những nội dung như: chủ thể trực tiếp thực hiện, cách thức tiến hành và kết quả của định tội danh được thể dưới hình thức nào.
Tiếp thu những yếu tố hợp lý trong các quan điểm nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm định tội danh như sau: Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận, dạng hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu được thu thập theo quy định của pháp luật và các tình tiết thực tế của vụ án để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật hình sự quy định và kết luận hành vi nguy hiểm cho xã hội đó có phạm tội hay không, nếu có thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều luật nào của BLHS, 9 luan an được thể hiện thông qua các văn bản áp dụng pháp luật tương ứng với các giai đoạn định tội danh. Phân loại Căn cứ vào chủ thể tiến hành định tội danh và hậu quả của việc định tội danh, có thể phân chia định tội danh đối với mua bán trái phép chất ma túy làm hai dạng tương ứng là: định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức. - Định tội danh chính thức: Định tội danh chính thức đối với tội mua bán trái phép chất ma túy là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, và Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, trong hoạt động đấu tranh với tội phạm mua bán trái phép chất ma túy. Đặc điểm cơ bản của hình thức định tội danh này như sau: - Thứ nhất, đây là hoạt động mang tính tổ chức – quyền lực Nhà nước.
Chủ thể tiến hành hình thức định tội danh này được Nhà nước quy định rõ trong BLTTHS. - Thứ hai, được tiến hành trong tất cả các giai đoạn tố tụng, từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Trường hợp xác định có dấu hiệu tội mua bán trái phép chất ma túy thì phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy. Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ, căn cứ khởi tố, điều khoản của BLHS áp dụng và họ tên, chức vụ người ra quyết định.
Các quyết định sau đó như khởi tố bị can, bản kết luận điều tra, cáo trạng và bản án đều phải thể hiện chính thức quan điểm chính thức của người tiến hành tố tụng về tội mua bán trái phép chất ma túy trong đó. - Thứ ba, hậu quả của hình thức định tội danh này là việc xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội như hình phạt, các biện pháp tư pháp.cũng như những biện pháp cưỡng chế khác trong quá trình điều tra, 10 luan an truy tố, xét xử như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú.đều có liên quan đến hoạt động định tội danh chính thức. Mặc dù định tội danh chính thức do nhiều chủ thể có thẩm quyền tiến hành song chỉ duy nhất Tòa án mới có thẩm quyền đưa ra kết luận cuối cùng về việc bị cáo có phạm tội mua bán trái phép chất ma túy trong bản án có hiệu lực pháp luật, là văn bản định tội danh cuối cùng, chính thức khẳng định về tội danh đối với người mua bán trái phép chất ma túy. - Định tội danh không chính thức đối với tội phạm về ma túy là hình thức định tội danh do các chủ thể không đại diện cho Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra không phải là sự đánh giá chính thức về mặt nhà nước, không được thể hiện trong các văn bản tố tụng và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của đối tượng bị định tội danh.
Phân biệt khái niệm “Định tội danh” và “Định tội” Liên quan đến khái niệm “Định tội danh” (ĐTD), có một khái niệm rất gần và dễ gây nhầm lần là “Định tội” (ĐT). Giữa hai khái niệm có mối quan hệ mật thiết với nhau, đều nằm trong một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự để đi tới sự thật khách quan của vụ án, vụ việc. Trong đó, định tội là giai đoạn đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động ĐTD, nó quyết định việc có phát sinh ĐTD hay không, nói cách khác nó quyết định có phát sinh các hoạt động tố tụng tiếp theo như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, truy tố. Đây là hai hoạt động có mối quan hệ mật thiết với nhau, hoạt động này là tiền đề của hoạt động kia (định tội là tiền đề của định tội danh), hỗ trợ nhau, cùng nằm trong một tổng thể quá trình tố tụng, nhằm làm sáng tỏ bản chất của vụ việc đã xảy ra có dấu hiệu tội phạm không, nếu có thì đó là tội gì, được quy định như thế nào trong BLHS.
Như vậy, giữa hoạt động định tội và ĐTD có thể phân biệt như sau: 11 luan an Định tội là hoạt động nhận thức lý luận logic và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra. Còn ĐTD là hoạt động tiếp theo của định tội, của cơ quan, người có thẩm quyền nhằm xác định hành vi phạm tội là tội gì, quy định tại điểm, khoản, điều luật nào của Bộ luật hình sự, thông qua việc phân tích các dấu hiệu của CTTP như hành vi khách quan có biểu hiện như thế nào, xâm phạm đến khách thể thông qua đối tượng tác động như thế nào, chủ thể có dấu hiệu đặc biệt (chủ thể đặc biệt) không, lỗi của người phạm tội có phù hợp với tội danh dự kiến áp dụng với người phạm tội hay không? Kết quả của việc này là người định tội danh phải “đặt tên” cho hành vi phạm tội, và “tên gọi” của hành vi phạm tội phải là tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự, đây là hoạt động bắt buộc, bởi pháp luật hình sự nước ta chỉ truy cứu TNHS với người phạm một tội được Bộ luật hình sự quy định, đây là biểu hiện của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, việc phân biệt này chỉ có nghĩa về mặt lý luận bởi thực tiễn thì trong hoạt động ĐTD đã bao hàm cả hoạt động định tội, bởi phải có định tội thì mới có hoạt động ĐTD. Tội mua bán trái phép chất ma túy 1.
Khái niệm Dưới góc độ pháp lý, BLHS năm 2015 chưa đưa ra định nghĩa thế nào là mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, tại Điều 8 BLHS năm 2015 đã đưa ra khái niệm pháp lý của tội phạm. Tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại chương XX, Điều 251 BLHS năm 2015, hành vi xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, được thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, tuy thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội, có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn xử sự khác, phù hợp 12 luan an với đòi hỏi của xã hội nhưng họ vẫn thực hiện và mong muốn hậu quả đó xảy. Trên cơ sở phân tích nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm tội mua bán trái phép chất ma túy như sau: Tội mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trao đổi trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy của Nhà nước.
Các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái phép chất ma túy * Khách thể của tội phạm Trong luật hình sự Việt Nam, đối tượng bị tội phạm hướng tới gây thiệt hại được gọi là khách thể của tội phạm. Trong đó, khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm cụ thể xâm hại mà sự xâm hại này phản ánh được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đó [29, tr. Theo đó, khách thể trực tiếp của tội mua bán trái phép chất ma túy là chế độ độc quyền và thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Để gây thiệt hại cho khách thể trên, thì chủ thể tội phạm phải tác động và đối tượng tác động của tội phạm, qua đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
Đối tượng tác động của tội phạm này là các chất ma túy và các nguyên liệu thực vật có chứa chất ma tuý [46; tr18]. “Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành” [24], [5]. Ngoài ra, các chất ma túy được quy định trong các danh mục do chính phủ Việt Nam ban hành được thể hiện tại Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 Nghị định Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.